THỰC TRẠNG THỪA cân béo PHÌ và một số yếu tố ẢNH HƯỞNG ở NHÓM NGƯỜI 50 – 64 TUỔI tại hà nội năm 2018 - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG

ĐỖ HẢI ANH

Thùc tr¹ng thõa c©n bÐo ph× vµ mét sè
yÕu tè ¶nh hëng ë nhãm ngêi 50 – 64 tuæi
t¹i hµ néi n¨m 2018

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội, 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG

ĐỖ HẢI ANH

Thùc tr¹ng thõa c©n bÐo ph× vµ mét sè
yÕu tè ¶nh hëng ë nhãm ngêi 50 – 64 tuæi
t¹i hµ néi n¨m 2018
Chuyên ngành : Y tế công cộng



DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BMI

: Chỉ số khối cơ thể

TCBP

: Thừa cân béo phì

TTDD : Tình trạng dinh dưỡng
MET

: Đơn vị chỉ cường độ hoạt động thể

lực
VPA

: Cường độ hoạt động thể lực cao


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................3
1.1. Khái niệm và phương pháp đánh giá.......................................................3
1.1.1. Khái niệm..........................................................................................3
1.1.2. Phương pháp đánh giá.......................................................................3
1.2. Phân loại béo phì.....................................................................................4

CHƯƠNG 3. DỰ KIẾN KẾT QUẢ.............................................................24
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu............................................24
3.2.Thông tin nhân trắc................................................................................25
3.3. Tình trạng dinh dưỡng...........................................................................25
CHƯƠNG 4. DỰ KIẾN BÀN LUẬN...........................................................30
4.1. Tình trạng dinh dưỡng và thừa cân béo phì ở nhóm người 50 - 64 tuổi
tại Hà Nội năm 2018....................................................................................30
4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và thừa cân béo phì
ở nhóm đối tượng trên..................................................................................30
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..................................................................................31
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ.........................................................................32
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thông tin về giới, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân của đối
tượng nghiên cứu..........................................................................24
Bẳng 3.2. Thông tin về các chỉ số chiều cao, cân nặng, vòng bụng, vòng mông...25
Bảng 3.3. Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng...........................................25
Bảng 3.4. Tình trạng thừa cân – béo phì theo giới........................................25
Bảng 3.5. Tình trạng thừa cân – béo phì theo trình độ học vấn (TĐHV).....26
Bảng 3.6. Tình trạng thừa cân – béo phì theo tình trạng hôn nhân...............26
Bảng 3.7. Tình trạng thừa cân – béo phì với việc hút thuốc lá/thuốc lào......27
Bảng 3.8. Tình trạng thừa cân – béo phì theo với việc ăn những bữa phụ....27
Bảng 3.9. Tình trạng thừa cân – béo phì với việc uống rượu/bia..................28
Bảng 3.10. Tình trạng thừa cân – béo phì với việc luyện tập thể dục/thể thao.....28
Bảng 3.11. Tình trạng thừa cân – béo phì với tần suất luyện tập thể dục/thể thao. 28
Bảng 3.12. Tình trạng thừa cân – béo phì với thời gian ngồi trung bình........29
Bảng 3.13. Tình trạng thừa cân – béo phì với thời gian ngủ...........................29


2
Tại Việt Nam TCBP cũng đang dần trở thành một vấn đề sức
khỏe cộng đồng, cảnh báo về sự gia tăng các bệnh không lây
trong cộng đồng. Tỷ lệ TCBP ở người lớn là 16,3%, trong đó, tỷ
lệ tiền béo phì là 9,7% và tỷ lệ béo phì độ I và độ II là 6,2% và
0,4%. Tỷ lệ béo bụng (tỷ số vòng bụng/vòng mông cao) là
39,75% và tăng theo tuổi trên cả nam và nữ [5].
TCBP làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe nghiêm
trọng như đái tháo đường (ĐTĐ) type 2, tăng huyết áp (THA),
bệnh mạch vành, một số loại ung thư, giảm chất lượng sống
và nguy cơ tử vong sớm [6]. TCBP còn gây tự ti, stress, trầm
cảm [7], TCBP trong giai đoạn mang thai làm tăng nguy cơ
biến chứng thai sản [8].
Nhóm người có độ tuổi 50 – 64 là thuộc nhóm người cao
tuổi. Nhóm người này đang bị quá trình lão hóa tác động,
trong đó có cả hệ thống tiêu hóa,

làm ảnh hưởng lên quá

trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn [9]. Bên cạnh sự suy giảm
chức năng, hoạt động của các hệ cơ quan thì họ có nguy cơ
cao mắc các bệnh mãn tính hơn lứa tuổi dưới 50 [10]. Một chế
độ dinh dưỡng hợp lý bao gồm đầy đủ năng lượng, protein,
vitamin, khoáng chất, chất xơ và nước là rất cần thiết cho
nhóm người này, làm giảm được nguy cơ mắc các bệnh mãn
tính liên quan đến quá trình lão hóa như bệnh tim mạch,
loãng xương và tiểu đường [11].Vì vậy, với mong muốn
nghiên cứu để làm rõ hơn tình trạng dinh dưỡng, thực trạng
thừa cân béo phì và xác định các yếu tố nguy cơ để giảm tỷ lệ

tiểu đường, ngưng thở khi ngủ, viêm khớp,... [12].
1.1.2. Phương pháp đánh giá
Để xác định tình trạng thừa cân – béo phì, cách chính
xác nhất là đo khối mỡ cơ thể trực tiếp hay gián tiếp.. Có
nhiều phương pháp đáng giá khối mỡ cơ thể như: chụp cộng
hưởng từ, đo tỷ trọng nước cơ thể, đo thể diện sinh học cơ
thể...hoặc gián tiếp đánh giá thừa cân - béo phì qua khẩu
phần ăn hàng ngày. Tuy nhiên, những phương pháp này tốn
kém, mất thời gian và đòi hỏi kỹ thuật cao nên thường được
sử dụng với các mục đích chuyên sâu.
Trong thực tế, để đánh giá thừa cân béo phì thường sử
dụng phương pháp nhân trắc học, cụ thể là đo các kích thước
cơ thể và cấu trúc của cơ thể [13]. Nhân trắc học dinh dưỡng
là đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá tình trạng
dinh dưỡng. Đó là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền
và môi trường bên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai
trò rất quan trọng.
Chỉ số khối cơ thể (BMI) là một chỉ số đơn giản về cân
nặng theo chiều cao thường được sử dụng để phân loại thừa
cân và béo phì ở người trưởng thành. BMI được tính bằng công
thức:

Để đánh giá thừa cân béo phì WHO chia thành 3 độ tuổi
khác nhau:


5
- Đối với trẻ em dưới 5 tuổi, WHO sử dụng Z-scores, dựa
vào chiều cao và cân nặng của trẻ để đánh giá tình trạng thừa
cân, béo phì. Trẻ được đánh giá là thừa cân khi có Z-scores

- Béo phì do hội chứng tăng hormon u nang buồng trứng:
thường xuất hiện sau dậy thì. Các dấu hiệu thường thấy là
rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều thường
gặp các u nang buồng trứng kèm theo.
- Béo phì trong thiểu năng sinh dục.
- Béo phì do các bênh về não: Do u não, chấn thương sọ
não, tổn thương vùng dưới đồi, từ đó gây hủy hoại vùng trung
tâm não trung gian, ảnh ưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin
thứ phát nên thường kèm theo béo phì [15] [16] [17].
1.2.2. Phân loại béo theo tuổi bắt đầu béo phì:
- Béo phì bắt đầu từ nhỏ: Là béo phì mà có tăng cả số
lượng và kích thước tế bào mỡ.
- Béo phì bắt đầu ở người lớn: Là béo phì mà chỉ có tăng
kích thước tế bào mỡ chứ không tăng số lượng tế bào mỡ.
- Béo phì xuất hiện sớm: Là béo phì xuất hiện trước 5
tuổi.


7
- Béo phì xuất hiện muộn: Là béo phì xuất hiện sau 5
tuổi [18] [19].


8
1.2.3. Phân loại béo phì theo vùng:
- Béo bụng: là béo phì mà mỡ chủ yếu tập trung ở phần
bụng.
- Béo đùi: là béo phì mà mỡ tập trung ở vùng mông, đùi.
Người béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các
bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng insulin máu, rối loại lipid

liên quan tới thừa cân và béo phì bao gồm tần suất ăn/ăn vặt,
khẩu phần ăn quá dư thừa, ăn uống nhậu nhẹt, ăn thức ăn
nhanh ở bên ngoài.... Các yếu tố chất dinh dưỡng được nghiên
cứu bao gồm chất béo, các loại carbohydrat (bao gồm các loại
carbohydrat tinh chế như đường), chỉ số đường huyết của
thực phẩm và chất xơ [22],[23].
Theo WHO, TCBP trải qua 3 giai đoạn: tiền béo phì, tăng
cân, giữ và duy trì cân nặng. Trong giai đoạn tiền béo phì, do
thu nạp năng lượng cân bằng với sử dụng năng lượng nên đối
tượng không tăng cân. Trong giai đoạn tăng cân, có sự mất
cân bằng năng lượng, trong một thời gian dài do năng lượng
cung cấp cao hơn năng lượng tiêu hao nên có hiện tượng tăng
cân.Ở giai đoạn giữ và duy trì cân nặng, đối tượng lập lại sự
cân bằng năng lượng ở một mức mới cao hơn mức cũ. Cơ thể


10
đã quen với trọng lượng cơ thể gia tăng gồm cả mỡ và khối cơ
nên sẽ có khuynh hướng duy trì cân nặng mới này [24].
1.3.3. Các yếu tố nguy cơ
1.3.3.1. Khẩu phần ăn và thói quen ăn uống
Chế độ ăn giàu chất béo hoặc đậm độ nhiệt độ cao có
ảnh hưởng lớn đến cân nặng. Các thức ăn nhiều chất béo
thường ngon hơn nên người ta hay ăn thừa thãi mà không
biết. Bên cạnh đó, ăn nhiều chất bột, đường, đồ ngọt đều có
thể gây béo. Thói quen ăn nhiều vào bữa tối cũng là một tác
nhân gây béo do ăn xong ít hoạt động mà thường sẽ nghỉ
ngơi.
Việc ăn mặn cũng là thói quen của nhiều người. Ăn mặn
hay ăn nhiều muối sẽ gây tích nước trong cơ thể, gây béo.

trong điều trị béo phì. Muốn giảm cân từ 5% trở lên thì phải
kết hợp giữa hoạt động thể lực và kiểm soát chế độ ăn hàng
ngày [26].
Thói quen sống tĩnh tại ngày nay đã ảnh hưởng nhiều
đến cường độ hoạt động thể lực của hầu hết tất cả mọi người.
Hiện nay,các phương tiện giao thông hiện đại, các công việc
yêu cầu ngồi hay đứng lâu cũng gia tăng, lại có các công cụ,
phương tiện hỗ trợ, phương tiện giải trí sẵn có, thực phẩm
giàu năng lượng ... là những yếu tố tạo ra lối sống ít hoạt
động thể chất. Hoạt động thể lực không chỉ phòng tránh nguy
cơ thừa cân béo phì, mà còn làm giảm nguy cơ xuất hiện các


12
vấn đề sức khỏe khác ở tất cả lứa tuổi, dân tộc, quốc gia khác
nhau.
1.3.3.3. Yếu tố di truyền:
Tương tác giữa các gen nhạy cảm với chế độ ăn và lối
sống có thể dẫn đến nguy cơ thừa cân – béo phì. Nhiều
nghiên cứu đã xác định vai trò của các yếu tố di truyền đối với
sự phát triển của bệnh béo phì. Nghiên cứu các cặp sinh đôi
và gia đình cho thấy ảnh hưởng của yếu tố di truyền (gen)
chiếm từ 40 - 70% trong bệnh béo phì. Yếu tố di truyền quyết
định 70% trọng lượng cơ thể, 30 % còn lại phụ thuộc vào các
yếu tố môi trường (bao gồm chế độ ăn uống và vận động)
[27] [28].
Trong một gia đình, càng nhiều người bị thừa cân – béo
phì thì nguy cơ đối với các thành viên khác càng cao. Hiện
nay đã có những bằng chứng kết luận rằng BP thường do yếu
tố môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di

thành đường mòn, khó thay đổi. Nhiều người rất bảo thủ, chỉ
tin những thông tin mà bản thân thấy đúng, không chịu tin
vào điều khác.
- Một số bệnh, hội chứng thường gặp ở người có tuổi cũng
có ảnh hưởng đến cân nặng, gây tăng cân, ví dụ: bệnh
Cushing, suy giáp trạng…. Một số loại thuốc (thuốc chống
trầm cảm, thuốc chống loạn thần và thuốc trị tiểu đường…) có
thể gây tăng cân do tác dụng phụ. Những loại thuốc này làm
giảm tốc độ trao đổi chất hoặc làm tăng sự thèm ăn.


14
- Căng thẳng, stress gây mất cân bằng hormone. Để đối
phó với căng thẳng, cơ thể sẽ giải phóng cortisol, gây tăng
tích lũy mỡ cơ thể. Căng thẳng thường xuyên thì lượng
cortisol tiết ra lượng lớn, gây tăng cân. Căng thẳng, stress
cũng khiên nhiều người muốn ăn nhiều hơn để giải tỏa, lâu
ngày gây tăng cân. Căng thẳng, lo lắng gây khó ngủ. Thiếu
ngủ là một yếu tố ảnh hưởng đến cân nặng.
1.4. Thực trạng thừa cân - béo phì trên thế giới và ở
Việt Nam
1.4.1. Thực trạng thừa cân - béo phì trên thế giới
Tỷ lệ béo phì trên toàn thế giới đã tăng gần gấp ba kể từ
năm 1975 đến năm 2016. Năm 2016, hơn 1,9 tỷ người từ 18
tuổi trở lên bị thừa cân, trong đó có 650 triệu người bị béo phì,
tương đương với 39% dân số trưởng thành thừa cân và 13% bị
béo phì. Tỷ lệ thừa cân – béo phì ở nữ giới luôn có xu hướng
lớn hơn nam giới với tỷ lệ thừa cân – béo phì lần lượt ở hai giới
nam – nữ là 39% - 40% và 11% - 15% [1].
Thừa cân và béo phì có liên quan đến nhiều ca tử vong

thừa cân, 6,2% béo phì độ I và 0,4% béo phì độ II. Tỷ lệ BP gia
tăng theo tuổi, ở nữ cao hơn ở nam, thành thị cao hơn ở nông
thôn. Các yếu tố liên quan đến TC, BP là khẩu phần ăn giàu
thức ăn động vật, thói quen ăn ở ngoài gia đình, tăng sử dụng
thức ăn nhanh, lạm dụng rượu, bia và ít vận động [43]. Cục Y
tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết vào năm 2015 ở Việt Nam tỷ lệ
người trưởng thành bị thừa cân, béo phì chiếm khoảng 25%
dân số [44].


16
Theo Tổng điều tra dinh dưỡng của Viện dinh dưỡng quốc
gia năm 2010, tỷ lệ thừa cân và béo phì chung của người từ
20 tuổi trở lên là 5,6% (CI95%: 4,99-6,37). Ở nam giới là 4,9%
(CI 95%: 4,25- 5,73) và ở nữ giới là 6,3% (CI95%: 5,45-7,25)
[45].

Hình 1: Tỷ lệ TCBP chung hai giới theo nhóm tuổi điều tra
năm 2000 và 2010.
Tỷ lệ thừa cân – béo phì có sự khác biệt rõ ràng ở nông
thôn và thành thị với lần lượt là 13,1% (CI 95%: 10,8 – 15,9)
và 6% (CI95%: 5,35-6,78). Trong đó, tỷ lệ thừa cân - béo phì ở
nam giới thành thị là 12,4% (CI95%: 9,66-15,83) và nam giới
nông thôn là 5,4% (CI95%: 4,61-6,26). Tỷ lệ thừa cân – béo hì
ở nữ giới thành thị là 13,8% (CI95%: 11,24-16,78) và nữ giới
nông thôn là 6,6% (CI95%: 5,6-7,6) [45].


17
1.5. Tác hại của thừa cân béo phì

Các nghiên cứu cho thấy, sau 10 năm từ năm 2002 đến 2012,
tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường (gồm cả typ 1 và typ 2) mà
nguyên nhân chính là hệ lụy từ thừa cân và béo phì trong
cộng đồng đã tăng gấp 2 lần từ 2,7% lên 5,4% và ước tính
hiện tại Việt Nam có khoảng 3 triệu người bị đái tháo đường,
đặc biệt trong số đó có tới trên 60% chưa được phát hiện
bệnh.
1.5.2. Các bệnh tim mạch
Bệnh tim mạch là nguyên nhân số một dẫn đến tử vong,
ước tính có khoảng 17,5 triệu người chết vì bệnh tim mạch
năm 2012, chiếm 31% cái chết trên toàn cầu. Trong đó, có
khoảng 7,4 triệu người chết vì bệnh mạch vành, và 6,7 triệu
người chết vì đột quỵ [48].
Béo phì có liên quan chặt chẽ đến bệnh tim mạch, tăng
huyết áp, đột quỵ. Bệnh tim bao gồm bệnh mạch vành, đột
quỵ và các bệnh mạch ngoại vi. Béo phì là một yếu tố dự
đoán nguy cơ của bệnh mạch vành, chỉ đứng sau tuổi và rối
loạn chuyển hoá Lipid. Nguy cơ này cao hơn khi tuổi còn trẻ
mà béo bụng. Hơn thế nữa, tử vong do bệnh mạch vành đã
tăng lên khi thừa cân, dù chỉ 10% so với trung bình [49].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status