ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HƯỜNG
QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP CÔNG ĐOÀN
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử NN&PL
Mã số
: 60.38.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Minh Tuấn
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hường
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.............................................................................4
6.Những đóng góp của luận văn..............................................................................5
7.Ý nghĩa của Luận văn...........................................................................................5
8.Kết cấu của luận văn.............................................................................................5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP.............................6
CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG.............................................................6
1.1.1.3.Công Đoàn ở Việt Nam...............................................................................10
CHƯƠNG 2:...........................................................................................................43
THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP................43
CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM..................................43
CHƯƠNG 3:...........................................................................................................80
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀNTHÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP
CÔNG ĐOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG...........................................................80
Sách trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam khẳng định: “…
việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và
quyền lợi của mỗi quốc gia. Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ
thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên hợp quốc có tính đến hoàn cảnh
của mỗi nước để bảo đảm cho tất cả người dân được thụ hưởng quyền con
người một cách tốt nhất” [3]........................................................................82
Tại phiên khai mạc khoá 26 Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (LHQ),
Việt Nam khẳng định tiếp tục nỗ lực bảo vệ và thúc đẩy các quyền con
người, quyền tự do hội họp và lập hội. Cụ thể, ngày 10 tháng 6 năm 2014,
tại Trụ sở Liên Hợp Quốc (LHQ) ở Geneva, Thụy Sĩ, Hội đồng Nhân
quyền Liên Hợp quốc khoá 26 đã khai mạc với sự tham dự của đại diện 47
nước thành viên Hội đồng Nhân quyền và các nước thành viên LHQ, Cao
uỷ Nhân quyền LHQ, đại diện các cơ quan trong hệ thống LHQ và các tổ
chức phi chính phủ quốc tế về quyền con người.........................................82
9
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
10 ICCPR
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn
11 ICESCR
hóa, 1966
12 ILO
Tổ chức lao động quốc tế
13 LĐLĐ
Liên đoàn lao động
14 LHQ
Liên hợp quốc
Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả người lao
15 MWC
động di trú và các thành viên trong gia đình họ, 1990
16 NLĐ
Người lao động
17 NSDLĐ
Người sử dụng lao động
18 OHCHR Văn phòng cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc
19 TLĐ
Tổng liên đoàn
20 UDHR
Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người, 1948
21 UNDP
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
22 UNESCO Tổ chức, Giáo dục, khoa học và Văn hóa liên hợp quốc
23 UNHCR Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc về người tỵ nạn
Ở Việt Nam từ khi bước vào thời kì đổi mới, doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế trên cả nước đã tăng nhanh về số lượng và quy mô đầu tư, đặc biệt là
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển mạnh và thu hút số lượng lớn lao
động vào làm việc. Trước thực trạng đó, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến
quyền của người lao động đã được Nhà nước ban hành hoặc bổ sung, sửa đổi cho
phù hợp với những đặc điểm của thời kì mới. Việc bảo đảm quyền con người nói
chung và quyền của người lao động nói riêng luôn được xác định là chủ trương,
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, được ghi nhận trong Hiến pháp và nhiều
1
văn bản pháp luật quan trọng. Theo đó, quyền của người lao động trong các lĩnh
vực khác nhau, như: chính trị, công đoàn, việc làm, giáo dục, y tế và văn hóa…đã
từng bước được hoàn thiện. Trong đó, đối với người lao động quyền tự do công
đoàn là một quyền cơ bản và quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta bảo đảm
của người lao động nói chung, quyền thành lập và gia nhập công đoàn nói riêng vẫn
còn nhiều vấn đề vướng mắc phải nghiên cứu, cụ thể: một là, theo công ước quốc tế
thì người lao động có quyền tự do thành lập công đoàn để bảo về quyền lợi của
mình, người lao động có thể thành lập nhiều tổ chức công đoàn khác nhau, còn ở
Việt Nam chỉ có một tổ chức công đoàn duy nhất là Tổng liên đoàn lao động Việt
Nam, như vậy, quyền của người lao động có những hạn chế nhất định; hai là, đối
với tổ chức công đoàn thì chỉ có người lao động Việt Nam mới có quyền gia nhập
công đoàn, còn người lao động là người nước ngoài thì không được gia nhập công
đoàn Việt Nam; ba là, việc cung cấp thông tin về tổ chức công đoàn cho người lao
động là rất hạn chế việc gia nhập công đoàn của người lao động thường rơi vào thế
bị động. Ngoài ra, còn có các vấn đề về quy trình thủ tục thành lập và gia nhập công
đoàn, trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong thành lập và gia nhập công đoàn…
Trên thực tế, nhiều chủ doanh nghiệp tìm cách né tránh, trì hoãn, không tạo điều
kiện để người lao động thực hiện quyền thành lập, gia nhập công đoàn. Sự cản trở,
tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực Asean và của Việt Nam liên
quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao động di trú, Lao động, 2009; Bảo vệ người
lao động theo pháp luật lao động Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, Luận văn
Ths Luật: 6.01.05, Nguyễn Thị Yến; Nghd TS Nguyễn Hữu Chí, Khoa Luật, 2005;
Bảo vệ Người lao động Việt Nam đi làm việc ơ nước ngoài theo hợp đồng - Thực
trạng và giải pháp: Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 07 Nguyễn Đặng Phước Tâm;
Nghd: TS. Nguyễn Xuân Thu, 2009... Các đề tài tập trung nghiên cứu khái quát biện
pháp bảo vệ quyền lợi của người lao động, cơ chế bảo vệ quyền của người lao
động…Tuy nhiên, để quyền lợi của người lao động thực sự được bảo đảm, để công
đoàn thực sự là tổ chức đại diện cho ý chí, tâm tư và nguyện vọng của người lao
động thì việc đi sâu nghiên cứu quyền thành lập và gia nhập công đoàn dưới góc độ
quyền con người là một vấn đề mới cần được nghiên cứu. Vì vậy, kế thừa, phát huy
kết quả nghiên cứu của các tác giả và xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên
chọn đề tài: “Quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở Việt
Nam hiện nay” để nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu vấn đề lý luận, các quy định
pháp luật về quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động. Trên cơ sở
đó phân tích, đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật
quốc tế trong bảo đảm quyền này của người lao động, chỉ ra những hạn chế để từ đó
3
đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền thành
lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu quy định của pháp luật về bảo đảm quyền thành lập và gia
nhập công đoàn;
6. Những đóng góp của luận văn
Từ kết quả của quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, luận văn sẽ đóng góp thêm
những giá trị về mặt ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong một phạm vi nhất định,
những điểm mới và đóng góp dự kiến của Luận văn gồm:
(1) Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, giúp người lao
động có thêm cơ sở, căn cứ bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn.
(2) Luận văn nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công
đoàn của người lao động nhìn nhận từ góc độ bảo đảm quyền con người.
(3) Luận văn chỉ ra những hạn chế, bất cập của quy định pháp luật hiện
hành liên quan tới quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở Việt
Nam. Qua đó đóng góp một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền thành lập và gia
nhập công đoàn.
7. Ý nghĩa của Luận văn
- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ
các vấn đề lý luận về quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động
theo pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế; thực tiễn bảo đảm quyền thành
lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở Việt Nam
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng
trong việc hoàn thiện pháp luật về quyền thành lập và gia nhập công đoàn. Đề tài là
kênh thông tin bổ trợ giúp cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật về bảo đảm
quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động được hiệu quả hơn.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề
tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền thành lập và gia nhập công đoàn của
người lao động
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn của
người lao động ở Việt Nam
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công
nhiệm vụ Quốc tế công đoàn, vạch ra cương lĩnh cơ bản và tích cực đấu tranh cho
các yêu cầu cụ thể của công đoàn. Phong trào đấu tranh của công nhân và công
đoàn ngày càng diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là sau Quốc tế II được thành lập ngày
14/05/1889 và trong những năm Chiến tranh thế giới lần thứ I tháng 08/1914. Thắng
lợi Cách mạng tháng 10 Nga 1917 đã làm vang dội thế giới, giải phóng giai cấp
công nhân và nhân dân lao động Nga, thành lập nhà nước vô sản đầu tiên trên thế
giới, phong trào công đoàn thế giới bước sang giai đoạn mới. Trong thời kỳ này,
công đoàn Xô Viết có một vị trí cực kỳ quan trọng trong tổ chức công đoàn quốc tế.
6
Từ sự thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, phong trào công nhân và công đoàn
đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước khác trên thế giới như Ý, Hung-ra-ri. Sự ra đời
của quốc tế III (1919) và Công hội Đỏ (RILU) năm 1921 đã đánh dấu một bước tiến
mới của công đoàn thế giới. Chiến tranh thế giới lần II kết thúc, hệ thống các nước
Xã hội chủ nghĩa ra đời thể hiện sự cân bằng lực lượng giữa Chủ nghĩa xã hội và
Chủ nghĩa tư bản. Trong thời kỳ này, nhiều tổ chức công đoàn ra đời tiêu biểu nhất
là Liên hiệp công đoàn thế giới tháng 10/1945 (Việt Nam trở thành thành viên chính
thức của tổ chức này từ năm 1949); Liên hiệp Quốc tế các công đoàn tự do (1949).
Những tổ chức công đoàn mang tính quốc tế này vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Tuy
nhiên, vào thập kỷ cuối của thế kỷ 20, khi chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và
các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào công đoàn thế giới đã có những khủng hoảng
về kinh nghiệm, mô hình tổ chức, nội dung và phương pháp hoạt động. Ở các nước
Xã hội chủ nghĩa còn lại như Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, Cộng hoà dân chủ
nhân dân Triều Tiên, công đoàn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền
đang tiến hành đổi mới để phù hợp với tình hình mới.
Các học giả nghiên cứu về công đoàn đã đưa ra các quan điểm của mình về
vấn đề này. Cuốn Lịch sử Chủ nghĩa Công đoàn (1984) của Sidney và Beatrice
Webb có quan điểm rằng công đoàn là “một hiệp hội của những người làm công ăn
những công đoàn. Quyền gia nhập công đoàn đã được nhắc đến trong điều 23 phân
đoạn 4 của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) và được khẳng định lại
trong điều 20 phân đoạn 2 rằng “Không được ép buộc bất cứ ai trong việc tham gia
vào một hiệp hội”. Việc cấm đoán một người không được tham gia hay thành lập
công đoàn, cũng như ép buộc một người làm việc ấy, dù là do chính phủ hay doanh
nghiệp thực hiện, đều bị coi là hành vi xâm hại nhân quyền. Những lý lẽ tương tự
cũng được đặt ra khi người thuê mướn phân biệt đối xử dựa trên việc có tham gia
công đoàn hay không. Mục đích của người chủ, thường là kết hợp với sự hỗ trợ của
các lực lượng bên ngoài, nhằm cấm đoán việc công nhân của mình tham gia công
đoàn.
Trải qua một thời gian dài phát triển, nhận thức về công đoàn ngày càng hoàn
thiện hơn và đa số các quan điểm hiện nay thống nhất rằng: Các công đoàn có thể tổ
chức dựa trên một nhóm công nhân có cùng kỹ năng (công đoàn nghề nghiệp),
những công nhân thuộc các ngành nghề khác nhau (công đoàn toàn thể), hay các
công nhân trong toàn bộ một ngành công nghiệp (công đoàn ngành). Các công đoàn
này thường phân chia theo địa phương và thống nhất với nhau thành các nghiệp
đoàn quốc gia. Các nghiệp đoàn này lại liên kết với nhau thành các tổ chức quốc tế.
Hiện nay, có một số tổ chức công đoàn lớn như, Liên hiệp công đoàn thế giới
8
(WFTU), thành lập 1945; Tổng công đoàn quốc tế (ITUC) là trung tâm công đoàn
lớn nhất thế giới, ra đời năm 2006; Liên hiệp các công đoàn ngành toàn cầu (GUFs)
[34]. Ở nhiều quốc gia, công đoàn có tư cách pháp nhân được ủy quyền thương
lượng với giới chủ thay cho các công nhân mà công đoàn đại diện. Công đoàn có
một số quyền quan trọng như quyền thương lượng tập thể với người thuê mướn lao
động về lương bổng, giờ làm cũng và các điều kiện thuê lao động khác. Việc hai
bên không thể đạt đến một thỏa thuận nào đó có thể dẫn đến những hành động gây
áp lực và đỉnh điểm là đình công. Trong một số trường hợp cực đoan, việc đình
lao động, công đoàn ở Việt Nam còn được xác định là một tổ chức chính trị xã hội .
Chính tính chất nghề nghiệp và tính chất chính trị xã hội đã khiến cho tổ chức công
đoàn có vị trí, vai trò, chức năng đặc biệt: không chỉ đại diện cho lực lượng tự mình
(đoàn viên công đoàn), công đoàn còn đại diện cho mọi người lao động trong xã
hội; không chỉ bảo vệ cho lợi ích của người lao động, công đoàn còn đại diện cho
họ tham gia quản lý kinh tế xã hội. Có thể thấy, trong nền kinh tế thị trường, công
đoàn có vai trò: Công đoàn giúp nâng cao mức phúc lợi tiền lương và lao động;
Công đoàn đã thúc đẩy dân chủ trong doanh nghiệp, đồng thời giúp nâng cao trình
độ quản lý doanh nghiệp; Công đoàn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất doanh
nghiệp; Công đoàn phát huy vai trò tích cực trong mặt bảo vệ công bằng xã hội.
1.1.1.3. Công Đoàn ở Việt Nam
Ngày 28/7/1929 Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản
đảng quyết định tổ chức Hội nghị đại biểu Tổng Công hội đỏ Bắc Kì lần thứ I,
nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác vận động công nhân tăng cường sự thống nhất về
tổ chức và hành động của tổ chức công hội. Hội nghị được tổ chức tại trụ sở Tổng
công hội Bắc kỳ, số nhà 15 phố Hàng Nón, Hà Nội. Tham dự Đại hội có các đại
biểu các Tổng công hội tỉnh và thành phố: Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, khu mỏ
Đông Triều, Mạo Khê. Việc thành lập Tổng công hội đỏ Bắc kỳ có ý nghĩa hết sức
to lớn đối với phong trào công nhân Việt Nam. Đó vừa là kết quả tất yếu của sự
trưởng thành về chất lượng của phong trào công nhân nước ta, vừa là thắng lợi của
đường lối công vận của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng Sản Đông Dương, đồng
thời cũng đáp ứng nhu cầu cấp thiết về tổ chức của phong trào công nhân Việt Nam.
Việc thành lập tổ chức công đoàn đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam góp
phần vào sự lớn mạnh của phong trào cộng sản công nhân quốc tế. Mối quan hệ
giữa phong trào công nhân Việt Nam với phong trào công nhân thế giới, đặc biệt là
với công nhân và công đoàn Pháp đã được công hội đỏ thiết lập. Trước yêu cầu và
nhiệm vụ mới của cách mạng, ngày 20/6/1946, Hội nghị Cán bộ công đoàn cứu
quốc toàn quốc đã quyết định đổi tên “Hội công nhân cứu quốc” thành “Công đoàn”
và thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày 28 tháng 7 được lấy là ngày
Công đoàn Việt Nam.
với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, với sự phát triển của công nghiệp, kỹ thuật
và sự liên kết của người sử dụng lao động. Chính trong sự phát triển đó, hoạt động
công đoàn cũng được thúc đẩy và dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống
các tổ chức xã hội, cũng như trong đời sống của người lao động. Từ chỗ chỉ được
thừa nhận trong phạm vi hẹp, ngày nay công đoàn đã được thừa nhận trong phạm vi
toàn xã hội.
11
Thực tế, trong chặng đường lịch sử của đất nước những năm qua, Công đoàn
Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng thể hiện rõ vai trò của mình đối với xã hội.
Vai trò của Công đoàn Việt Nam để hiện trong các lĩnh vực: Thứ nhất, trong lĩnh
vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần xây dựng và nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, qua đó tăng cường mối liên hệ mật
thiết giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao
động, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực thi pháp
luật và để Nhà nước thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
giữ vững sự ổn định về chính trị. Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn tham
gia xây dựng, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế nhằm xóa bỏ cơ chế tập trung quan
liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở mở rộng dân chủ. Công đoàn
góp phần củng cố những thành tựu kinh tế, văn hóa và khoa học - kỹ thuật đã đạt
được trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh,
nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có lợi
cho xã hội. Thứ ba, trong lĩnh vực văn hóa - tư tương: Công đoàn phát huy vai trò
của mình trong việc giáo dục công nhân, viên chức và lao động nâng cao lập trường
giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng; phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp thu
những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại, góp phần xây dựng nền văn hóa
sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người”. Theo Tổ chức
Ân xá quốc tế “Nhân quyền là quyền cơ bản và quyền tự do mà tất cả mọi người
được hưởng không phân biệt quốc tịch, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc,
chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc trạng thái khác. Nhân quyền bao gồm các quyền
dân sự và chính trị, chẳng hạn như quyền sống, tự do và tự do phát biểu và các
quyền kinh tế văn hóa xã hội bao gồm quyền tham gia vào nền văn hóa, quyền có
lương thực, quyền làm việc và nhận được một nền giáo dục... Nhân quyền được bảo
vệ và duy trì bởi luật pháp quốc tế và quốc gia và các hiệp ước”. Ở Việt Nam, một
số chuyên gia nghiên cứu đã đưa ra những “quan niệm” về quyền con người là
“những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi
nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”. Các
tác giả của nhiều giáo trình viết về quyền con người đều có chung nhận định: “Dù
nhìn ở góc độ, cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định là những chuẩn
mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh
những giá trị nhân văn của toàn nhân loại chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi
người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới
được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá
13
nhân với tư cách là một con người”. Bảo đảm quyền của con người nói chung và
bảo đảm quyền của người lao động nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan
trọng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. “Đảm bảo quyền
của người lao động” hoặc “bảo đảm quyền của người lao động” không có sự phân
biệt. Trên thực tế “Bảo đảm” có nghĩa là “Sự giữ được đầy đủ, trọn vẹn”, còn thuật
ngữ “Đảm bảo” có nghĩa là “Hứa giữ gìn chắc chắn” [19]. Trong tiếng anh, từ “đảm
bảo” hay “bảo đảm” được dịch là “ensure” hay “guarantee”. Với mục đích và nhiệm
vụ nghiên cứu của đề tài, việc sử dụng khái niệm “bảo đảm quyền của người lao
động” sẽ là đầy đủ và chính xác hơn. Quyền của người lao động và việc bảo đảm
đoàn bảo vệ lợi ích của mình. Thành lập công đoàn ở Việt Nam được hiểu theo
nghĩa thứ hai, đó là “thành lập một thành viên mới của tổ chức đó…”. Như vậy,
quyền thành lập Công đoàn của người lao động được hiểu là quyền của tập thể
người lao động được lập nên tổ chức Công đoàn để bảo vệ cho lợi ích của mình.
Cần lưu ý rằng, cá nhân người lao động không thể thực hiện quyền thành lập Công
đoàn mà phải thực hiện quyền đó thông qua hành vi của một tập thể lao động.
Theo pháp luật Việt Nam, hiện nay chưa có khái niệm chính thức về “thành
lập công đoàn”, tuy nhiên nó được hiểu là quyền thành lập công đoàn cơ sở - một
bộ phận cấu thành của hệ thống Công đoàn Việt Nam. Chẳng hạn công đoàn ngành
trung ương được tổ chức theo đặc điểm ngành, nghề do Đoàn chủ tịch tổng liên
đoàn quyết định thành lập phù hợp với các quy định của Luật công đoàn Việt Nam
(tổ chức đã có là Tổng liên đoàn lao động Việt Nam; thành viên mới được thành lập
là các công đoàn ngành trung ương). Công đoàn cơ sơ được thành lập ở các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các đơn vị sự nghiệp và cơ quan Nhà nước,
các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội có 5 đoàn viên trở lên và được
công đoàn cấp trên quyết định công nhận. Công đoàn cơ sở có tư cách pháp nhân.
Nghiệp đoàn là tổ chức cơ sơ của Công đoàn, tập hợp những người lao động tự do
hợp pháp cùng ngành, nghề, được thành lập theo địa bàn hoặc theo đơn vị lao động
có 10 đoàn viên trở lên và được công đoàn cấp trên là Liên đoàn lao động cấp
huyện hoặc công đoàn ngành địa phương trực tiếp quyết định thành lập (hoặc giải
thể) và chỉ đạo hoạt động. Công đoàn ngành: công đoàn cấp trên cơ sở hoạt động
trong phạm vi các ngành nghề, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho
người lao động trong ngành nghề tương ứng. Về tổ chức, công đoàn ngành gồm có
công đoàn ngành trung ương và công đoàn ngành địa phương nhưng hoạt động chủ
yếu ở cấp ngành trung ương để chỉ đạo công đoàn cơ quan bộ, đoàn thể trung ương,
công đoàn tổng công ty và công đoàn cơ sở của các đơn vị thuộc bộ [5].
1.1.3.2. Khái niệm quyền gia nhập công đoàn của người lao động
Theo từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “Gia nhập” nghĩa là đứng vào hàng ngũ,
trở thành thành viên của một tổ chức nào đó. Ví dụ: gia nhập quân đội, gia nhập
phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt; 2) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người
cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động [33].
Khái niệm “hội” trong tiếng Anh cũng có nội hàm rất rộng. Theo Đại diện
đặc biệt của LHQ về những người bảo vệ nhân quyền (trong văn bản số A/95/401,
đoạn 46) thì: Khái niệm “hội” nhắc đến bất kỳ nhóm cá nhân hoặc bất kỳ thực thể
16
pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi
hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung. Trong báo cáo của mình, Báo cáo viên
về tự do hội họp và lập hội của Liên Hợp quốc Maina Kiai đã nhắc lại và sử dụng
định nghĩa này (Báo cáo về năm hoạt động đầu tiên 1/5/2011 - 30/4/2012, A/HCR/
20/27, đoạn 51). Quyền tự do lập hội chỉ giới hạn ở các nhóm hình thành vì mục
đích “công”, còn các nhóm chỉ vì lợi ích riêng tư, chẳng hạn như nhóm gia đình,
được bảo vệ bởi các quy định khác, chẳng hạn như Công ước về các quyền dân sự,
chính trị (ICCPR) Điều 17. Trong vụ P.S. kiện Đan Mạch (mã số 397/90), HRC (Ủy
ban Nhân quyền, cơ quan giám sát việc thực thi ICCPR) kết luận rằng khiếu nại của
người cha liên quan đến sự vi phạm quyền của mình được tụ họp với con trai không
làm phát sinh vấn đề liên quan đến quyền lập hội (Điều 22 ICCPR). Hội đó có thể
là các câu lạc bộ, hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các quỹ, công đoàn,
tổ chức tôn giáo, quyền tự do hiệp hội có ý nghĩa quan trọng đối với thúc đẩy các
quyền con người, đời sống hiệp hội là một chỉ số của xã hội dân chủ [14]. Hội có
thể có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân. Nếu không có tư cách
pháp nhân, hội có thể bị giới hạn một số quyền nhất định (như quyền sở hữu tài
sản...). Quyền lập hội gồm ba lĩnh vực cơ bản là: Một là, quyền thành lập hội; hai
là, quyền gia nhập hội; ba là, hoạt động, điều hành các hội.
Quyền thành lập và gia nhập hội. ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa quy
định về quyền tự do hội họp trong Điều 20 UDHR. Khoản 1 Điều 22 ICCPR xác
định: Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và
cầu phát triển tất yếu của xã hội. Quyền thành lập và gia nhập công đoàn là một bộ
phận cấu thành của quyền tự do lập hội. Quyền lập hội nói chung và quyền thành
lập, gia nhập công đoàn nói riêng là quyền con người và quyền của người lao động.
Tuy nhiên, ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thì quyền thành lập và gia nhập
công đoàn cũng mang những đặc trưng so với quyền lập hội, chẳng hạn như: công
đoàn là tổ chức chính trị xã hội, công đoàn chịu sự lãnh đạo của Đảng...
Bên cạnh đó, quyền thành lập và gia nhập công đoàn cũng là một bộ phận
cấu thành của quyền tự do liên kết. Quyền tự do liên kết là một trong những quyền
cơ bản của NLĐ, được quy định trong các văn kiện về quyền con người nói chung
và quyền của NLĐ nói riêng của Liên hợp quốc cũng như được quy định trong các
công ước của ILO về các quyền cơ bản của NLĐ. Quyền tự do liên kết biểu hiện rõ
ràng nhất thông qua quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, quyền liên kết
để tiến hành thương lượng tập thể và quyền liên kết để tiến hành tranh chấp lao
động và đình công. Quyền mang ý nghĩa nền tảng chính là quyền thành lập, gia
18
nhập và hoạt động công đoàn (quyền tự do công đoàn), đây là một trong các nội
dung trong quyền tự do lập hội theo ILO. Trong quan hệ lao động, NLĐ luôn ở vị
thế yếu hơn và bị động hơn so với người NSDLĐ, do đó việc liên kết lại trong một
tổ chức là một nhu cầu tất yếu nhằm bảo vệ quyền lợi của từng cá nhân nói riêng và
cả tập thể nói chung. Tuyên ngôn Philadelphia (1944) của ILO đã khẳng định: “tự
do ngôn luận và tự do liên kết là điều kiện thiết yếu của tiến bộ lâu dài” và xem đây
là một trong các nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho tổ chức này
1.2 Vai trò của quyền thành lập và gia nhập công đoàn
của người lao động
Hiện nay, có hai học trường phái cơ bản đưa ra quan điểm trái ngược nhau về
nguồn gốc của quyền con người, đó là: Học thuyết về quyền tự nhiên và học thuyết
về các quyền pháp lý. Những người theo học thuyết quyền tự nhiên cho rằng quyền