Luận văn thạc sĩ: Áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG THÔNG

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG THÔNG

ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
NGĂN CHẶN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
:
838.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về các biện
pháp ngăn chặn trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ..............................32
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG .......................................................................................................................49
3.1. Tăng cường nhận thức về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự ........49
3.2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự ...52
3.3. Tăng cường hướng dẫn các quy định về biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự .......................................................................................................................55
3.4. Kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan bảo vệ pháp luật của quận Cẩm Lệ;
bồi dưỡng, nâng cao có chất lượng đội ngũ cán bộ thực thi các biện pháp ngăn
chặn theo pháp luật tố tụng hình sự ..........................................................................56
3.5. Tăng cường sự phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và
các cơ quan hữu quan khác trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự ...............................................................................................................57


3.6. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các biện pháp
ngăn chặn...................................................................................................................57
KẾT LUẬN ..............................................................................................................59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

BPNC


Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là một trong những cách thức
thực hiện tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo
trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự gắn liền với việc hạn chế một số quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân được Hiến pháp ghi nhận, đảm bảo. Do vậy, việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn đòi hỏi phải hết sức thận trọng, khách quan, đúng căn
cứ mà pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự không tuân theo trình tự, thủ tục, xâm phạm các quyền cơ bản của
công dân được quy định trong Hiến pháp, giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với
các cơ quan bảo vệ pháp luật; tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc, vu cáo nhà
nước ta vi phạm “nhân quyền”, chia rẽ Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Qua thực
tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn còn
những hạn chế như trên. Do đó, việc nắm vững các biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự là điều hết sức quan trọng, cần thiết giúp các cơ quan thực thi pháp luật
tránh được những sai sót, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình điều tra, truy
tố, xét xử.
Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”
để làm luận văn tốt nghiệp, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua hơn 12 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003, đã có rất nhiều tác giả
tập trung nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn, từ nghiên cứu trong phạm vi rộng
là tất cả các biện pháp, đến nghiên cứu từng biện pháp cụ thể; Có rất nhiều giáo
trình, tài liệu, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cho đến các đề tài khoa học,..tiếp cận
đề tài này ở nhiều góc độ khác nhau như:
- Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội.
1





4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn dựa trên các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam về các BPNC, thực tiễn áp dụng các biện pháp đó trên địa bàn
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nãng để nghiên cứu các vấn đề về các biện pháp ngăn
chặn và thực tiễn áp dụng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Để đạt hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra, luận văn tập trung làm rõ các vấn đề
trọng tâm sau:
- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về BPNC;
- Phân tích các quy định của pháp luật TTHS về BPNC có liên quan đến đối
tượng, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng;
- Phân tích thực tiễn áp dụng BPNC trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà
Nẵng, thực tiễn áp dụng các biện pháp đó trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà
Nẵng, qua đó, có những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác–Lê
nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời quán triệt các quan điểm của Đảng, Nhà
nước ta về xây dựng Nhà nước và pháp luật trong đó có vấn đề áp dụng BPNC .
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp tham khảo chuyên gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đánh giá chính xác thực tiễn áp dụng các BPNC trên địa bàn quận Cẩm Lệ,

quyền lực nhà nước do cơ quan chức năng, người có thẩm quyền áp dụng theo trình
tự, thủ tục được quy định tại chương VII của BLTTHS năm 2015. “Trước đây,
những biện pháp này được quy định trong luật 103-SL/005 ngày 20/5/1957, Sắc luật
002-SLt ngày 18/6/1957 và Sắc lệnh số 02-SL ngày 15/3/1976 bao gồm việc bắt,
giam, tha, khám xét và được gọi là những biện pháp cưỡng chế” [40].
Qua quá trình nghiên cứu luật TTHS, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
tiễn dẫn đến hình thành khái niệm các BPNC đã, đang có nhiều quan điểm khác
nhau giữa các nhà nghiên cứu. Qua nghiên cứu, tác giả trích dẫn một vài quan điểm
như sau:
Có quan điểm cho rằng: “Những BPNC là những biện pháp cưỡng chế trong
TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong
trường hợp bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn
chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật
hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” [4,
tr.36]. Khái niệm trên đã làm rõ được đối tượng áp dụng là bị can, bị cáo hoặc
người chưa bị khởi tố nhưng bị bắt khẩn cấp hoặc quả tang, mục đích áp dụng là
ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn chặn tội phạm. Tuy nhiên, khái niệm
này lại chưa làm rõ được chủ thể áp dụng các BPNC.
Trong BLTTHS năm 2015 có hiệu lực từ 01/01/2018, mặc dù các nhà làm luật
không đưa ra một khái niệm cụ thể về BPNC, song tại Điều 109 BLTTHS năm
2015 quy định: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người
5


bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
tội hoặc để đảm bảo thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
trong phạm vi, thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong
trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi
khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh” [37].
Từ quá trình nghiên cứu tác giả có thể nêu ra khái niệm BPNC, theo đó: “Các

được Hiến pháp ghi nhận.
Trên cơ sở khái niệm biện pháp ngăn chặn nói chung nêu trên và các quy định
về biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm
giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh quy
định tại các Điều 110, Điều 111, Điều 112, Điều 113,... BLTTHS 2015 rút ra khái
niệm giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt
tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh như sau:
Khái niệm biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp:
“Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là trường hợp giữ người khi có căn cứ
để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng, hoặc sau khi thực hiện tội phạm người đó bỏ trốn hoặc
tiêu hủy chứng cứ”.
Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người:
Trong giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2005, Biện pháp bắt người được tác giả viết: “Bắt người là biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc trong trường
hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố
nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm tội trốn tránh pháp luật, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự” [16].
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
và để phù hợp từng hành vi phạm tội diễn ra trong thực tế, khoản 2, Điều 109 Bộ
luật TTHS năm 2015 quy định các trường hợp bắt người bao gồm: Bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang bị truy nã;
bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
Đối với trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đã được thể
7


hiện ở nội dung giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Do đó phạm vi nghiên cứu
biện pháp bắt người trong phần này bao gồm: Bắt người phạm tội quả tang; bắt

đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Từ những các khái niệm trên, qua nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm áp dụng
biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội như sau: “Áp dụng biện pháp ngăn
chặn đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra là áp dụng biện pháp cưỡng
chế trong TTHS do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, người bị truy nã
hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm
tội quả tang), từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm ngăn chặn những hành vi nguy
hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc
có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”.
1.2. Đặc điểm của áp dụng các biện pháp ngăn chặn
1.2.1. Căn cứ áp dụng
Theo quy định tại Điều 109 BLTTHS 2015, căn cứ áp dụng các biện
pháp ngăn chặn trong hoạt động điều tra vụ án bao gồm các căn cứ sau:
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm
Mỗi tội phạm xảy ra đều gây nên những hậu quả nhất định cho các quan hệ xã
hội được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, việc kịp thời ngăn chặn tội phạm trước khi tội
phạm xảy ra hoặc trong khi tội phạm đang xảy ra có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo
vệ kịp thời những đối tượng được pháp luật bảo vệ đang bị tội phạm xâm hại, góp
phần tích cực vào việc ngăn ngừa và hạn chế hậu quả do tội phạm gây ra. Với ý
nghĩa đó, để kịp thời ngăn chặn tội phạm được coi là một căn cứ để áp dụng các
biện pháp ngăn chặn.
Như vậy, kịp thời ngăn chặn tội phạm là việc ngăn ngừa tội phạm khi nó đang
trong quá trình chuẩn bị thực hiện hoặc khi nó đang diễn ra.
Đối tượng áp dụng: Người chưa bị khởi tố bao gồm người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị bắt giữ do phạm tội quả tang.
Nội dung căn cứ: Khi có tài liệu, chứng cứ cho rằng một người đang chuẩn bị
thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, hay khi
phát hiện một người đang thực hiện tội phạm.
- “Khi có đủ căn cứ, cơ sở chứng minh bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc
9

Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn vào thực tiễn cuộc sống có rất nhiều yếu
10


tố tác động đến như: hệ thống văn bản còn chưa đồng bộ, chưa mang tính cụ thể; áp
dụng biện pháp ngăn chặn tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, đặc biệt là quyền tự do thân thể do Hiến pháp quy định; Năng lực chuyên
môn của các nhà làm luật cũng tác động không nhỏ đến việc áp dụng pháp luật. Qua
đó, ta thấy các yếu tố sau có thể tác động trực tiếp đến việc áp dụng pháp luật:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật đặc biệt là hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam tác động rất lớn hay áp dụng các BPNC trong luật TTHS Việt Nam.
Từ thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong công tác điều tra khám phá tội
phạm nhằm hoàn thiện các quy định, quy phạm pháp luật liên quan đến các biện
pháp ngăn chặn ngày 01/01/2018 Bộ luật TTHS năm 2015 đã chính thức có hiệu lực
cơ bản đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn về trình tự, thủ tục của việc khởi tố, điều tra,
truy tố và xét xử vụ án hình sự nói chung và về các BPNC nói riêng.
Thứ hai, Xuất phát từ thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong công tác
phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Trong khi tiến hành áp dụng biện pháp ngăn chặn, có thời điểm việc áp dụng
biện pháp này hay biện pháp khác cần có sự chính xác một cách toàn diện. Đã có
thời điểm vì việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đại trà, giữ người trong
trường hợp khẩn cấp không đúng quy định của pháp luật dẫn đến việc bắt oan. Đã
có những ý kiến cho rằng cần phải bãi bỏ biện pháp giữ người trong trường hợp
khẩn cấp. Tuy nhiên, giữ người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp cần thiết
dùng để ngăn chặn ngay người có hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, cũng như khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc
người phạm tội trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ của vụ án. Chính vì thế, không thể bãi
bỏ biện pháp ngăn chặn này được.
Thứ ba, năng lực chuyên môn của các nhà làm luật cũng tác động lớn đến việc
quy định các biện pháp ngăn chặn.

Quá trình thực thi, áp dụng các BPNC trong từng vụ án hình sự cụ thể chịu tác
động không nhỏ bởi yếu tố khách quan của người áp dụng các BPNC. Điều tra viên
là người được Thủ trưởng CQĐT phân công trực tiếp thụ lý các vụ án, tiến hành các
hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng họ không có quyền áp dụng
BPNC mà chỉ có trách nhiệm, nghĩa vụ tham mưu cho Thủ trưởng, Phó thủ trưởng
12


CQĐT các cấp trong việc áp dụng các BPNC. Quá trình thực thi pháp luật TTHS
chịu tác động rất lớn từ năng lực chuyên môn, kinh nghiệm của Điều tra viên, bởi
điều tra viên có hiểu biết rộng, nắm vững pháp luật sẽ giúp Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng hạn chế thấp nhất sai phạm. Mặt khác, Điều tra viên có kiến thức hạn chế,
chưa nghiên cứu sâu về các biện pháp ngăn chặn, chưa hiểu hết ý nghĩa của các biện
pháp ngăn chặn về đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng, thẩm quyền, thủ tục và thời
hạn áp dụng các BPNC, cũng như chưa nghiên cứu sâu các văn bản hướng dẫn thi
hành thì rất dễ dẫn đến việc áp dụng các BPNC một cách tuỳ tiện, không đầy đủ và
thiếu chính xác.
Tiểu kết Chương 1
BPNC là những biện pháp cưỡng chế TTHS do cơ quan hoặc người có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật áp dụng đối với người bị buộc tội, khi có căn cứ
chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ
tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án.
Trải qua hơn 30 năm thi hành các bộ luật tố tụng hình sự áp dụng các quy
phạm pháp luật về bắt người, tạm giữ, tạm giam ...Pháp luật tố tụng hình sự ngày
càng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội
phạm, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta. Ngày 01/01/2018 Bộ luật tố tụng
hình sự 2015 chính thức có hiệu lực mở ra một trang mới trong việc thực thi pháp
luật tố tụng cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã được thay đổi,đảm bảo
tốt hơn mục đích TTHS, phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm ở Việt Nam.

chính mắt trông thấy, xác nhận đúng là người đã thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy
cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình;
14


Để giữ người trong trường hợp này cần phải có đủ hai điều kiện:
- Thứ nhất: Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt
tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực
hiện tội phạm.
Chính mắt nhìn thấy được hiểu là họ trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội xảy
ra chứ không phải do nghe người khác kể lại, thuật lại. Xác nhận đúng là người đã
thực hiện tội phạm là sự khẳng định một người cụ thể nào đó đã thực hiện tội phạm
thông qua những dấu hiệu nhận biết nào đó chứ không phải là sự phỏng đoán hay
nghi vấn.
- Thứ hai: Cần tiến hành ngăn chặn ngay việc người đó trốn nhằm che giấu
hành vi phạm tội của mình. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có căn cứ cho
rằng nếu không bắt giữ họ thì có thể họ sẽ bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều
tra, khám phá vụ án. Việc nhận định một người có khả năng bỏ trốn hay không bỏ
trốn. Cơ quan chức năng có thẩm quyền căn cứ vào hành vi của người đó, căn cứ
vào nhân thân, lai lịch, hành vi phạm tội và điều kiện thực tế của người đó.
Trường hợp 3: “Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm
việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần
ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ” [83].
Dấu vết tội phạm là những phản ánh vật chất có liên quan đến tội phạm tồn tại
trên vật mang vết như: Dấu vết máu trên quần áo, dấu vết trầy xước trên phương
tiện giao thông. Khi phát hiện có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc
trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn
ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì cơ quan có thẩm quyền tiến
hành giữ người bị nghi thực hiện tội phạm đó trong trường hợp khẩn cấp.
Chú ý: Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với người từ đủ 14 tuổi

giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì những người có thẩm quyền phải giải ngay
người bị bắt kèm theo tài liệu, chứng cứ có liên quan đến sân bay, bến xe, bến
cảng.. đi chuyến đầu tiên trở về cơ quan có thẩm quyền. Trong thời hạn 12 giờ kể từ
khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải tiến hành lấy ngay lời khai báo
cáo Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra đó phải ra quyết định tạm
giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho
16


người đó nếu không có chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người đó.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm
sát cùng cấp kèm theo tất cả tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giữ người để
xét phê chuẩn lệnh bắt.
Trong vòng 12 giờ khi nhận hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn về bắt giữ trong
trường hợp khẩn cấp thì VKS phải ra ngay quyết định phê chuẩn hoặc không phê
chuẩn để cơ quan điều tra tiến hành thực hiện.
Theo điểm 5, Điều 110 BLTTHS năm 2015 thì Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát
cùng cấp phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm:
- “Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp”; “Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ”; “Biên bản giữ người trong
trường hợp khẩn cấp”; “Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp”; “Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường
hợp khẩn cấp” [37].
- Thông báo về việc giữ người, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, quyết định bắt người
phải thông báo ngay cho những người liên quan theo quy định của luật biết. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp việc thông báo có thể gây cản trở truy bắt đối tượng
khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi những cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ
người, lệnh hoặc quyết định bắt người, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị

đang dùng súng uy hiếp để cướp tài sản) thì tội phạm bị phát hiện. Hành vi phạm tội
có thể đã gây ra hậu quả của tội phạm hoặc chưa gây ra hậu quả, có thể thực hiện
trong một thời gian ngắn hoặc trong một thời gian dài (hành vi tàng trữ trái phép vũ
khí, quân dụng, chất ma tuý).
Trường hợp 2: Ngay sau khi người đó thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị
bắt giữ.
Trường hợp này người phạm tội vừa thực hiện xong tội phạm, chưa kịp chạy
trốn, xóa dấu vết thì bị phát hiện. Thông thường sự có mặt của người phạm tội tại hiện
trường kết hợp cùng dấu vết tội phạm mà họ gây ra là chứng cứ để buộc họ mà họ
không thể chối cãi về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, trong trường hợp người
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status