GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI CÁC CƯ DÂN NÔNG
THÔN TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP
CỘNG ĐỒNG CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN
NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT
ĐỌC LÀ
ASEAN
Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á
GD
Giáo dục
GV
Giảng viên
HVNN
Học viện Nông nghiệp
KN
một cộng đồng kinh tế, một thị trường chung, nơi sản xuất và phân phối lớn
nhất Đông Nam Á. Lúc này, ASEAN sẽ luân chuyển các yếu tố căn bản đó là:
Vốn, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động. Khi người lao động được làm
việc, định cư và được đối xử bình đẳng tại các nước thành viên ASEAN thì
đây lại là khó khăn, thách thức cho đội ngũ người lao động tại Việt Nam [13].
Theo thống kê Tổ chức lao động quốc tế (2015) chất lượng nguồn nhân
lực Việt Nam thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp
hơn Hàn Quốc 10 lần. Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia
và 2/5 Thái Lan. Điều này không những là thách thức lớn đối với nền kinh tế
mà còn là bài toán khó cho những cơ sở GD ở Việt Nam, nơi cung cấp nguồn
nhân lực trí thức cho đất nước. SV tốt nghiệp ra trường giỏi về kiến thức
chuyên môn, KN nghề nghiệp đó là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Theo khảo
sát của các nhà xã hội học, ở một người thành đạt chỉ dựa vào 25% kiến thức
chuyên môn, còn lại 75% do KN mềm ở họ quyết định, trong đó KNGT là
KN mềm được đề cập đầu tiên [13].
Nhưng thực tế hiện nay, bên cạnh những SV ý thức được tầm quan
trọng của giao tiếp và luôn rèn luyện, học hỏi, tham gia các khóa đào tạo bên
ngoài trường về KNGT thì một bộ phận không nhỏ SV hầu như chưa quan tâm
để rèn luyện KNGT, chưa chuẩn bị cho mình hành trang trong cuộc sống hằng
ngày và sau khi rời giảng đường đại học. Chính việc không ý thức về tầm quan
trọng của giao tiếp, đã khiến cho KNGT của SV còn yếu, rất nhiều SV không
biết cách bắt đầu một câu chuyện dù là đơn giản nhất, không biết ứng xử và thể
6
hiện thế mạnh của mình khi đứng trước nhà tuyển dụng hay đơn giản là viết
một lá đơn xin việc như thế nào. Do đó, SV không trình bày được ý tưởng,
kinh nghiệm, cũng như năng lực của bản thân,… một cách hiệu quả trước
người khác. Đối với mỗi cá nhân, KNGT là một lợi thế để thể hiện bản thân
số SV chưa nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng về vai trò, ý nghĩa của
KNGT; mặt khác việc học trên lớp, SV mới chỉ được tiếp cận với học phần
“KN giao tiếp” với thời lượng 30 tiết (đây là học phần tự chọn của một số
ngành học tại HVNN Việt Nam quản lý và một trong tổ hợp 6 học phần KN
mềm do Trung tâm KN mềm quản lý), nên mức độ nhận thức và các KNGT
áp dụng chưa được nhiều, đặc biệt chưa có một nội dung kiến thức nào hướng
dẫn SV KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ. Chính vì lý
do này, khi đi thực tập tại các cơ sở và khi được tiếp xúc với các các cư dân
nông thôn, đặc biệt tại các trung tâm HTCĐ SV trở nên lúng túng, ngại giao
tiếp, chưa biết cách giao tiếp đúng chuẩn mực.
Xuất phát từ phân tích trên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Giáo
dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập
cộng đồng cho sinh viên Học viện nông nghiệp Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng GD KNGT với các các cư dân
nông thôn tại các trung tâm HTCĐ của SV HVNN Việt Nam, từ đó đề ra các
biện pháp nhằm khắc phục những tồn tại, nâng cao KNGT với các cư dân
nông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình GD KNGT với các cư dân nông thôn
tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam.
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp GD KNGT với các cư dân nông
thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam.
8
4. Giả thuyết khoa học
KNGT của SV với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ còn
thiếu tính chủ động trong quá trình giao tiếp. Nếu đưa ra được các biện pháp
Phân tích các vấn đề liên quan tới đề tài như các quan điểm, các lý
thuyết của các tác giả, các công trình nghiên cứu. Từ đó, hệ thống lại các vấn
đề lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở lý
luận, khái niệm, công cụ của đề tài.
Cách tiến hành: Tìm hiểu, đọc, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ
thống hóa những tài liệu (trong và ngoài nước) có liên quan tới đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra
Mục đích sử dụng phương pháp là thông qua các phiếu hỏi nhằm tìm
hiểu nhận thức về ý nghĩa của KNGT nói chung và KNGT với các cư dân
nông thôn tại các trung tâm HTCĐ nói riêng. Các hình thức GD KNGT cho
SV, GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ của HVNN
Việt Nam, nội dung GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm
HTCĐ. Tìm ra thực trạng GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung
tâm HTCĐ của SV HVNN Việt Nam, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng
cao các KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV.
Cách tiến hành: Thiết kế phiếu điều tra, sau đó phát cho GV, SV nhằm
thu thập số liệu, làm căn cứ để phân tích đề tài.
7.3. Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát các hoạt động cũng như cách thức giao tiếp của SV
để có thêm căn cứ đánh giá khách quan, chính xác hơn về nội dung nghiên
cứu trong đề tài.
10
7.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
Thu thập thông tin bằng cách trao đổi trực tiếp một số GV đưa SV đi
thực tập và SV khi tham gia giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung
tâm HTCĐ. Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ, làm tăng độ tin cậy và sức thuyết
phục của phương pháp điều tra.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà GD, triết học đã quan tâm đến các vấn đề
giao tiếp. Khổng Tử (551 - 497 trước công nguyên) là một triết gia, là một
nhà GD lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại, người khẳng định: “Đọc thuộc ba
trăm thước kinh thư giỏi, giao việc đi sứ không có KN đối đáp, học kiểu như
vậy chẳng có ích gì”. Tư tưởng đó của Khổng Tử cho thấy ngoài việc học
kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa còn phải học cách giao tiếp để giao
tiếp thành công và hiệu quả trong công việc [4].
Theo J.A.Comenxki (1592-1670) nhà GD lỗi lạc người Nga ông khẳng
định: “học tập không phải là lĩnh hội kiến thức bên trong sách vở mà còn lĩnh
hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, cầy sồi, cây dẻ”. Điều này càng khẳng định
12
một lần nữa ngoài việc học lấy kiến thức chuyên môn, người học cần phải
biết cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, mọi vật xung quanh [32].
Từ những năm đầu của thế kỷ XX, có nhiều nhà triết học, tâm lý học,
xã hội học đã tiếp tục quan tâm đến lĩnh vực giao tiếp. Nhà triết học và tâm lý
học người Mỹ G.Mít, nhà bác học người Đức C.Giaspe, nhà triết học Nhật
Bản Mactin Babo… đã có những nghiên cứu trong lĩnh vực giao tiếp. Trong
đó, các nhà nghiên cứu khoa học cũng chú ý về hiện tượng tiếp xúc giữa con
người với con người [32].
Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ trước, hàng loạt các nhà tâm lý
học hiện đại, với nhiều công trình nghiên cứu, đã đưa ra phạm trù giao tiếp
như là một phạm trù cơ bản. Nó được thể hiện trong các công trình “giao tiếp
là vấn đề của tâm lý học đại cương” của B.Ph.Lotnov, “tâm lý học giao tiếp”
của AA.Bodaliov [32].
Một trong bốn trụ cột của nền GD toàn cầu trong thế kỷ XXI đã được
UNESCO đề xuất “học để chung sống” và được coi là một trong những trụ
cột quan trọng, then chốt của GD hiện đại. Câu hỏi đặt ra là “KN nào là cần
Development Canada – HRSDC)”. Bộ này đã nghiên cứu và đưa ra danh sách
21 KN cần thiết nhất cho người lao động, và KNGT cũng là KN đầu tiên
được Bộ này đề cập tới [29].
Các nhà GD, triết học, tâm lý học, xã hội học… đã có những quan điểm
cách nhìn về vấn đề giao tiếp và KNGT. Những luận điểm quan trọng đó là
một quá trình phát triển và các nhà nghiên cứu trên thế giới luôn tìm tòi để
hoàn thiện trong quá trình GD và GD KNGT.
1.1.2. Tại Việt Nam
Trong lịch sử phát triển của dân tộc, của nhà nước Việt Nam, vấn đề
giao tiếp đã được coi trọng, nó được coi là nền tảng, là một trong những tiêu
chuẩn, thước đo đánh giá nhân cách, đạo đức của con người, là biểu hiện của
nét đẹp văn hóa “tiền của phân giàu nghèo, giao tiếp phân tầng văn hóa”.
14
Người Việt xưa ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Quốc qua tác động bởi
sự đô hộ gần một nghìn năm của phương Bắc, tác động của Khổng giáo, họ
có những biểu hiện giao tiếp hoàn toàn khác nhau với cách giao tiếp của
người Việt Nam hiện đại. Trong hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội, con
người luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau và những hoạt động giao tiếp được
mỗi người quan tâm, nó được lưu truyền, gìn giữ, dạy và học… giữa mọi
người trong xã hội [17].
Tại Việt Nam, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, có nhiều bài
viết và công trình nghiên cứu về vấn đề giao tiếp dưới góc độ tâm lý học của
các nhà tâm lý học có thể chia thành một số hướng nghiên cứu như sau:
- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu bản chất tâm lý học của giao tiếp, đặc
điểm giao tiếp của con người, chỉ ra nội dung, phương tiện giao tiếp… có
công trình của Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,
Nguyễn Ngọc Bích, Trần trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy…[24][42][47].
KN sống liên quan đến KNGT cho học sinh miền núi phía Bắc, đồng thời đề
xuất giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung này [33].
Luận án tiến sĩ khoa học GD với đề tài “Phát triển môi trường giao
tiếp cho SV sư phạm ở các trường cao đẳng miền núi phía Bắc” của tác giả
Đoàn Thị Cúc (2013) cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giao
tiếp của SV, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục [12].
Luận án tiến sĩ với đề tài “KNGT sư phạm của SV các ngành sư phạm
trường Đại học sư phạm Đại học Đà Nẵng” của tác giả Lê Duy Hùng (2009)
đã nêu ra ba nhóm kỹ năng chính: KN định hướng giao tiếp, KN điều khiển
bản thân, KN điều khiển đối phương [27].
Luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “Hệ thống kỹ năng giảng dạy trên
lớp về môn giáo dục học và quy trình rèn kỹ năng đó cho sinh viên khoa Tâm
lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Như An (1993) [1].
16
Luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “GD KN sống cho học sinh trung
học phổ thông thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp” của tác giả Phan
Thanh Vân (2010) cũng chỉ ra được những KN sống cơ bản cho học sinh
trung học phổ thông trong các hoạt động trải nghiệm ngoài giờ lên lớp [50].
Năm 2010, tập thể tác giả do Nguyễn Hữu Độ làm chủ biên đã biên
soạn tài liệu “GD nếp sống thanh lịch – văn minh cho học sinh Hà Nội” và đã
thí điểm đối với học sinh lớp 5 qua thực hiện các KNGT ứng xử trong mối
quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội. Đây là một tài liệu có tính thực tiễn
trong GD KNGT cho học sinh tại Hà Nội [20][8].
Hà Thị Thư đã nghiên cứu đề tài “KN tổ chức giao tiếp nhóm của SV
ngành công tác xã hội” đăng trên tạp chí Tâm lý học xã hội số 10, trang 3646/2015. Trong bài viết tác giả có đề cập tới KNGT của SV khi làm việc
nhóm, đặc biệt đó là KN thu hút/lôi cuốn mọi người trong nhóm [43].
Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về KNGT trong một số lĩnh vực,
cận bằng sử dụng PRA và RRA [46],.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu ở trên dù mang tính khái
quát hay phân tích chuyên sâu về một khía cạnh nào đó trong quản lý GD nói
chung và GD KNGT nói riêng đều là những công trình có giá trị về mặt lý
luận và thực tiễn trong GD KNGT cho học sinh, SV. Nhưng, đến nay chưa có
đề tài hay nghiên cứu nào về GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các
trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu thực
trạng để đề xuất những giải pháp đẩy mạnh GD KNGT cho SV là có ý nghĩa.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Giao tiếp
Giao tiếp là điều kiện tất yếu cho sự phát triển và tồn tại của con người.
Nó đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của
mỗi cá nhân, giao tiếp ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của mỗi
18
con người. Không ai có thể hình thành và phát triển nhân cách hoàn thiện mà
không cần giao tiếp. Vậy giao tiếp là gì?
Theo LX.Vưgôtxki: “Giao tiếp là sự thông báo hoặc là quan hệ qua lại
một cách thuần túy giữa người với người như là một sự trao đổi quan điểm
và cảm xúc” [48].
Theo Panferov: “Giao tiếp là sự tác động qua lại, trao đổi thông tin,
nhờ sự giúp đỡ của những phương tiện khác, của sự thông báo với mục đích
xây dựng mối quan hệ qua lại có lợi đối với hoạt động chung” [48].
Theo BB.Bôgôxlovxki: “Giao tiếp là sự tác động qua lại giữa con
người với con người trong đó diễn ra sự tiếp xúc tâm lý, biểu hiện sự trao đổi
thông tin, rung cảm lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau”.
Đây là khái niệm tiến bộ nhất vì đã nên lên được bản chất và chức năng của
tâm lý [9].
phát triển của các mối quan hệ. Loại hình giao tiếp này trong cuộc sống thực
tế là vô cùng phong phú, trên cơ sở những thông tin có được và để giải toả
xung đột mỗi cá nhân.
Nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của giao tiếp, tác giả Trần Trọng Thủy
quan niệm: “giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không
có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà là trong đó, các cảm xúc và tư
tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng phi ngôn ngữ”. Khái niệm
giao tiếp của tác giả được khai thác là một quá trình có chủ định hoặc không
chủ định, thực hiện bằng lời hoặc không bằng lời, có thể kiểm soát được và có
thể không kiểm soát được bằng ý thức con người [42].
Tiếp cận dưới góc độ mối quan hệ liên nhân cách của con người, tác giả
Nguyễn Quang Uẩn viết: “giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và
người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về tình cảm, tri
giác lẫn nhau. Hay nói cách khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các mối
quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này
20
với chủ thể khác”. Ở đây, tác giả đã xem giao tiếp như điều kiện của sự tồn tại
và phát triển của con người. Thông qua giao tiếp, các mối quan hệ của con
người được phát triển [47].
Tóm lại: Từ các cách hiểu khái quát về giao tiếp, dựa vào nội hàm của
giao tiếp chúng ta có thể hiểu giao tiếp một cách cụ thể như sau: Giao tiếp là
quá trình tiếp xúc, quan hệ giữa con người với con người, nhằm mục đích
trao đổi các thông tin, hiểu biết lẫn nhau, tâm tư tình cảm của nhau.
1.2.2. Kỹ năng
KN là một vấn đề rất phức tạp. Cho tới thời điểm này trên thế giới và ở
ngay trong nước ta cũng có những cái nhìn, những khía cạnh, những quan
điểm khác nhau về KN:
kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã
hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt
qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội.
GD là “KN” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội, xã hội không chỉ tồn
tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy.
John Dewey, cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục
tiêu cuối cùng của việc GD, là dạy dỗ [36].
Theo Nguyễn Văn Hộ (2002): GD là một hiện tượng xã hội, trong đó
một tập hợp xã hội (nhóm) đã tích lũy được vốn kinh nghiệm nhất định truyền
đạt lại cho nhóm xã hội khác nhằm giúp họ tham gia vào đời sống xã hội,
giúp họ hiểu được các chuẩn mực, khuôn mẫu, giá trị xã hội để trở thành
những nhân cách phù hợp với đòi hỏi của lợi ích xã hội. Đây chính là nét đặc
trưng cơ bản của GD với tư cách là hiện tượng xã hội [25].
Theo Nguyễn Văn Hộ (2002): GD là hiện tượng xã hội đặc biệt của xã
hội loài người, một hiện tượng có mục đích và chỉ có xã hội loài người mới
22
có. Các hiện tượng GD đó được nảy sinh ngay từ khi có xã hội loài người và
nhu cầu cấp thiết của sự phát triển xã hội. Nhờ đó các thế hệ sau chiếm lĩnh
được kinh nghiệm, những tri thức có thể giúp họ tham gia tích cực vào mọi
hoạt động trong cuộc sống và những lĩnh vực hoạt động khác, làm cho xã hội
loài người luôn tồn tại và phát triển không ngừng [25].
Như vậy: GD là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục
đích phát triển con người và phát triển xã hội.
1.2.4. Giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung
tâm học tập cộng dồng cho sinh viên
* Kỹ năng giao tiếp
KNGT là một trong những KN mềm cực kỳ quan trọng trong thế kỷ
hành động liên quan đến việc hình thành mối quan hệ hợp tác giữa chủ thể và
đối tượng giao tiếp, giữa đối tượng giao tiếp với nhau”. Ở đây, KNGT được
hiểu là nhóm KN hỗ trợ cho người giao tiếp nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt
động giao tiếp trong xã hội. Trong xã hội và trong hoạt động giao tiếp của con
người, KNGT là khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng biểu cảm của con
người, với sự phối hợp hài hòa giữa lời nói và cử chỉ của chủ thể và đối tượng
giao tiếp [32].
Tóm lại: KNGT là năng lực tiến hành các thao tác, hành động, kể cả
năng lực thực hiện xúc cảm, thái độ nhằm giúp chủ thể giao tiếp trao đổi
thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp một cách hiệu quả nhất
nhằm đạt được mục đích giao tiếp.
* Giáo dục kỹ năng giao tiếp
GD KNGT là quá trình tổ chức các hoạt động GD nhằm giúp người học
hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận và xử lý
24
thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong mối quan hệ của SV với mọi
người xung quanh.
* Giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung
tâm học tập cộng đồng cho sinh viên
GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ là quá
trình tổ chức các hoạt động GD nhằm giúp SV hình thành và rèn luyện các
thao tác và hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lý thông tin bằng ngôn ngữ và
phi ngôn ngữ để hướng dẫn, định hướng, trao đổi, cũng như hình thành các
KNGT khi tiếp xúc với cư dân nông thôn.
1.2.5. Sinh viên
* Khái niệm
SV là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó