BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
..........***.........
BỘ Y TẾ
HOÀNG THỊ PHƯƠNG NAM
MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
HỘI CHỨNG SẢNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA 2
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
..........***.........
HOÀNG THỊ PHƯƠNG NAM
MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
HỘI CHỨNG SẢNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Chuyên ngành: Lão khoa
Mã số:
[3]. Fong (2009) cũng nhận thấy người bệnh cao tuổi nhập viện vì sảng chiếm
tỉ lệ cao khoảng 14 - 56% trong tổng số bệnh nhân cao tuổi nhập viện và ít
nhất 20% trong số 12,5 triệu người bệnh trên 65 tuổi nhập viện mỗi năm ở
Mỹ trong tình trạng sảng [1].
Hội chứng sảng nếu không phát hiện sớm và có chiến lược điều trị phù
hợp thì có thể tiến triển nặng lên và người bệnh sẽ có nguy cơ tử vong. Dan K.
Kiely và cộng sự (2009) theo dõi các trường hợp có sảng trong 1 năm cho biết
tỉ lệ tử vong tăng dần theo thời gian: 3,6% chết trong khoảng từ 2 đến 4 tuần,
11,2% chết trong khoảng từ 4 tuần đến 12 tuần, 12,9% chết trong khoảng từ 12
tuần đến 26 tuần và 11,6% chết trong khoảng từ 26 tuần đến 52 tuần [4].
Mặc dù chưa xác định chính xác có mối liên quan giữa thời gian và tỉ lệ
tử vong hay không nhưng từ kết quả trên có thể thấy việc phát hiện sớm hội
chứng sảng có thể làm giảm thiểu tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên, phát hiện sớm hội
chứng sảng rất khó khăn. Khó khăn không chỉ đối với các bác sĩ đa khoa nói
chung mà còn với các bác sĩ cấp cứu nói riêng. Bởi vì, hội chứng sảng thường
bị bỏ sót hoặc bị chẩn đoán nhầm với các rối loạn tâm thần khác. Một số
nghiên cứu cho biết tại môi trường cấp cứu, phần lớn hội chứng sảng đã bị bỏ
7
qua tại thời điểm nhập viện [5]. Nghiên cứu tại khoa cấp cứu của Jin H. Han
và cộng sự (2009) ở những người bệnh trên 65 tuổi cho cho biết 76% các
trường hợp sảng không được bác sĩ chẩn đoán và hơn 90% các người bệnh
nhập viện vì sảng cũng bị bỏ qua tại thời điểm nhập viện [5]. Như vậy, xác
định chính xác đặc điểm hội chứng sảng là cần thiết giúp chẩn đoán đúng và
qua đó có những biện pháp can thiệp kịp thời. Nguyên nhân của hội chứng
sảng rất đa dạng và đa yếu tố. Sự xuất hiện và tiến triển của của hội chứng
sảng phụ thuộc nhiều vào sự xuất hiện và kết hợp của các yếu tố liên quan.
Các yếu tố liên quan có thể thúc đẩy sự xuất hiện của hội chứng sảng và cũng
nguồn từ tiếng Latin là “Deliro” hoặc “Delirare”. Thuật ngữ “Delirium” lần
đầu tiên được Aulus Cornelius Celsus sử dụng trong y học vào thế kỷ thứ nhất
sau công nguyên.
Thời kỳ cổ đại, theo Hippocrates và Celsus, sảng có thể là một triệu
chứng cũng có thể là một hội chứng. Hippocrates cho rằng sảng là những hiện
tượng bất thường về tâm thần do bị sốt, bị ngộ độc hoặc bị chấn thương đầu
gây ra [8, 9]. Hippocrates sử dụng 16 thuật ngữ để ám chỉ cho hội chứng lâm
sàng mà ngày nay gọi là sảng như là ληρος (leros), μανια (mania),
παραφροσυνη (paraphrosyne), παραληρος (paraleros), φρενιτις (phrenitis),
ληθαργος (lethargus)… Rất khó để tìm ra ý nghĩa chính xác của các thuật ngữ
này. Ví dụ: παραφροσυνη (paraphrosyne) có thể được sử dụng để mô tả một
sự điên rồ nhưng cũng được sử dụng để mô tả cho sự suy giảm hoặc mất ý
thức. Celsus cũng cho rằng sảng là những hiện tượng bất thường về tâm thần
và nguyên nhân là do bị sốt, ngộ độc hoặc chấn thương đầu. Nhưng ông còn
cho rằng sảng còn một nguyên nhân khác nữa là do rượu.
Thời kỳ trung cổ, theo Procopius, sảng được hiểu là những trường hợp
có biểu hiện ảo giác, bồn chồn bứt rứt, la hét, dễ nóng nảy, mất ngủ trở nên
hung bạo. Hoặc những trường hợp quên đi tất cả những người quen thuộc, rơi
vào trạng thái hôn mê, ngủ liên tục.
Vào thế kỷ 16, một đóng góp quan trọng trong những hiểu biết về sảng
là công trình của Ambroise Pare, một bác sĩ phẫu thuật. Ông nhận định sảng
9
là một biến chứng của phẫu thuật. Ông mô tả sảng là một tình trạng thoáng qua
thường xảy ra sau sốt và đau do vết thương, hoại thư và các hoạt động liên
quan đến chảy máu nghiêm trọng của bệnh nhân [10]. Vào giữa thế kỷ 18, sảng
được mô tả với các trường hợp mất ngủ, bồn chồn bất an, suy giảm trí nhớ, mất
liên lạc với môi trường, có hành vi giống trẻ con và có thể có phản ứng kích
2.2. Dịch tễ học sảng
1.2.1. Tuổi
Sảng có thể gặp ở mọi độ tuổi. Tuy nhiên tỉ lệ sảng tăng dần theo tuổi
và gặp nhiều nhất ở những người lớn tuổi. Năm 1981, Marshal Folstein và
cộng sự tiến hành một khảo sát Sức khỏe Tâm thần trên 3841 hộ gia đình tại
phía đông Baltimore. Kết quả cho thấy tỉ lệ sảng từ 18 tuổi trở lên khoảng
0,4%, tỉ lệ sảng từ 55 tuổi trở lên khoảng 1,08% và tỉ lệ sảng ở những người
từ 85 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 13,6%, tuổi trung bình của
nghiên cứu xấp xỉ 70,5 tuổi [11, 12]. Nghiên cứu của Melissa Andrew trong
năm 1991 trên 10000 người ở Canada cho biết mọi độ tuổi có thể mắc sảng
với tỉ lệ
ở 8 -17% trong tổng số những người cao tuổi được đưa đến khám và điều trị
tại khoa cấp cứu [16]. Theo hệ thống Chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm
thần – DSM, tỉ lệ xuất hiện sảng ước tính khoảng 10% - 30% ở những người
cao tuổi đến khoa cấp cứu.
Tại khoa hồi sức tích cực, sảng xuất hiện cao và đặc biệt với những
người cao tuổi. Nghiên cứu của Margaret Pisani và cộng sự (2003) trên 165
người nhập vào khoa hồi sức tích cực trong vòng 48 giờ cho biết tỉ lệ sảng
xuất hiện nhiều ở những người trên 65 tuổi và dao động từ 50 – 80% [19].
Theo Colin Harrington thì hơn 80% người bệnh thở máy tại khoa hồi sức tích
cực có tình trạng sảng [20]. Nghiên cứu của Timothy Girard và cộng sự
(2010) nhận thấy, trong tổng số 126 người bệnh thở máy tại khoa hồi sức tích
cực thì có tới 84% người bệnh có biểu hiện sảng [21]. Tamara Fong cho tỉ lệ
sảng ở khoa hồi sức cấp cứu cao hơn với 70 – 87% [1].
Ngoài ra, theo Giuseppe Bellelli thống kê trên 1867 người cao tuổi ở
108 khoa và 12 trung tâm phục hồi chức năng ở các bệnh viện ở Ý thấy có
22,9% bệnh nhân bị sảng. Trong đó tỷ lệ cao nhất ở khoa Thần kinh (28,5%),
tiếp đó đến Lão khoa chiếm tới 24,7%, khoa Nội khoảng 21,4% và thấp nhất
ở khoa Phục hồi chức năng (14%) [22]. Tỷ lệ sảng sau phẫu thuật dao động
từ 13% đến hơn 50%. Trong một phân tích tổng hợp gần đây từ 37 nghiên cứu
ở bệnh nhân trên 60 tuổi trải qua phẫu thuật cho thấy tỷ lệ mắc sảng sau phẫu
thuật là gần 19% [23, 24].
Tóm lại, các nghiên cứu dịch tễ sảng được tiến hành trên nhiều cộng
đồng, bệnh viện, trung tâm chăm sóc y tế khác nhau, sử dụng các tiêu chuẩn
chẩn đoán khác nhau và các công cụ hỗ trợ chẩn đoán khác nhau nên sẽ đưa
đến nhiều tỷ lệ khác nhau. Nhìn chung là tỉ lệ sảng gặp trong môi trường bệnh
viện cao.
13
14
1.3.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM 5
A. Rối loạn chú ý (tức là giảm khả năng điều khiển, tập trung, duy trì
và di chuyển sự chú ý) và rối loạn nhận thức (giảm khả năng định hướng với
môi trường)
B. Rối loạn tiến triển trong một khoảng thời gian ngắn (thường là vài
giờ đến vài ngày), biểu hiện sự thay đổi trong chú ý và nhận thức và có thể
tiến triển nặng lên trong ngày.
C. Có thêm sự rối loạn nhận thức (ví dụ: suy giảm trí nhớ, mất định
hướng, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn thị giác hoặc tri giác)
D. Các rối loạn trong tiêu chí A và C không phải là rối loạn thần kinh
đã tồn tại, được hình thành hoặc tiến triển từ trước và các rối loạn này không
xảy ra trên nền bệnh cảnh các kích thích giảm nghiêm trọng như hôn mê.
E. Có các bằng chứng từ hỏi tiền sử, khám lâm sàng hoặc phát hiện dựa
trên các xét nghiệm cận lâm sàng rằng rối loạn trên là hậu quả trực tiếp của
việc nhiễm độc hoặc do cai (ví dụ lạm dụng thuốc hoặc do thuốc) hoặc tiếp
xúc với độc tố, hoặc do nguyên nhân bệnh sinh khác.
Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD – 10
A. Có ý thức u ám, có nghĩa là giảm độ tỉnh táo của sự nhận biết về môi
trường xung quanh, giảm khả năng tập trung, duy trì hoặc thay đổi chú ý
B. Rối loạn nhận thức được biểu hiện bằng cả hai triệu chứng sau:
(1). Tổn thương trí nhớ tức thì và trí nhớ gần, với trí nhớ xa không bị
ảnh hưởng.
(2). Rối loạn định hướng về thời gian, không gian hoặc người xung quanh.
C. Ít nhất một trong các rối loạn tâm thần vận động sau xuất hiện:
(1). Sự dao động nhanh và không thể đoán trước từ giảm hoạt động
sang tăng hoạt động
và hoạt động thần kinh tự trị tăng mạnh [27].
16
Hiện nay, “hệ thống chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần” của
hiệp hội Tâm thần học Mỹ (DSM) và “phân loại quốc tế về bệnh tật” (ICD)
được sử dụng rộng rãi trên thế giới để làm tiêu chuẩn cho chẩn đoán sảng. Hai
tiêu chuẩn chẩn đoán sảng này có độ tin cậy cao. Ở Việt Nam, từ năm 1992,
Bộ Y tế cho phép sử dụng “Bảng phân loại thống kê về bệnh tật và các vấn đề
sức khỏe có liên quan” phiên bản thứ 10 (gọi tắt là ICD - 10) nhằm hướng dẫn
và chỉ đạo chẩn đoán các vấn đề về bệnh tật. Trong nghiên cứu này, chúng tôi
chỉ sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán trong ICD -10 dành cho nghiên cứu để
chẩn đoán các trường hợp có sảng.
1.3.2. Đặc điểm các triệu chứng sảng:
Các triệu chứng sảng phong phú, đa dạng và xuất hiện không theo qui luật.
1.3.2.1. Đặc điểm các triệu chứng ý thức và nhận thức
Ý thức là một hoạt động tổng hợp các quá trình tâm thần như cảm giác
tri giác, tư duy, phản ứng cảm xúc, trí nhớ. Ý thức có đặc tính phản ánh ở mức
cao nhất, toàn diện và chính xác nhất hiện thực khách quan. Trong lâm sàng
nhất là lâm sàng tâm thần học, ý thức được hiểu theo nghĩa hẹp hơn. Chủ yếu
ở đây là nghiên cứu mức độ sáng sủa, tỉnh táo của tâm thần, nghiên cứu mức
độ nhận thức của bệnh nhân về bản thân mình và mối liên hệ giữa bản thân
mình với môi trường xung quanh. Trong tâm thần học, đánh giá ý thức thường
chú trọng vào việc kiểm tra năng lực định hướng của bệnh nhân. Định hướng
không gian: Biết mình đang ở đâu, bệnh viện cách nhà bao nhiêu kilomet.
Định hướng thời gian: Biết ngày, tháng hiện tại, biết tính thời gian nằm viện
của mình. Định hướng bản thân: nắm được lý lịch về mình, biết trạng thái
bệnh tật của mình. Định hướng về những người xung quanh: hiểu được nhiệm
vụ của những người trong bệnh phòng: y tá, hộ lý, bệnh nhân. Trong sảng,
khuôn mặt vừa gặp. Trí nhớ gần là khả năng ghi nhớ và tái hiện lại được các
sự vật, hiện tượng trong vài giờ hoặc vài ngày. Trí nhớ xa là khả năng ghi nhớ
và tái hiện lại được các sự vật, hiện tượng từ nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều
năm [28]. Trong sảng, trí nhớ tức thì và trí nhớ gần rối loạn. Tuy nhiên, trí
18
nhớ xa vẫn còn tốt. Sau sảng, về cảnh sảng và cảnh thực, bệnh nhân nhớ rời
rạc, từng mảng, không đều [27].
Chú ý là năng lực tập trung các quá trình vào một hay một số đối tượng
hoặc hiện tượng nhất định để đối tượng hoặc hiện tượng ấy được phản ánh rõ
nét nhất và toàn vẹn nhất trong ý thức. Đây là quá trình hưng phấn ở những hệ
thống cấu trúc cơ động của bộ não tương ứng với kích thích bên ngoài hoặc
bên trong cơ thể và đồng thời xuất hiện quá trình ức chế những vùng không
cần thiết cho sự chú ý. Chú ý là một thành phần rất quan trọng trong hoạt
động có ý chí. Chú ý được chia làm 2 loại. Chú ý bị động (chú ý tự nhiên,
không theo ý muốn), ví dụ: đang làm bài tập nhưng có thể lắng nghe người
khác nói chuyện. Chú ý chủ động (chú ý có mục đích, đòi hỏi sự cố gắng), ví
dụ: làm bài tập toán. Các thuộc tính của chú ý là sự tập trung, tính ổn định
(chú ý duy trì, kéo dài trong một thời gian khá lâu), sức phân phối (cùng một
lúc chú ý đến nhiều đối tượng), năng lực di chuyển (từ việc này chuyển sang
việc khác). Chất lượng sự chú ý phụ thuộc vào sự thông hiểu ý nghĩa, mục
đích làm việc, vào sự chú ý của vấn đề, vào ý chí mạnh hay yếu, vào sự rèn
luyện của cá nhân, vào hoàn cảnh làm việc có thuận lợi hay không, vào trạng
thái tâm thần và cơ thể. Trong sảng, khả năng tập trung, duy trì hoặc thay đổi
chú ý đều bị giảm [27].
1.3.2.2. Đặc điểm các triệu chứng tâm thần vận động
Rối loạn tâm thần vận động là một rối loạn hoạt động có ý chí. Hoạt
động là quá trình tác động qua lại giữa con người và thế giới khách quan.
công). Tác phong phản ứng tương xứng với nội dung ảo giác [27].
1.3.2.3. Đặc điểm rối loạn giấc ngủ hoặc chu kỳ thức ngủ
Ngủ là một hoạt động bình thường có chu kỳ trong đó cảm giác và vận
động tạm thời dừng lại một cách tương đối, gần như hầu hết các cơ bắp và cơ
thể bất động. Giai đoạn khởi đầu của giấc ngủ là thời gian đi vào giấc ngủ
được biết đến như ngưỡng ngủ xuất hiện trong vài giây. Giai đoạn này được
20
đặc trưng bởi nhịp alpha đều đặn và ổn định. Dần dần sau đó, độ căng cơ
giảm, các chức năng giảm. Sau đó là giai đoạn NREM (Non Rapid Eye
Movement) gồm 4 giai đoạn, giai đoạn sau sâu hơn giai đoạn trước. Hầu hết
những chức năng sinh lý đáng kể đều thấp hơn so với lúc thức. Giai đoạn 1, từ
khi kéo dài cho đến khi kết thúc kéo dài khoảng10 phút. Nhịp thở trở nên
chậm, nhịp tim đều, huyết áp giảm, nhiệt độ não giảm, dòng máu đến não
giảm. Sóng điện não chậm, biên độ nhỏ và ít đều đặn hơn một chút. Giai đoạn
này dễ bị tỉnh và có thể không ngủ lại được. Giai đoạn 2, kéo dài khoảng 20
phút. Giai đoạn này có thể ý thức một cách lơ mơ, một vài ý nghĩ rời rạc trôi
nổi trong đầu nhưng không thể nhìn thấy bất cứ vật gì ngay cả khi mắt còn
mở. Các chức năng cơ thể giảm xuống. Sóng điện não có biên độ lớn hơn, và
thỉnh thoảng có sự bùng phát của các sóng nhanh. Lúc này vẫn có thể bị tỉnh
giấc bởi các âm thanh. Giai đoạn 3 rất khó tỉnh, phải có âm thanh to hoặc lay
thì mới tỉnh. Sóng điện não chậm khoảng 1 nhịp trên 1 giây, biên độ lớn (sóng
delta). Giai đoạn này bắt đầu ngủ sâu, xuất hiện sau 30 – 40 phút tính từ khi
lơ mơ ngủ. Giai đoạn 4 là giai đoạn ngủ sâu nhất. Sóng não đồ là sóng delta,
biên độ lớn, tần suất chậm, có sóng nhọn. Tại thời điểm này có quá trình quên
lãng. Nếu có miên hành hoặc tiểu dầm thì sẽ diễn ra trong giai đoạn này. Giai
đoạn 3 và 4 là giai đoạn ngủ sâu nhất của giấc ngủ. Sau khi pha ngủ sâu kết
thúc sẽ quay lại giai đoạn 2 và rồi đi vào trạng thái REM (Rapid eye
hiện quá trình ức chế toàn bộ tâm thần bao gồm 3 thành phần chủ yếu. Cảm
xúc ức chế biểu hiện bằng khí sắc hạ thấp, buồn rầu, ủ rũ, mất thích thú cũ,
nhìn xung quanh thấy ảm đạm, bi quan về tiền đồ. Tư duy ức chế biểu hiện
bằng suy nghĩ chậm chạp, quá trình liên tưởng khó khăn, ý tưởng nghèo nàn,
tự cho mình là hèn kém, mất tin tưởng vào bản thân. Hoạt động bị ức chế biểu
hiện bằng ít hoạt động, ít nói ăn uống kém, thường nằm hay ngồi lâu trong
một tư thế, trầm ngâm suy nghĩ. Trường hợp nặng có thể có hiện tượng bất
động. Khoái cảm là hiện tượng khí sắc tăng không thích ứng với hoàn cảnh,
22
xuất hiện hoạt động nhiều, liên tưởng nhanh. Vô cảm là hoàn toàn mất mọi
phản ứng cảm xúc đối với mọi kích thích. Trong sảng, các triệu chứng về cảm
xúc thường có đặc điểm là không ổn định [27].
Tri giác là một quá trình tâm lý có khả năng tổng hợp lại các đặc tính
riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng, để nhận thức được một cách toàn bộ,
thống nhất các sự vật, hiện tượng ấy. Tri giác được hình thành từ cảm giác.
Cảm giác chỉ phản ánh từng đặc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng, thông
qua từng phân tích giác quan thần kinh và do các kích thích của môi trường
bên ngoài cũng như bên trong cơ thể sinh ra như cảm giác ngọt, cảm giác hình
tròn, cảm giác màu vàng, cảm giác đói, cảm giác đau, mệt. Ảo tưởng là tri
giác sai lệch về toàn bộ hay hoàn toàn một sự vật hay một hiện tượng có thật
bên ngoài, ví dụ: nhìn dây thừng tưởng là con rắn, nhìn áo dài treo trên tường
tưởng là người đang hoạt động, nghe tiếng ô tô tưởng máy bay. Ảo tưởng
thường chia theo các giác quan như ảo tưởng thị giác, ảo tưởng thính giác, ảo
tưởng vị giác, ảo tưởng khứu giác, ảo tưởng xúc giác. Ảo ảnh kỳ lạ là những
ảo tưởng rất phong phú, rất sinh động và kỳ lạ, xuất hiện ngoài ý chí bệnh
nhân, không phụ thuộc và biến đổi cảm xúc, dồn dập đến và thay thế dần sự
vật có thực bên ngoài. Ảo giác là cảm giác, tri giác như có thật về một sự vật,
thiết đề xuất về sinh bệnh học của sảng dựa trên các nguyên nhân gây ra sảng,
bao gồm: (1) sự tác động trực tiếp đến não và hàng rào máu não (như hạ
đường huyết, tác dụng của thuốc, thiếu máu cục bộ do đột quỵ hoặc nhiễm
trùng máu nặng); (2) phản ứng của não chống lại stress một cách không thích
hợp [30].
1.4.1. Sự tác động trực tiếp đến não và hàng rào máu não
Sự tác động trực tiếp đến não bao gồm các quá trình cấp tính làm tổn
thương chức năng não bằng cách gây thiếu hụt năng lượng, bất thường về trao
đổi chất, chấn thương, xuất huyết hoặc thay đổi mức độ dẫn truyền thần kinh
bằng thuốc (ví dụ trong bảng 1) [31].
24
Bảng 1.1: Một số nguyên nhân gây tổn thương não trực tiếp
Quá trình
Ví dụ
- Thiếu oxy toàn thân
Thiếu năng lượng
- Hạ đường huyết
cho não bộ
- Hạ huyết áp
- Huyết khối/nhồi máu não
- Tăng/Hạ Na máu
- Tăng kali máu
Rối loạn chuyển hóa
- Tăng calci máu
- Tăng đường huyết
- Tổn thương sợi trục thần kinh
25
chậm, gợi nhớ kém. Những thiếu hụt nhận thức n hẹ này có thể gây sảng ở
người cao tuổi, và bệnh nhân sa sút trí tuệ.
1.4.2. Phản ứng của não trước các stress một cách không thích hợp
•
Phản ứng viêm và sảng
Trong quá trình bị nhiễm trùng hoặc bị các kích thích miễn dịch khác
động vật sẽ xuất hiện một loạt các thay đổi hành vi và chuyển hóa để thích
nghi và được gọi là “hành vi bệnh tật”. Các đặc điểm của hành vi bệnh tật bao
gồm khó chịu, suy giảm nhận thức, giảm mức vận động và các hoạt động xã
hội, buồn ngủ, tăng cảm giác thèm ăn, trầm cảm hoặc có thể có phản ứng sốt
trong một số trường hợp [31, 36]. Những đặc điểm này được phát hiện dựa
trên các nghiên cứu ở các loài động vật gặm nhấm tuy nhiên những hành vi
này có sự tương đồng, quen thuộc với con người khi có nhiễm trùng, phẫu
thuật hoặc chấn thương.
Những thay đổi hành vi được xác định do sự phối hợp giữa các chất
dẫn truyền thần kinh và các chất trung gian gây viêm như cytokine và
prostaglandin. Cơ chế có thể là: (a) tương tác trực tiếp với các tế bào thần
kinh trong các cơ quan ngoại biên mà không cần vượt qua hàng rào máu não
(b) kích hoạt các tế bào nội mô mạch máu não gây giãn mạch, tăng tính thấm
vào nhu mô não hoặc (c) kích hoạt các tế bào của dây thần kinh phế vị do đó
kích thích trung tâm não bộ bằng con đường thần kinh [31]. Mức độ kích hoạt
tế bào nội mô mạch máu não sau của con người có tương quan với mức độ
viêm hệ thống. Ngoài ra hàng rào máu não thay đổi cấu trúc và chức năng đối
với lão hóa, đái tháo đường, Alzheimer và sa sút trí tuệ do mạch máu [37].
Điều này làm tăng sức mạnh tác động của các tín hiệu viêm và dễ dàng khởi
phát hội chứng sảng ở người cao tuổi, đặc biệt là người cao tuổi mắc đa bệnh