BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM NGỌC CƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, THÁI ĐỘ TRONG
CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHỐ NỐI NĂM 2020
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM NGỌC CƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, THÁI ĐỘ TRONG
CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHỐ NỐI NĂM 2020
Chuyên ngành : Điều Dưỡng
ĐD
: Điều Dưỡng
KNT
: Kiến thức- Kĩ năng- Thái độ
NB
: Người bệnh
NC
: Nghiên cứu
PVS
: Phỏng vấn sâu
QUT
: Queensland University of Technology
( Trường Đại Học Công Nghệ Queensland)
VT
: Vết thương
nghiệp của người ĐD và giải quyết các sai phạm về đạo đức và hành nghề ĐD.
Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (BVHNVĐ) là một trong những bệnh viện đầu
tiên tại Việt Nam tiến hành đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của ĐD
bệnh viện về CSVT theo chuẩn năng lực. Bệnh viện Việt Đức đã xây dựng chương
trình đào tạo căn cứ Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam. Sau 12 tháng
đào tạo, điểm trung bình kiến thức và thực hành sau đào tạo đều tăng có ý nghĩa
thống kê (p< 0,0001). Mức độ tự tin của điều dưỡng viên trong thực hành chăm sóc
vết thương cũng tăng có ý nghĩa ở 12/13 nội dung (p< 0,001) [3] [4]. Theo kết quả
7
nghiên cứu, sau can thiệp tỷ lệ ĐD có năng lực thực hành đạt tăng cao so với trước
can thiệp (p< 0,001). Các chỉ số hiệu quả của năng lực nhận định, năng lực lập kế
hoạch, năng lực thực hiện kế hoạch và năng lực đánh giá lần lượt là 31,9%, 43,3%,
71,3% và 28,3% (p< 0,001). Kết quả nghiên cứu cho thấy chương trình đào tạo
chăm sóc vết thương theo chuẩn năng lực bước đầu có hiệu quả [5]. Cần tiếp tục
đào tạo và nhân rộng chương trình đào tạo này để nâng cao kiến thức và thực hành
cho đội ngũ điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh có vết thương tại các cơ sở y
tế khác.
Bệnh viện đa khoa Phố Nối là bệnh viện hạng II với quy mô 400 giường
bệnh, có cơ sở hạ tầng khang trang, có thiết bị y tế hiện đại đồng bộ và là nơi khám
chữa bệnh tuyến tỉnh của tỉnh Hưng Yên. Mỗi ngày, bệnh viện thực hiện thực hiện
khoảng 30 ca mổ thuộc nhiều chuyên khoa. Riêng ĐD cần thực hiện chăm sóc một
số lượng tương đối các vết thương mỗi ngày. Tuy vậy cho đến nay, chưa có một
khảo sát hoặc nghiên cứu nào về CSVT tại BVĐKPN để làm sơ sở xây dựng các
chương trình đào tạo.
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng kiến thức,
kỹ năng, thái độ trong chăm sóc vết thương của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa
khoa Phố Nối năm 2020” nhằm hai mục tiêu:
9
1.1.1.2. Khái niệm vết thương
Vết thương hình thành do nhiều nguyên nhân như: Chấn thương (cơ học, hóa
học, vật lý), có chủ đích (trong phẫu thuật), thiếu máu (vết thương loét do tắc mạch)
hay chèn ép. Dù là chấn thương hay VT có chủ đích thì đều gây ra hiện tượng vỡ
mạch, chảy máu và hình thành các cục máu đông. Đối với những VT có nguyên
nhân do tắc mạch và chèn ép, nguồn cung cấp máu bị gián đoạn bởi sự tắc nghẽn vi
tuần hoàn tại chỗ [8] [9].
1.1.1.3. Khái niệm vết thương cấp tính
Vết thương cấp tính là VT xảy ra nhanh và trong thời gian ngắn, bao gồm VT
phẫu thuật và VT chấn thương. Vết thương cấp tính có thể xảy ở mọi lứa tuổi và
liền thương nhanh mà không có biến chứng [9].
1.1.1.4. Khái niệm vết thương mãn tính
Vết thương mãn tính là những VT không liền theo một trật tự thời gian tương
đối để mang lại sự toàn vẹn về giải phẫu và chức năng [10].
1.1.1.5. Khái niệm vết thương phần mềm
Căn cứ các yếu tố bên ngoài tạo nên, VT phần mềm được chia thành bốn loại
theo mức độ tổn thương: Đụng dập (bầm tím); Mài mòn (trầy xước da); Rách (xé
rách) và rạch (cắt) [11]. Về mặt lý thuyết VT còn được phân loại thành mãn tính,
cấp tính và VT phẫu thuật [10]. Tuy nhiên trong thực hành lâm sàng, VT được phân
thành: Vết thương sạch, VT sạch nhiễm, VT nhiễm khuẩn và VT bẩn [1-12]
Vết thương sạch: VT hoặc vết mổ không liên quan đường hô hấp, tiêu hóa
hoặc tiết niệu thực hiện trong điều kiện vô khuẩn, không bị nhiễm khuẩn, không có
ống dẫn lưu.
Vết thương sạch nhiễm: VT có mở qua đường hô hấp, tiêu hóa, sinh dục, tiết
niệu, có kèm ống dẫn lưu.
Vết thương nhiễm khuẩn: Bao gồm các loại VT gây ra do tai nạn, dập nát, vết
mổ trên bệnh lý nhiễm khuẩn ví dụ: Viêm ruột thừa, chấn thương ruột v.v.
Vết thương bẩn: VT hoặc vết mổ đã có mủ và tổ chức hoại tử và có nguồn gốc
nhiệm vụ dọn dẹp những vật thể lạ xâm nhập vào vết thương bằng hiện tượng thực
bào, quá trình này diễn ra trong 24-48h. Sau đó những đại thực bào do bạch cầu đơn
nhân sẽ thay thế cho bạch cầu đa nhân trung tính ở trên vừa có tác dụng loại bỏ
những vật ngoại lai còn lại vừa có tác dụng thúc đẩy các yếu tố tăng trưởng (một
trong những yếu tố quan trọng trong quá trình liền vết thương).
Khi cơ thể có dấu hiệu suy giảm hệ thống miễn dịch làm số lượng đại thực bào
bị suy giảm, từ đó suy yếu quá trình loại bỏ vật thể lạ cũng như làm chậm quá trình
lành vết thương.
Giai đoạn tăng sinh
Sau giai đoạn cầm máu và loại bỏ tạp chất thì giai đoạn tăng sinh bắt đầu diễn
ra ( thường ở ngày thứ 2 sau khi bị thương)
Tăng sinh nguyên bào sợi: quá trình này diễn ra khi những nguyên bào sợi
ở những vùng xung quanh di chuyển tới vết thương, những nguyên bào sợi này
tăng sinh, kết hợp với collagen, proteoglycan, glycosamin sẽ hình thành lên chất
nền mô liên kết của tế bào hạt. Thời kỳ này đại thực bào giảm số lượng nhanh
chóng và thay thế vào đó là nguyên bào sợi, thường diễn ra trong vòng 7- 14
ngày sau khi bị thương.
Hình thành mô liên kết: trong quá trình tăng sinh, nguyên bào sợi kết hợp với
collagen hình thành lên chất nền mô liên kết, thúc đẩy quá trình hình thành cấu trúc
mô khi bị tổn thương và tạo ra độ bền vững cho vết thương. Bên cạnh đó collagen
còn thúc đẩy quá trình hình thành chất nền mô liên kết trung bì giúp cho cytokin và
các yếu tố tăng trưởng hoạt động.
12
Hình thành mao mạch: vết thương muốn lành nhanh cần có dinh dưỡng từ
máu thông qua hệ thống mao mạch. Từ hoạt động của các đại thực bào và nguyên
bào sợi giúp kích thích hình thành các tế bào nội mô và các mầm mao mạch, tạo ra
hệ thống mao mạch mới nuôi dưỡng vết thương.
cytokine tiền viêm và các yếu tố tăng trưởng như chuyển yếu tố tăng trưởng
(TGF) -β, yếu tố tăng trưởng tiểu cầu có nguồn gốc từ (PDGF), yếu tố tăng
trưởng nguyên bào sợi (FGF), và yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF). Khi chảy
máu được kiểm soát, các tế bào viêm di chuyển vào vết thương (hoá hướng) và
thúc đẩy giai đoạn viêm, được đặc trưng bởi sự xâm nhập tuần tự của bạch cầu
trung tính, đại thực bào, và tế bào lympho [14] [15].
Đại thực bào đóng nhiều vai trò trong việc làm lành vết thương. Trong vết
thương sớm, các đại thực bào giải phóng các cytokine mà thúc đẩy các phản ứng
viêm bằng cách tuyển dụng và kích hoạt bạch cầu bổ sung. Đại thực bào cũng chịu
trách nhiệm gây và thanh toán bù trừ các tế bào apoptosis (bao gồm bạch cầu trung
tính), do đó mở đường cho việc giải quyết các tình trạng viêm. Bằng cách này, các
đại thực bào thúc đẩy việc chuyển đổi sang giai đoạn tăng sinh chữa bệnh.
Thêm vào đó các tế bào T-lymphocyte di chuyển vào vết thương sau các
tế bào viêm và các đại thực bào, và đỉnh cao trong thời gian / giai đoạn cuối
tăng sinh sớm tái tạo cấu trúc. Đến nay vai trò của T-lymphocyte chưa hoàn
toàn được hiểu rõ và là một vấn đề của những nghiên cứu chuyên sâu. Một số
nghiên cứu cho thấy rằng chậm xâm nhập tế bào T cùng với giảm nồng độ tế
bào T ở vị trí vết thương có liên quan đến lành vết thương bị suy yếu, trong khi
những người khác đã thông báo rằng CD 4+ tế bào (tế bào T-helper) có một vai
trò tích cực trong việc làm lành vết thương và CD8 + tế bào (tế bào T-ức chếgây độc tế bào) đóng một vai trò ức chế trong việc làm lành vết thương.
Giai đoạn tăng sinh thường sau và trùng với giai đoạn viêm, và được đặc
trưng bởi sự tăng sinh biểu mô và di cư qua ma trận tạm thời trong vết thương
(tái tạo biểu mô). Trong lớp hạ bì, các nguyên bào sợi và tế bào nội mô là các
loại tế bào nổi bật nhất hiện nay và hỗ trợ tăng trưởng mao mạch, sự hình thành
collagen, và sự hình thành của mô hạt ở vị trí chấn thương. Trong ổ vết thương,
các nguyên bào sợi sản xuất collagen cũng như glycosaminoglycans và
proteoglycans, đó là thành phần chính của ma trận ngoại bào (ECM). Sau sự
14
khả năng, phòng ngừa bệnh tật và chấn thương, giảm đau thông qua chẩn đoán và
15
điều trị bệnh cho con người, và quá trình vận động chăm sóc cá nhân, gia đình, cộng
đồng và tập thể [10]. Ngoài ra chăm sóc ĐD còn là quá trình xây dựng môi trường
an toàn, cũng như quá trình làm việc, nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho xây
dựng sách và hệ thống quản lý y tế.
1.1.3. Khái niệm chăm sóc vết thương
Chăm sóc VT là kĩ thuật cơ bản trong CSNB của ĐD. CSVT tốt giúp NB phục
hồi sức khỏe nhanh chóng, kiểm soát nhiễm khuẩn, giảm thời gian nằm viện, giảm
chi phí điều trị, tăng niềm tin của NB vào chăm sóc y tế và nhân viên y tế [1].
1.2. Chăm sóc vết thương
1.2.1. Kỹ thuật chăm sóc vết thương
1.2.1.1. Đánh giá nhận xét người bệnh và vết thương
Các kỹ thuật trong CSVT gồm đánh giá NB, đánh giá VT, đánh giá môi
trường CS, thực hiện quy trình thay băng VT.
1.2.1.2. Kỹ thuật chăm sóc vết thương
Chăm sóc VT có thể từ đơn giản đến phức tạp. Để làm tốt CSVT, ĐD cũng
cần phải có sự hiểu biết sử dụng các loại băng gạc CSVT phù hợp giúp cho quá
trình liền VT thuận lợi.
1.2.2. Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc vết thương
Trong NC của Törnvall E và Wilhelmsson S về chất lượng chăm sóc ĐD qua
phỏng vấn NB có vết loét ở chân cho thấy, NB đánh giá chất lượng chăm sóc ĐD là
rất cao. Tuy nhiên, NB cho rằng họ cần được CS liên tục và giảm đau tốt hơn Trong
một NC khác của Huynh T về đánh giá vai trò của ĐD trong quá trình liền thương
1.2.3.1. Vai trò của dinh dưỡng trong quá trình liền thương
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong quá trình liền thương. Suy dinh
dưỡng làm cho chậm liền VT, đặc biệt là trong giai đoạn đầu. Chế độ dinh dưỡng
hợp lý cải thiện liền thương trong một tuần [25]. Có thể thấy liền VT phụ thuộc vào
dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng do thiếu năng lượng và đạm mức độ vừa hay nặng,
thường gặp ở những NB mắc bệnh nặng, kéo dài làm giảm khả năng liền thương.
Thiếu protein sẽ dẫn tới việc giảm hình thành mao mạch mới, giảm tăng sinh tế bào
sợi sản xuất proteoglycan và giảm tổng hợp collagen dẫn đến chậm liền thương là
vấn đề quan trọng. Do vậy dinh dưỡng đủ để cung cấp protein giúp cho liền VT.
17
Trong số các acid amin, arginine là thành phần kích thích liền VT và chức năng
miễn dịch. Cơ chế tác động có thể được điều chỉnh một phần bằng cách tăng bài tiết
hóoc môn tăng trưởng. Các dưỡng chất khác có cơ chế liền thương phức tạp gồm
vitamin A, C, E cũng như yếu tố vi lượng (kẽm, đồng, selen, magne). Vai trò của sắt
được nhắc đến nhiều vì nếu thiếu máu nặng làm giảm khả năng liền thương [25].
Tình trạng thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng bệnh và tính mạng của
NB [26]. Correia và Waitzberg (2003) thực hiện một phân tích đa biến về ảnh
hưởng của tình trạng thiếu dinh dưỡng đối với NB nội trú đã nhận thấy tỷ lệ tử vong
của NB tăng lên 12,4% so với 4,7% ở nhóm được dinh dưỡng đầy đủ. Chi phí nằm
viện tăng lên đến 308,9% [27]. Nghiên cứu EuroOOPS theo dõi kết quả điều trị
của 5.051 NB ở 26 bệnh viện thuộc 12 quốc gia tại Châu Âu và Trung Đông. Họ
nhận thấy những NB được xác định nguy cơ suy dinh dưỡng cao có tỷ lệ biến chứng
cao hơn đáng kể, thời gian nằm viện lâu hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn [28]. NB cao
tuổi có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn. Guigoz và cộng sự (2002) thấy thiếu dinh
dưỡng ở 20% NB nằm viện trong một khảo sát hơn 10.000 người cao tuổi ở Thụy Sĩ
trong cộng đồng, nhà dưỡng lão và bệnh viện [29]. Nguyên nhân khởi phát của tình
trạng thiếu dinh dưỡng có thể là các bệnh lý gây suy nhược, đặc biệt là bệnh lý
khoa học. Hồ sơ bệnh án được ghi chép đầy đủ, chính xác, có hệ thống không chỉ
giúp cho những công việc mang tính chất pháp lý mà còn giúp cho công tác chẩn
đoán, điều trị, phòng bệnh, chăm sóc, NC khoa học và đào tạo đạt kết quả cao. Nó
cũng giúp cho việc đánh giá chất lượng về điều trị, chăm sóc, tinh thần trách nhiệm
và khả năng của nhân viên y tế [12] Theo quy chế bệnh viện về công tác chuyên
môn thì các cơ sở y tế là phải hoàn thành HSBA chính xác và đầy đủ điều đó quan
trọng trong quá trình điều trị [32] . Hoàn chỉnh HSBA là một trong 14 quy chế
chuyên môn do Bộ Y tế quy định trong “Quy chế bệnh viện” ban hành theo Quyết
định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 nhằm đảm bảo những nguyên tắc
chuyên môn trong khám và điều trị bệnh . Đảm bảo chất lượng HSBA thể hiện chất
lượng dịch vụ y tế được kiểm soát.
1.2.3.3. Kiến thức, kỹ năng, thái độ của ĐD về CSVT trên thế giới
Trên thế giới có nhiều NC về kiến thức và thực hành của ĐD về CSVT. Những
NC gần đây cho thấy cả kiến thức lẫn thực hành CSVT của ĐD ở mức khá cao và
có ảnh hưởng đến chất lượng điều trị. Nghiên cứu của Nagwa Younes Abou El
Enein và Ashraf Ahmad Zaghloul (2010) tại bệnh viện bảo hiểm y tế Alexandria, Ai
19
Cập cho thấy điểm kiến thức về phòng và quản lý VT do loét tì đè đạt tới 70%
[33]. Nghiên cứu của Geraldine về kiến thức quản lý và CSVT của ĐD cho thấy chỉ
có 38,6% nhân viên y tế cập nhật kiến thức về CSVT trong 2 năm. ĐD có kiến thức
quản lý VT càng tốt và có cập nhật kiến thức thì khả năng đánh giá VT càng tốt
(p
hạt hình thành trong quá trình tăng sinh của quá trình lành vết thương. Chỉ có 67%
ĐD cho rằng mô hạt và biểu mô hình thành trong pha viêm cấp tính của quá trình
liền thương. 40% (58 ĐD) trả lời sai và 14% (20 ĐD) lựa chọn đáp án ‘không biết.’
82% (119 ĐD) có kiến thức đúng về sự tiến triển đúng trong quá trình sinh trưởng
của vi khuẩn trong VT và 88% (126 ĐD) trả lời đúng câu hỏi về mục đích điều trị
chính đối với VT nhiễm khuẩn Tụ cầu vàng kháng Methicillin.
Về năng lực đánh giá VT, kết quả NC cho thấy ĐD đánh giá năng lực của họ ở
mức độ trung bình về đánh giá VT. 40% đánh giá năng lực ở mức thấp (
độ từ Cao đẳng và trên Cao đẳng có năng lực thực hành cao hơn Điều dưỡng có
trình độ dưới Cao đẳng [41].
Cũng trong NC của Phan Thị Dung (2018), NC đánh giá kiến thức, kĩ năng,
thái độ của điều dưỡng về CVVT theo chuẩn năng lực ĐD Việt Nam tại Bệnh Viện
Đa Khoa Nông Nghiệp cho thấy điểm trung bình kiến thức CSVT của ĐD là (116+
16,65) trên tổng số 167 điểm. Điểm trung bình các nội dung đáng giá thái độ ở mức
thấp 2,2 đến 4,7. Điểm trung bình các nội dung đánh giá thái độ ở mức thấp 1,16
đến 4,90. ĐD còn hạn chế kiến thức, kĩ năng, thái độ về CSVT [42].
1.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành của ĐD về CSVT
Theo nhiều NC của các tác giả, kiến thức và thực hành CSVT của ĐD có một
số yếu tố tác động hoặc ảnh hưởng như: tuổi, giới, thâm niên công tác, trình độ ĐT
v.v.
1.2.4.1. Giới tính
Theo nghiên cứu của Angelillo (1999) cho kết quả kiến thức về kiểm soát
nhiễm khuẩn tại phòng mổ của ĐD nam cao hơn nữ và có ảnh hưởng đến kết quả
CSVT [43] [44].
1.2.4.2. Thâm niên công tác
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, ĐD có nhiều năm kinh nghiệm thực hành
CSVT tốt hơn so với nhóm ĐD ít năm kinh nghiệm. Theo Hadcock (2002), có một
số lượng lớn ĐD có kiến thức về CSVT, đặc biệt là các ĐD lâu năm có nhiều kinh
nghiệm tốt hơn không chỉ lĩnh vực CSVT [45]. Hassan H và cộng sự (2009) khi
tiến hành NC nhận thức của 92 ĐD về những thiếu sót trong thực hiện thuốc ở
Malaysia kết quả có 93,75% ĐD cho rằng thiếu sót thường xảy ra trong 5 năm làm
việc đầu tiên của họ [46]. Nghiên cứu của Westbrook J.I và cộng sự (2011) về
những thiếu sót xảy ra trong tiêm tĩnh mạch ở bệnh viện và kinh nghiệm của 107
ĐD tại Anh cho thấy, ĐD có nhiều năm kinh nghiệm hơn sẽ mắc ít thiếu sót hơn
[47]. Tuy nhiên, NC của Williamson và Gupta (2001) lại chỉ ra điều ngược lại khi
năng lực thực bào giảm đại thực bào [18]. Nhìn chung, có sự khác biệt toàn cầu
trong việc làm lành vết thương giữa các cá nhân trẻ và già. Một đánh giá của những
24
thay đổi liên quan đến tuổi trong khả năng chữa lành chứng minh rằng tất cả các
giai đoạn của chữa bệnh phải trải qua những thay đổi đặc trưng liên quan đến tuổi,
bao gồm tăng cường kết tập tiểu cầu, tăng bài tiết các chất trung gian viêm, trì hoãn
sự xâm nhập của các đại thực bào và tế bào lympho, chức năng đại thực bào bị suy
yếu, giảm bài tiết tăng trưởng yếu tố, trì hoãn tái tạo biểu mô, trì hoãn sự hình thành
mạch và lắng đọng collagen, giảm doanh thu collagen và tu sửa, và giảm sức mạnh
vết thương [13].
Cơ địa: Người bệnh béo phì liền VT chậm bởi mô mỡ hạn chế máu tới nuôi
dưỡng. Khi NB suy dinh dưỡng việc thiếu oxy và chất dinh dưỡng có thể hạn chế
liền VT [30]. Nhiều nghiên cứu có chỉ ra rằng nhiễm trùng vết mổ xảy ra ở
những bệnh nhân béo phì. Nhiều người trong số những biến chứng có thể là
một kết quả của hiện tượng giảm tưới máu tương đối hoặc thiếu máu cục bộ
xảy ra trong mô mỡ dưới da. Trong vết thương phẫu thuật, sự căng thẳng gia
tăng trên các cạnh vết thương đó là thường xuyên nhìn thấy ở những bệnh nhân
béo phì cũng góp phần vào vết thương nứt. căng thẳng vết thương làm tăng áp
lực mô, giảm sự vi lọc và sự sẵn có của oxy vào vết thương [52].
Việc tăng tỳ đè-loét áp lực hoặc chấn thương liên quan đến ở những người
béo phì cũng bị ảnh hưởng bởi tình trạng hạ huyết áp, vì tưới máu kém làm cho
các mô nhạy cảm hơn với loại chấn thương. Bên cạnh đó, những khó khăn hay
sự bất lực của các cá nhân béo phì để định vị bản thân hơn nữa làm tăng nguy
cơ chấn thương do tì đè. Hơn nữa, các nếp gấp da chứa vi sinh vật phát triển
mạnh trong khu vực ẩm ướt và đóng góp cho nhiễm trùng và tổn thương mô.
Nhìn chung, các yếu tố mang tính cá nhân như béo phì làm cho quá trình lành
vết thương bị suy giảm [53].
trùng, gây giao oxy ít hơn để vết thương, và cũng có thể làm cho bệnh nhân dễ bị
chảy máu quá mức tại vị trí vết thương.
Căng thẳng (stress): Các stress tâm lý hay sinh lý kích thích sự phóng thích
catecholamin, gây ra sự co mạch và cuối cùng làm giảm lưu lượng máu chảy đến
VT. Chấn thương, đau, và các bệnh cấp tính hay mãn tính đều có thể gây ra stress.
1.2.5.2. Vi khuẩn