VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN CHANH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO
THỂ THAO QUẦN CHÚNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN CHANH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO
THỂ THAO QUẦN CHÚNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRƯƠNG THỊ NHƯ YẾN
chúng
......................................................................................................... 41
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
PHONG TRÀO THỂ THAO QUÀN CHÚNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM .................................................................. 44
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Nông
Sơn, tỉnh Quảng Nam........................................................................................... 44
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển thể thao quần chúng tại huyện
Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam................................................................................. 48
2.3. Đánh giá chung về thực hiện chính phát triển phong trào thể thao quần
chúng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam....................................... 50
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO THỂ THAO
QUẦN CHÚNG TẠI HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM ............. 58
3.1. Quan điểm chỉ đạo, định hướng và những mục tiêu chủ yếu của chính sách
phát triển phong trào thể thao quần chúng .......................................................... 58
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách phát triển phong trào thể thao quần chúng .................................................. 62
3.3. Một số kiến nghị ........................................................................................... 68
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TDTT
HLV
Huấn luyện viên
CSVC
Cơ sở vật chất
HCV
Huy chương vàng
HCB
Huy chương bạc
CLB
Câu lạc bộ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu tất yếu đối với tất cả
các nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực, do đó đòi hỏi nền giáo dục
và toàn xã hội phải đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
một huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh
tế - xã hội của huyện đã từng bước phát triển, việc thực hiện các chính sách của
Đảng và Nhà nước về TDTT trên địa bàn huyện đã được quan tâm thường
xuyên, qua đó phong trào TDTT phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu
đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình thực
hiện chính sách phát triển TDTT của huyện còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế: cơ
sở vật chất (CSVC) tuy đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được nguyện vọng
và yêu cầu tập luyện của quần chúng nhân dân nhất là ở cơ sở và cơ quan ban
ngành (chỉ mới đầu tư cho Trung tâm TDTT các huyện, thành phố); công tác
phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể về thực hiện chính sách vẫn còn những
hạn chế; chính sách về chế độ đãi ngộ dành cho VĐV thể thao thành tích cao, có
tài năng đặc biệt chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng “chảy máu”
tài năng thể thao; công tác đào tạo VĐV còn nhiều bất cập. Từ thực trạng nêu
trên, chúng tôi chọn đề tài “Chính sách phát triển phong trào thể thao quần
chúng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn
thạc sĩ Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có nhiều công trình tiếp cận ở nhiều
góc độ khác nhau như:
Tác giả Nguyễn Ngọc Khuê (2018), Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu một số
giải pháp nhằm phát triển TDTT tỉnh Phú Yên” Trên cơ sở đánh giá, phân tích
2
thực trạng hoạt động và các nguyên nhân ảnh hưởng đến TDTT của tỉnh Phú
Yên để làm rõ những hạn chế, yếu kém trong công tác TDTT để đưa ra các giải
pháp pháp phù hợp góp phần vào quá trình xây dựng và phát triển TDTT tỉnh
Phú Yên.
Tác giả Phạm Nhật Kỳ (2016), Luận văn Thạc sĩ "Nghiên cứu giải pháp
- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển tại phong trào thể thao
quần chúng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện chính sách phát triển phong trào thể
thao quần chúng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phát triển phong
trào thể thao quần chúng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về thực hiện chính sách
phát triển thể thao quần chúng ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi thời gian: chủ yếu của đề tài là 5 năm, từ năm 2013 đến năm
2017 nhằm đánh giá kết quả đạt được và chưa đạt được để thấy rõ những thuận
lợi, khó khăn của việc chưa ban hành chính sách và bước đầu tổ chức triển khai
thực hiện chính sách phát triển thể thao của huyện Nông Sơn trong giai đoạn
này. Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu định hướng thực hiện chính sách phát
triển thể thao ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam đến năm 2025 là tìm ra
nguyên nhân của kết quả để có các giải pháp định hướng phát triển chính sách
phát triển phong trào thể thao quần chúng của huyện Nông Sơn, tỉnh Quang Nam
trong thời gian đến.
- Đề tài tập trung nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách phát triển
thể thao quần chúng ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam từ năm 2013 đến nay
và đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách phát triển thể thao quần chúng của
huyện đến 2025
4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vẫn đề lý luận về chính sách phát triển phong trào thể
thao quần chúng.
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển phong trào thể thao quần chúng
tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả chính sách phát triển
phong trào thể thao quần chúng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN PHONG
TRÀO THỂ DỤC, THỂ THAO QUẦN CHÚNG
1.1. Thực hiện chính sách công
1.1.1. Khái niệm chính sách công
Chính sách là những hành vi ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại
trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
- Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của chính quyền trực tiếp hay
gián tiếp tác động đến cuộc sống của mọi người.
- Khác với hai quan niệm trên, TS. Đặng Ngọc Lợi trong bài viết đăng trên
Tạp chí Kinh tế và dự báo (số tháng 1 năm 2012) tuy không đưa ra định nghĩa về
chính sách công nhưng cho rằng chính sách công là chính sách của Nhà nước,
của Chính phủ (do Nhà nước, do Chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính
sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước. So với các quan niệm trên
thì điểm khác căn bản trong cách tiếp cận nhận thức về chính sách công là tính
công của chính sách, tính công thể hiện trong quan niệm của TS. Đặng Ngọc Lợi
là Nhà nước, Chính phủ, khác với quan niệm của các học giả Âu Mỹ xem tính
công của chính sách là công cộng (công chúng, đối tượng chịu sự điều chỉnh, tác
- Khẳng định tính đúng đắn của chính sách công. Quá trình ra đời một
chính sách công là hoạch định. Bởi vậy, chính sách công đó có thực sự đúng đắn
hay không chỉ nhận thấy ở thực thi chính sách công. Thực thi chính sách công
cung cấp những bằng chứng thực tiễn về mục tiêu chính sách công có thích hợp
hay không và các giải pháp chính sách công có thực sự phù hợp với vân để mà
nó hướng tới giải quyết hay không, về phương diện lý thuyết, một chính sách
công được ban hành đã phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn của một chính
sách công tốt và mới chỉ được thừa nhận bởi các chủ thể ban hành, nhưng khi
triển khai vào thực tiễn đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của chính sách công
mới được khẳng định một cách chắc chắn bởi xã hội và đối tượng thụ hưởng
chính sách công.
8
- Thực thi chính sách công để hoàn thiện hơn. Ban hành chính sách công
ban đầu hay chính sách cơ sở thường chỉ mang tính lâu dài về giải pháp để giải
quyết vấn đề công. Chính sách công này sẽ được cơ chế cho phù hợp với tình
hình, thực tế cụ thể trong quá trình thực thi của các cơ quan nhà nước. Nhìn thấy
mục tiêu và giải pháp chính sách công ban đầu, thủ tục hoặc chương trình, dự án
để các tiêu chí đánh giá cho phù hợp với điều kiện thực thi chính sách. Vì thế,
mối quan hệ hữu cơ giữa giai đoạn hoạch định chính sách, việc phân biệt giữa
chính sách công và hoạch định cho phù hợp.
1.1.2.3. Mục tiêu thực hiện chính sách công
- Hiện thực hóa chính sách công
Chính sách công là chính sách của nhà nước nhằm thực hiện chức năng
quản lý các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của mình vì mục tiêu
bảo vệ địa vị thống trị. Do vậy, việc thực thi chính sách công là chuyển tải ý đồ
của giai cấp cầm quyền, giai cấp lãnh đạo thông qua nhà nước bằng sức mạnh
cưỡng chế. Trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
làm giàu, mà còn rất cần các nhu cầu về chất, về đời sống tinh thần. Nhưng
chúng ta không thể cùng một lúc đáp ứng mọi nhu cầu trong điều kiện xã hội
chưa phát triển. Đảng ta xác định trong hoàn cảnh đất nước hiện nay, trước tiên
cần phát triển kinh tế để đáp ứng những nhu cầu bức xúc của nhân dân, coi đó là
nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa. Lấy phát triển
kinh tế làm động lực thúc đẩy các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội hướng tới
mục tiêu phát triển toàn diện của con người. Khi cơ sở kinh tế được đảm bảo tốt
sẽ cho phép phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, vui chơi giải trí và bảo vệ
môi trường v.v…
Cũng tương tự như vậy với việc chọn giáo dục là quốc sách hàng đầu trong
hệ thống chính sách của Nhà nước ta, bởi phát triển giáo dục sẽ nâng cao được
dân trí, đào tạo được nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trong thời đại
phát triển kinh tế tri thức như hiện nay người dân phải có trình độ văn hóa cao,
năng lực chuyên môn giỏi để nắm bắt và ứng dụng được những kỹ thuật, công
nghệ hiện đại vào đời sống kinh tế – xã hội, mới có thể làm giàu cho mình và
10
cho đất nước.
Như vậy, mục tiêu của quốc gia mang là mục tiêu chiến lược, lâu dài thì
mục tiêu của các chính sách công là mục tiêu chiến thuật, ngắn hạn. Mục tiêu
của các chính sách công phải từng bước thực hiện mục tiêu của quốc gia.
- Thẩm định kết quả của chính sách công
Thế giới quan triết học Mác-Lênin đã khẳng định nhân đạo đến mấy, ý
tưởng dù hay đến mấy, tốt đến mấy, thì đều trở thành không tưởng nếu nó không
được thực hiện một cách chặt chẽ.
Phản ánh nhu cầu chính sách là vấn đề của xã hội đòi để giải quyết mâu
thuẩn đã phát sinh. Ta thấy mục đích nhu cầu đó là chính đáng và bức xúc phải
cần được thỏa mãn để xã hội ổn định, phát triển là vấn đề chính sách công đó lúc
cộng đồng người dân, các nguyên tắc phục vụ công dân và nó là nó sẽ là những
tác động ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng thụ hưởng chính sách.
- Nguyên tắc quản lý và bắt buộc:
Nguyên tắc phải đảm bảo việc thực hiện chính sách công với mục tiêu
chính sách đã đặt ra. Tuy nhiên, hình thức và mức độ chế tài để đảm bảo được
thực hiện phải cân nhắc, biện pháp mà quá mạnh hay quá yếu đều ảnh hưởng đến
chính sách.
- Nguyên tắc hệ thống:
Chính sách công bao giờ cũng là một tâp hợp các quyết định kèm theo là
hành động của các bên nhà nước, có thể là người dân và doanh nghiệp chứ
không phải là hành động đơn lẻ, hệ thống này bao gồm:
+ Xuất hiện nhu cầu của cộng đồng về chính sách công.
+ Quyết định chính sách.
+ Công bố chính sách.
+ Triển khai thực hiện chính sách công.
+ Đánh giá hiệu quả các chính sách công.
Nhu cầu của cộng đồng phải thể hiên qua: tính phổ biến, hợp lý và khả
năng thông tin, sự quan tâm của các nhà chính trị.
Khi công bố chính sách công của người có thẩm quyền về thủ tục dưới
12
dạng văn bản hay thông tin chính thức. Thực hiện và quản lý chính sách công là
hoạt động đưa chính sách công đến cộng đồng người dân và giám sát quá trình
thực thi chính sách công, đảm bảo đúng mục tiêu, đối tượng, định hướng, thời
gian và kinh phí thực hiện.
- Nguyên tắc tập hợp các quyết định:
Chính sách công là tập hợp các quyết định, vấn đề là cần phân biệt quá
trình làm chính sách với làm quyết định của chính quyền. Một khâu trong quá
một nhóm cụ thể nào đó có địa vị và tình trạng pháp lý tương đương nhau ở các
khía cạnh nhất định. Những khía cạnh đó có thể là quyền dân sự - chính trị,
quyền sở hữu tiếp cận đối với các hàng hóa và dịch vụ.
Công bằng xã hội còn là nguyên tắc phân phối các lợi ích, thước đo của
chúng là sự bình đẳng trong các mối quan hệ giữa hưởng thụ và cống hiến.
1.1.2.5. Nội dung thực hiện chính sách công
a. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách công
Việc xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện vấn đề về chính sách công
trong quá trình tổ chức thực thi chính sách công là quá trình rất phức tạp, diễn ra
trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, chương trình để các
cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động hoàn toàn.
b. Phổ biến, tuyên truyền chính sách công
Trong khi kế hoạch triển khai thực hiện đã được thông qua, thì cơ quan nhà
nước mới tiến hành triển khai kế hoạch để tổ chức thực hiện. Qúa trình tuyên
truyền là quá trình rất quan trọng để vận động quần chúng tham gia thực hiện
chính sách công. Đây là một hoạt động có ý nghĩa rất lớn quan trọng đóng vai trò
chủ thể để các đối tượng thực hiện chính sách. Phổ biến, tuyên truyền chính sách
là tốt giúp cho chúng ta hiểu được quyền lợi của các đối tượng chính sách và mọi
người dân hiểu được yêu cầu, mục đích của chính sách; về tính chính sát của
chính sách trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể; và về tính bền vững của chính
sách... để mọi người phải tự giác thực hiện theo yêu cầu của nhà nước.
c. Phân công, phối hơp thực hiện chính sách công
Sau khi tuyên truyền, phổ biến là phân công, phối hợp các đơn vị, cơ quan
14
để tổ chức thực hiện chính sách công theo kế hoạch đã được phê duyệt. Chính
sách công đùa hỏi phải đảm bảo tính kha học và nó được mô tả ở nhiều khía
cạnh khác nhau, vì vậy số lượng cá nhân và tổ chức được tham gia thực thi chính
thể dục thể thao quần chúng là nhân dân, trong đó bao gồm có nam, nữ, già, trẻ,
những người thương tật. Thể dục Thể thao quần chúng là một hoạt động tập
luyện và vui chơi giải trí, thi đấu thể thao của các đối tượng nhân dân nhằm thỏa
mãn nhu cầu giữ gìn sức khỏe, tăng cường thể chất và tinh thần của bản thân, tập
luyện để thảo mãn như cầu của bản thân, bằng mọi phương tiện, bài tập, dưới
mọi hình thức, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh [21].
1.2.3. Phong trào thể thao quần chúng
Phong trào thể thao quần chúng là phong trào xã hội có tính bền vững của nhân
dân tập Thể dục thể thao tự giác để thỏa mãn nhu cầu bản thân bằng mọi phương tiện,
bài tập, dưới mọi hình thức tổ chức, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh.
1.2.4. Nội dung của chính sách phát triển phong trào thể thao quần
chúng
Phát triển phong trào TDTT là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta và phong trào thể dục quần chúng đã phát triển mạnh mẻ trên cả nước. Từ đó
tới nay, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển phong
trào TDTT đã được ban hành và nó trở thành “một yêu cầu khách quan, là một
bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và
nâng cao sức khỏe, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, góp
phần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế- xã hội, an
ninh và quốc phòng của đất nước”. [6]
Chính sách phát triển thể dục, thể thao được quy định cụ thể của luật thể
thao như sau:
- Phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khoẻ, thể lực,
tầm vóc người Việt Nam, góp phần cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho
nhân dân, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về thể thao, nâng cao sự hiểu biết
giữa các quốc gia, dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp thể dục, thể
16
- Sân tập thể thao;
- Nhà tập luyện, thi đấu thể thao;
17
- Bể bơi;
- Các công trình thể dục, thể thao khác.
b) Ủy ban nhân dân các cấp bảo đảm nguồn lực để xây dựng các công trình
thể thao công cộng tại địa phương theo quy định sau:
- Mỗi thôn, làng, ấp, bản phải có sân tập thể thao đơn giản;
- Mỗi xã, phường, thị trấn phải có ít nhất một công trình thể dục, thể thao
quy định tại điểm a khoản này;
- Mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
cấp huyện) phải có ít nhất hai trong các công trình thể dục, thể thao cấp huyện:
sân vận động, bể bơi, nhà tập luyện thể thao;
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải có các công trình thể dục,
thể thao cấp tỉnh: sân vận động, bể bơi, nhà thi đấu thể thao.
4. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thể dục, thể thao
trong các lĩnh vực sau:
a) Xây dựng, khai thác các công trình thể dục, thể thao công cộng;
b) Thành lập các câu lạc bộ thể dục, thể thao quần chúng;
c) Phổ biến, hướng dẫn và tổ chức cho mọi người tham gia tập luyện thể
dục, thể thao;
d) Giúp đỡ, hỗ trợ để người khuyết tật tham gia hoạt động thể dục, thể thao;
xây dựng chương trình bài tập và hướng dẫn người khuyết tật tập luyện; đầu tư
nghiên cứu và sản xuất các dụng cụ, trang thiết bị phục vụ người khuyết tật tập
luyện, thi đấu thể dục, thể thao;
đ) Giúp đỡ, hỗ trợ để người cao tuổi tham gia hoạt động thể dục, thể thao; phổ
biến các phương pháp tập luyện cho người cao tuổi; phối hợp với Hội người cao
1.2.5.1. Quan điểm của Đảng về chính sách phát triển thể thao quần chúng
Công tác TDTT có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức khoẻ của
nhân dân, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần, xây dựng lối
sống lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội. Đảng ta luôn coi phát triển TDTT là một
bộ phận quan trọng thuộc chính sách xã hội.
Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển TDTT mà chúng ta đã
19