TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
OẩSDEOGSO3so
•
•
•
t
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRUỠNG
■
M ã số: L H -2 0 1 5 - 4Ớ5 /ĐHL-HN
CHỒNG LÁN TRONG BẢO Hộ
QUYÈN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM
■
■
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. v ũ THỊ HẢI YẾN
THƯ KÍ ĐỀ TÀI: ThS. NGUYỄN PHAN DIỆU LINH
Ị TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN
'TRƯỜNG đ ạ i h ọ c LUÂT h à n ộ i
ị PHÒNG Đ Ọ C . M g
—
I
HÀ NỘI - 2016
Thư ký đề tài
Hà Nội
Trường Đại học Luật
3
ThS. Phạm Minh Huyền
Tham gia đề tài
Hà Nội
Trường Đại học Luật
4
ThS. Vương Thanh Thúy
Tham gia đề tài
Hà Nội
Trưòng Đại học Luật
5
ThS. Đặng Thị Vân Anh
Tham gia đề tài
Hà Nội
Trường Đại học Luật
6
SHTT
2
Quyên tác giả
QTG
3
Sở hữu công nghiệp
SHCN
4
Kiêu dáng công nghiệp
KDCN
M ỤC LỤC ĐÈ TÀI
NỘI DUNG
Số
trang
Phân mở đâu
1.2.2. Các trường hợp chông lân trong bảo hộ quyền SHTT
14
1.2.3. Nguyên nhân của tình trạng chòng lấn trong bảo hộ quyền SHTT
17
1.2.4. Hệ quả của tình trạng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT
19
Chương 2: Thựt trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tình trạng chồng lấn
27
trong bảo hộ qìrrền SHTT tại Việt Nam
2.1. Chông lân trong bảo hộ QTG với các đôi tượng SHCN mang đặc tính sáng
27
tào
tai
Viêí
Nam
•
•
•
2.1.1. Giao thoa dữa bảo hộ QTG với các đôi tượng SHCN mang đặc tính sáng tạo
40
2.3.2. Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết chông lấn trone bảo hộ nhãn
41
hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam
2.4. Chông lân trong bảo hộ các đôi tượng SHCN mang đặc tính sáng tạo tại
57
Việt Nam
2.4.1. Giao thoa trong bảo hộ các đôi tượng SHCN mang đặc tính sáng tạo
57
2.4.2. Quy định của pháp luật và thực tiên giải quyêt chông lân trong bảo hộ các
60
đối tượng SHCN mang đặc tính sáng tạo tại Việt Nam
2.5. Chông lăn trong bảo hộ KDCN và nhãn hiệu tại Việt Nam
62
2.5.1. Giao thoa giữa bảo hộ KDCN và nhãn hiệu
62
87
2.7.2. Quv định của pháp luật và thực tiên giải quyêt chông lân trong bảo hộ sáng
89
Lhế và quyền đối với giống cây trồng tại Việt Nam
Chương 3. Chông lân trong bảo hộ quyên SHTT trên thê giới
95
3. ỉ. Chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả với các đối tượng sở hữu công nghiệp
95
nang đặc tính sáng tạo trên thế giới
3.2. Chồng lấn trong bảo hộ quyền tác giả với kiểu dáng công nghiệp và nhãn
hiệu trên thế giới
-
99
3.3. Chông lăn troníỊ bảo hộ các đôi tượng sở hữu công nghiệp là các chỉ dãn
102
thương mại (nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý) trên thế giới
3.4. Chông lân trong bảo hộ các đôi tượng sở hữu công nghiệp mang đặc tính
119
SHTT tại Việt Nam
4.2. Các kiến nghị để giải quyết tình trạng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT
122
tai
•• Viêt
• Nam
KET LUẠN
139
DANH SÁCH CHUYÊN ĐÈ ĐỀ TÀI
141
THAM KHẢO ĐÈ TÀI
1DANH MUC
9 TÀI LIÊU
9
357
1
PHẦN MỞ ĐẦU
lấn trên lý thuyết.1
Bảo hộ chồng lấn quyền SHTT là hiện tượng cùng một đối tượng quyền SHTT
nhưng căn cứ các quy định pháp luật có thể phát sinh hai hay nhiều loại hình quyền
trùng lặp hoặc xung đột. về mặt chủ quan, bảo hộ chồng lấn là khả năng chủ sở hữu
quyền có thể yêu cầu việc bảo hộ bổ sung dưới hai hoặc nhiều hình thức bảo hộ, hoặc
1 Esttele Derclaye, The overlap between Copyright, trade marks and patents, BCC Training Course, London,
2015
1
yêu cầu sự lấp đầy các khoáng trống trong việc bảo hộ dưới một hình thức bàng một
hình Ihức khác.2 Hiện tượng bảo hộ chồng lấn quyền có thể xảy ra tại cùng một thời
điểm, cũng có thể là sự tiếp nối về thời gian, có thể do cùng một chủ thể hoặc nhiều
chủ thể khác nhau yêu cầu, nhưng nhất thiết phải là đối với cùng một đối tượng.
Hiện tượng chồne lấn trong bảo hộ quyền SHTT rất đa dạng, có thể xảy ra eiữa
các bộ phận của quyền SHTT như: chồng lấn trong bảo hộ QTG với quyền sở hữu
công nghiệp; giữa quyền sở hữu công nghiệp và quyền đổi với giống cây trồng; giữa
quyền SHTT và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh...; Hiện tượng chồng lấn
cũng xảy ra phổ biến giữa các đối tượng sở hữu công nghiệp mang đặc tính sáng tạo;
hoặc giữa các đối tượng SHCN là các chỉ dẫn thương mại...
Bảo hộ chồng lấn quyền SHTT là một hiện tượng có tính “hai mặt”, mà trước
hết nó mang lại những lợi ích cho các chủ thể sáng tạo và đầu tư. Việc đối tượng
SHTT được bảo hộ theo nhiều cơ chế khác nhau sẽ làm tăng phạm vi và cơ hội bảo hộ
cho các chủ sở hữu quyền SHTT, tạo khả năng cho chủ sở hữu kéo dài thời hạn bảo hộ
độc quyền. Việc một đổi tượng đồng thời được bảo hộ theo hai hay nhiều cơ chế được
ví như “những lớp bảo vệ” két hựp, bổ sung cho nhau để bảo vệ tối đa quyền của chủ
thể sáng tạo,3 góp phần bổ sung, lấp đầy những khiếm khuyết của mỗi cơ chế bảo hộ.
Ngược lại, việc bảo hộ chồng lấn cũng gây ra những hệ lụy ảnh hưởng tới lợi
ích công cộng và các bên liên quan, làm ảnh hưởng tới tính giới hạn về thời hạn bảo hộ
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tể thế giới hiện nay. bảo hộ quyền SHTT là
vấn đề mang tính thời sự, luôn dành được sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, vấn đề chồne lấn quyền trong việc bảo hộ quyền SHTT vẫn là một vấn đề
khá mới mẻ, không chỉ đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam - nơi mà hệ
thống pháp luật về bảo hộ TSTT mới được hình thành và phát triển chưa đến 20 năm,
mà cả đối với các quốc gia phát triển với bề dày lịch sử phát triển pháp luật về SHTT.
Do khả năng có hạn trong việc tiểp cận với
quá trình
các nguồn tài liệu nước ngoài,trong
nghiên cứu, chúng tôi đã tìm thấy và tham khảo một số công trìnhnghiên
cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài được công bố trên mạng internet, cụ thể:
-
Mutant Copyrights and Backdoor Patents: The Problem o f Overlapping
Intellectual Property Protection, của Viva R.Moffat trên trang web
/>
Mli
The problem with intellectual property rights: Subject matter expansion, của
Andrew Beckerman-Rodau,Yale Journal o f Law and Technology, Volum 13
1/ 1/2011
/>ỵjoịt
-
Andrew-Beckerman-Rodau, The Expansion o f Overlapping Intellectual
Property Rights
mang tính chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu
của Hoa Kỳ, liên minh Châu Âu và Việt Nam, trong
đó dành một phần bình luận đến sự giao thoa giữa
cơ chế bảo hộ nhãn hiệu với kiểu dáng công nghiệp.
Bảo hộ Kiểu dáng công nghiệp ở Việt
Nam —Pháp luật và thực tiễn, Tác giả Nguyễn Bá
Bình, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2005. Trong
cuốn sách chuyên khảo này, tác giả tập trung phân
tích các quy định pháp luật và thực tiễn bảo hộ kiểu
dáng công nghiệp tại Việt Nam, trong đó có phân
tích cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp với tác
phẩm mỹ thuật ứng dụng.
Sự giao thoa giữa cơ chế bảo hộ tác
phẩm mỹ thuật ứng dụng với bảo hộ kiểu dáng công
nghiệp và nhãn hiệu, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Phan Diệu Linh, Trường Đại học Luật Hà Nội 2015
là công trình nghiên cứu về sự giao thoa giữa cơ chế
bảo hộ QTG đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng
với cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp và nhãn
hiệu.
Xung đột giữa nhãn hiệu và tên
thương mại trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu theo quy định của Pháp luật Việt
Nam hiện nay, Nguyễn Thị Thu, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia năm 2015.
Trong luận văn này, tác giả đã đi sâu phân tích điểm
giao thoa và xung đột giữa bảo hộ nhãn hiệu và tên
thưcmg mại trong quy định của pháp luật và thực
4
bất cập trên thực tế:
- Nghiên cứu tiực trạng bảo hộ chồng lấn qua một số vụ việc điển hình;
- Tham khảo tinh nghiệm các quốc gia trên thế giới, dựa trên điều kiện thực
tiên của Việt Nam đt tìm ra phương hướng và các giải pháp cụ thê đê giải quyêt tình
trạng chồng lẩn nà).
4.
NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
4.1. Nghiên CÚI về mặt lý luận
- Nghiên cứu rê quyền SHTT, các bộ phận của quyền SHTT và đặc trưng của
mỗi cơ chế bảo hộ qiyền SHTT;
- Nghiên cúu Ìguyên nhân và hệ quả của tình trạng bảo hộ chồng lấn quyền
SHTT;
5
4.2. Nghiên cứu kinh nghiệm quôc tê
Đề tài nghiên cứu thực trạng chồng lấn trons, bảo hộ quyền SHTT ở một sổ
quốc gia trên thế giới, tìm hiểu, tham khảo các nguyên tắc áp dụng để giải quyết tình
trạng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt
Nam để giải quyết tình trạng này.
4.3. Nghiên cứu thực trạng
- Nghiên cứu đánh giá các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề chồng lấn
trong bảo hộ quyền SHTT;
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật và một số vụ việc chồng lấn điển
hình ở Việt Nam;
4.4. Đưa ra phương hướng chung và đề xuất các giải pháp cụ thể để giải quyết
tình trạng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam.
bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam
Phần 2: Các chuyên đề đề tài
Phần 3: Danh mục tài liệu tham khảo
7
CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN VÈ CHỒNG LẤN TRONG BẢO H ộ QUYÈN SỎ
HỮU TRÍ TUỆ
1.1. Khái quát về quyền sỏ’ hữu hữu trí tuệ và các co chế bảo hộ quyền sỏ hữu
trí tuệ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của quyền sỏ’ hữu trí tuệ
1.1.1.1.
Khái niệm quyền sỏ’ hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ (Intellectual property) hay tài sản trí tuệ là sản phẩm của quá
trình sáng tạo của con người được thể hiện dưới hai dạng chủ yếu là quyền SHCN
(quyền đối sáng chế, KDCN, nhãn hiệu...); QTG (quyền đối với tác phẩm văn học,
nghệ thuật, khoa học) và các quyền liên quan đến QTG (quyền của người biểu diễn,
nhà ghi âm, ghi hình hoặc tổ chức phát sóng). Đây là loại tài sản phi vật chất nhưng có
giá trị kinh tế - tinh thần vô cùng to lớn, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự
phát triển của kinh tế- xã hội, khoa học kỹ thuật của quốc gia và nền văn minh nhân
loại.
Thuật ngữ SHTT đã trải qua một quá trình phát triển dài lâu và có những bước
phát triển mới cùng với nền kinh tế - xã hội của thế giới. Trong tất cả các công ước
quốc tế hay những văn kiện quan trọng về SHTT không đưa ra khái niệm về mặt nội
dung đối với thuật ngữ SHTT mà sử dụng phạm vi đối tượng điều chỉnh để đưa ra định
quyền SHCN, QTG và quvền đối với giống câv trồng là những đối tượng mang lại cho
quyền SHTT vị trí đặc biệt trong sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia cũng
như sự phát triển của nhân loại.
“ 77// sản trí tuệ” - là kết quả sáng tạo trí tuệ của con người, tồn tại dưới dạng
các tri thức, thông tin, về bản chất mang tính “vô hình”. Tuy nhiên, trên thực tế, những
tài sản này có thể được “vật chất hóa”, thể hiện hay định hình dưới một hình thức vật
chất nhất định. Ví dụ, tác phẩm âm nhạc có thể định hình trên văn bản hoặc băng đĩa.
Do tính chất “vô hình” của tài sản trí tuệ nên bản thân người tạo ra nó cũng không thể
chiếm giữ cho riêng mình. Trong khi các chủ thể sáng tạo và đầu tư phải mất rất nhiều
thời gian, công sức, tiền của để tìm tòi, sáng tạo ra tài sản trí tuệ, thì loại tài sản này
khi đã được công bố lại dễ dàng bị lan truyền, phổ biến, bị người khác chiếm đoạt, sử
dụng, khai thác, trục lợi một cách bất hợp pháp mà không tốn chi phí gì hoặc chỉ một
chi phí rất nhỏ. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sáng tạo, làm tổn hại
. nghiêm trọng đến lợi ích của những người đã bỏ thời gian, công sức, tài chính để tạo ra
kết quả sáng tạo. Do đó, để khuyến khích sáng tạo, thúc đẩy đổi mới, cải tiến công
nghệ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho chủ thể sáng tạo và đầu tư, tạo môi trường kinh
doanh lành mạnh, cần có cơ chế pháp lý để ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu đối với
các kết quả sáng tạo trí tuệ.
Khái niệm “quyền SH TT” ra đời là sự ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật của
Nhà nước về quyền sở hữu của các tổ chức, cá nhân đối với các kết quả sáng tạo trí tuệ
do họ sáng tạo hoặc đầu tư. Nhà nước trao cho chủ thể của quyền SHTT một độc
quyền trong một khoảng thời gian và phạm vi nhất định, nhằm bảo đảm cho người
• nắm giữ quyền có thể thu được các lợi ích từ việc khai thác, sử dụng quyền SHTT,
đồng thời có quyền ngăn chặn hành vi sử dụng trái phép tài sản trí tuệ của người khác.
Trong nhiều tài liệu cũng như trên thực tế, hai thuật ngữ SHTT và “quyền SHTT” có
thể được sử dụng với nghĩa như nhau. Theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) - Tổ chức
quản lý SHTT quan trọng nhất trên phạm vi toàn cầu, “SHTT được hiểu theo nghĩa
rộng là các quyền hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công
9
hữu tài sản trí tuệ không có ý nghĩa khi đối tượng SHTT đã được công bố hay sử dụng
trên thực tế. Vì vậy, quyền SHTT về bản chất chỉ tập trung vào độc quyền sử dụng đối
tượng SHTT (bao gồm cả quyền cho phép hoặc quyền ngăn cấm người khác sử dụng
đối tượng SHTT; quyền định đoạt đối tượng SHTT).
về căn cứ xác lập quyền sở hữu: Quyền SHTT chỉ được xác lập dựa trên những
căn cứ do pháp luật quy định. Quyền ^>HTT được xác lập dựa trên hai nhóm căn cứ
chủ yếu: (i) Nhóm quyền phát sinh tự động cùng với sự ra đời của tài sản trí tuệ mà
không cần phải tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ:
5 WIPO; ĨYiỉroducỉion to Intellectual Propertỵ Theoỉỷ and Practice, Kluwer Lavv International, London - The
Hague, Boston, trang 3.
10
QTG, quyền liên quan, quyền SHCN đối với tên thưong mại, quyền SHCN đối với bí
mật kinh doanh, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nổi tiếng.6 (ii) Nhóm quyền phát sinh
trên cơ sở đăng ký. Ví dụ, quyền SHCN đối với sáng che, KDCN, thiết kế bổ trí, nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bàng bảo hộ của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký.7
về giới hạn quyền: Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền SHTT là
loại quyền được bảo hộ có tính “giới hạn”. Bảo hộ quyền SHTT có mục đích khuyến
khích hoạt động sáng tạo bằng cách dành cho chủ sở hữu độc quyền sử dụng, khai thác
đối tượng SHTT trong một khoảng thời gian nhất định và đổi lại, chủ sở hữu phải đưa
tài sản trí tuệ của mình phục vụ lợi ích chung của xã hội. Độc quyền dù dưới bất kỳ
hình thức nào nếu bị lạm dụng có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên thứ ba. Vì
vậy, mục đích của pháp luật SHTT là tạo động lực thúc đẩy phát triển văn hóa, khoa
học kỹ thuật nhưng quyền SHTT không được cản trở hay gây ảnh hưởng đến lợi ích
công cộne và sự phát triển của xã hội. Nguyên tắc cân bằng lợi ích là nguyên tắc cơ
hoặc để nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm... không phải xin phép và không phải trả
tiền cho chủ sở hữu. Ví dụ: giới hạn QTG trong trường hợp sao chép, trích dẫn tác
phẩm nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy8; việc sử dụng sáng chế,
KDCN, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương
mại...
- Giới hạn bởi lợi ích công cộng. Ví dụ: trong những trường hợp nhằm bảo đảm mục
tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích chung của xã hội, pháp luật quốc tế
cũng như pháp luật các quốc gia có quy định cấm hoặc hạn chế chủ sở hữu sáng chế
thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ sở hữu sáng chế chuyển giao sáng chế theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.10
1.1.2. Các CO’ chế bảo hộ của quyền sỏ’ hữu trí tuệ
Suốt nhiều thế kỷ qua, pháp luật SHTT đã có những sự thay đổi và phát triển
không ngừng để đáp ứng nhu cầu bảo hộ đối với các kết quả sáng tạo trí tuệ mới. Bên
cạnh việc bảo hộ QTG, quyền SHCN, một số quốc gia có nền nông nghiệp phát triển
muốn thúc đẩy việc bảo hộ đối với những giống cây trồng mới đã bổ sung thêm quyền
đối với giống cây trồng vào phạm vi quyền SHTT.11 Tuy nhiên, theo truyền thống,
quyền SHTT vẫn thường được phân chia thành hai nhánh chính, đó là QTG và quyền
. SHCN.
Sự phân chia QTG và quyền SHCN dựa trên sự khác biệt về đối tượng của chúng,
từ đó mà mỗi hệ thống cung cấp một cơ chế bảo hộ khác nhau. QTG thiên về bảo hộ
các sáng tạo thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, “chủ yếu liên quan tới truyền thông
đại chủng”.12 QTG (hiểu theo nghĩa rộng) bao gồm cả quyền liên quan đến QTG, ghi
nhận và bảo vệ quyền cho người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức
phát thanh, truyền hình đối với kết quả sáng tạo, đầu tư của họ trong việc chuyển tải,
phổ biến tác phẩm. Công ước Beme 1886 ghi nhận đối tượng của QTG là các tác
phẩm văn học, nghệ thuật - những sáng tạo thuộc đời sống văn hóa, tinh thần như sách,
8 Xem Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ
9 Xem điềm b khoản 2 Điều 125
10 Được quy định tại Điều 5 Công ước Paris 1883 về quyền SHCN; Điều 31 Hiệp định TRIPs; Điều 132 Luật Sở
mới độc quyền khai thác giống cây trồng của mình vừa khuyến khích họ đầu tư vào
việc tạo giống mới, vừa góp phần cho sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng
và nền kinh tế nói chung. Việc bảo hộ giống cây trồng sẽ cho chủ văn bằng bảo hộ
giống cây trồng quyền sử dụng, cho phép hay ngăn cấm người khác sử dụng giống
cây trồng của mình vì mục đích thương mại.
1.2. Khái quát về chống lấn trong bảo hộ quyền SHTT
1.2.1.
Khái niệm chồng lấn trong bảo hộ quyền sỏ’ hữu trí tuệ
Bảo hộ chồng lấn quyền SHTT là hiện tượng cùng một đối tượng quyền SHTT
nhưng căn eứ tác quy định pháp luật có thể phát sinh hai hay nhiều loại hình quyền
trùng lặp hoặc Kung đột.14 về mặt chủ quan, bảo hộ chồng lấn là khả năng chủ sở hữu
■ quyền có thể yèu cầu việc bảo hộ bổ sung dưới hai hoặc nhiều hình thức bảo hộ, hoặc
yêu cầu sự lấp đầy các khoảng trống trong việc bảo hộ dưới một hình thức bằng một
hình thức khác15 Hiện tượng bảo hộ chồng lấn quyền có thể xảy ra tại cùng một thời
điểm, cũng có thể là sự tiếp nối về thời gian, có thể do cùng một chủ thể hoặc nhiều
chủ thể khác nìau yêu cầu, nhưng nhất thiết phải là đối với cùng một đối tượng. Như
vậy khả năng )hát sinh chồng lấn quyền căn cứ trên cơ sở hiện trạng các quy định
pháp liuật. Khi tác quy định trong luật tạo ra những điểm giao thoa hoặc những khoảng
trống ẵà cơ hội lể hiện tượng bảo hộ chồng lấn quyền SHTT xuất hiện.
C hồng lấn vong bảo hộ quyền SHTT là hiện tượng cùng một đối tượng sáng tạo có
thể đvrợc bảo hì theo hai hay nhiều cơ chế khác nhau của quyền SHTT.
Bảo hộ chồig lấn quyền SHTT mang những đặc điểm sau:
/>15 Trần Đ ô Thành,
14
đối tượng
Đây là trường hợp hai hay nhiều chủ thể khác nhau cùng được hưởng những phạm
vi quyền SHTT xuất phát từ việc đối tượng sáng tạo của họ thỏa mãn đồng thời tiêu
chuẩn bảo hộ của hai hay nhiều đối tượng SHTT. Trong những trường hợp này, phạm
vi quyền của họ có sự giao thoa, chồng lấn, khó xác định được ranh giới, phạm vi cụ
thể. Ví dụ, cùng một đối tượng nhưng được chủ thể A đăng ký bảo hộ KDCN, chủ thể
B đăng ký nhãn hiệu, trong khi đó chủ thế c đang nam giữ QTG đối tượng đó.
> Căn cứ vào tính tương đồng của các đối lượng SHTT, có thể xảy ra một
số trường hợp bảo hộ chồng lẩn điển hình
(i)
Bảo hộ chồng lấn giữa QTG và quyền SHCN
15
Mặc dù dôi tượna, của QTG là các tác phâm văn học- nghệ thuật- khoa học,
được áp dụng chủ yếu trong đời sống tinh thần, còn đối lượng của quyền SHCN như
sáng chế, bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp được áp dụng trong lĩnh
vực sản xuất công nghiệp, nhưng các đối tượne này đều có điểm chung là sản phẩm
sáng tạo cá nhân. Vì vậy, những kết quả sáng tạo trong lĩnh vực kỹ thuật nhưna, nếu
thể hiện dưới dạns chữ viết, kí tự, hình ảnh hoặc các hình thức khác, có tính nguyên
gốc, được bảo hộ theo luật QTG như các công trình khoa học, tài liệu kỹ thuật,
chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu16. .. Tuy nhiên, giải pháp đó nếu mang đặc tính
kỹ thuật, nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật thì có thể được bảo hộ sáng chế. Trên
thế giới hiện nay, một số đối tượng sáng tạo nằm trong khoảng giao thoa giữa cơ chế
bảo hộ QTG và quyền SHCN, điển hình như chương trình máy tính, thiết kế bổ trí
mạch tích hợp bán dẫn...
Bảo hộ QTG và quyền SHCN đối với nhãn hiệu và KDCN là những cơ chế bảo hộ
với các sản phẩm công nghệ và có giá trị Ihương mại. Các đối tượng trên có khả năng
tồn tại trong cùng một sản phẩm bởi chúng đều có thể tồn tại dưới dạng vật thể hay là
một thành phần gắn với vật thể. Sáng chế là một giải pháp kỹ thuật có chức năng giải
quyết một bài toán kỹ thuật hay côns, nghệ nào đó, các thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn thực hiện chức năng điện tử, có thể là một phần của sáng chế giúp thực hiện
chức năng giải pháp kỹ thuật của sáng chế, nhưng ngược lại, trong thiết kế bố trí mạch
tích hợp bán dẫn cũng có thể bao gồm nhiều sáng chế. Với chức năng thẩm mỹ, hình
dáng bên ngoài (hay bên trong nhìn thấy được trong quá trình sử dụng;) của sản phẩm
chứa đựng sáng chế và thiết kế bố trí mạch tích họp bán dẫn có thể là một phần của
KDCN được bảo hộ.
Nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đều là những chỉ dẫn thương mại được
sử dụng trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, biển hiệu, phương tiện kinh doanh, phương
tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, trong quảng cáo, tiếp thị...nhằm mục đích cung cấp
thông tin cho người tiêu dùng về nguồn gốc của các sản phẩm hàng hóa. Mặc dù mỗi
đối tượng có điều kiện bảo hộ khác nhau, nhưng cùng có điểm chung là dấu hiệu được
sử dụng đều phải có khả năng phân biệt, không gây nhầm lẫn với các chỉ dẫn thương
mại còn lại. Chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại, tổ chức, cá nhân được trao quyền
sử dụng, quản lý chỉ dẫn địa lý đều có độc quyền sử dụng, có quyền ngăn cấm chủ thể
khác sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa
. lý cho những sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự, gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch
vụ hoặc chủ thể sản xuất, kinh doanh.
(Ui) Bảo hộ chồng lấn giữa quyền SHCN và quyền chổng cạnh tranh không lành
mạnh
Pháp luật SHTT với mục đích khuyến khích hoạt động sáng tạo và đổi mới, nên đã
trao cho chủ thể sáng tạo một số độc quyền trong một thời hạn nhất định nhằm bù đắp
những chi phí cho chủ thể sáng tạo và đầu tư. Xuất phát từ giá trị thương mại của các
đổi tượng SHCN trong sản xuất, kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng những
thành quả đầu tư của đối thủ cạnh tranh, sử dụng các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
hoặc đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng tên miền của chủ thể kinh doanh khác nhằm
lừa dối người tiêu dùng, gây tổn hại đến uy tín, danh tiếng của chủ thể kinh doanh, làm
Sự mở rộng không ngừng phạm vi bảo hộ quyền SHTT là nguyên nhân chính gây
ra tình trạng chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT. Theo truyền thống, QTG bảo hộ cho
các sáng tạo nghệ thuật mang tính nguyên gốc, còn quyền SHCN bảo hộ cho những
. sáng tạo mới về kỹ thuật mang tính hữu ích hoặc những đối tượng mang đặc tính
thương mại. Tuy nhiên, với sự phát triển của kinh tế- xã hội cũng như khoa học-công
nghệ, phạm vi đối tượng của QTG và quyền SHCN không ngừng được mở rộng.
Ngày nay, pháp luật QTG không chỉ bảo hộ những tác phẩm mang tính nghệ thuật
mà nó đã mở rộng đến cả các sản phẩm mang đặc tính kỹ thuật hay liên quan đến
thương mại. Luật bản quyền bảo hộ hình thức thể hiện ý tưởng sáng tạo. Do đó, những
kết quả sáng tạo trong lĩnh vực kỹ thuật nhưng nếu thể hiện dưới dạng chữ viết, kí tự,
hình ảnh hoặc các hình thức khác, có tính nguyên gốc, được coi là đối tượng của QTG
như các công trình khoa học, tài liệu kỹ thuật, chương trình máy tính, sưu tập dữ
liệu17... Tương tự như vậy, những sáng tạo được áp dụng trong hoạt động sản xuất
công nghiệp và thương mại nhưng có tính thẩm mỹ như mẫu thiết kế của các tòa nhà,
phương tiện giao thông (ô tô, tàu thuyền...), các sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt
đời sống (đồ gia dụng, đồ trang sức...) cũng thuộc phạm vi bảo hộ của QTG.
17 Điều 10 Hiệp định TRIPs bổ sung thêm việc bảo hộ chưong trình máy tính, sưu tập dữ liệu so với Công ước
Bem e
18