1
ĐẶT VẤN ĐỀ
U nguyên bào thần kinh đệm-Glioblastoma(GB) là loại u não nguyên phát
của hệ thần kinh trung ương, chiếm khoảng 15-20% các u nội sọ [1]. Tổ chức Y
tế thế giới phân loại U nguyên bào thần kinh đệm là loại ác tính nhất (độ IV)[2].
Tỉ lệ U nguyên bào thần kinh đệm ở nam cao hơn nữ giới, tuổi phát hiện trung
bình khoảng 64 tuổi [3].
U nguyên bào thần kinh đệm thường hình thành trong chất trắng não, phát
triển nhanh chóng, và có thể thành khối u lớn trước khi xuất hiện triệu chứng. Biểu
hiện lâm sàng đầu tiên thường bằng hội chứng tăng áp lực nội sọ nặng, can thiệp
điều trị thường không đem lại hiệu quả, thời gian sống thêm của bệnh nhân sau mổ
trung bình chỉ 10-12 tháng [4]. Do vậy, việc tìm ra căn nguyên, cơ chế bệnh sinh và
quá trình sinh bệnh học của u nguyên bào thần kinh đệm để có thể can thiệp chính
xác và hiệu quả, đồng thời đưa ra tiên lượng bệnh là điều rất cần thiết.
Từ những nghiên cứu đột phá trong Y học, cơ chế phân tử của ung thư dần được
sáng tỏ. Theo đó, chính sự tích lũy đột biến gen theo thời gian dẫn tới sự phát sinh,
phát triển mọi dạng tế bào ung thư trong cơ thể. Quá trình chuyển dạng tế bào sang
ác tính thường được đánh dấu bằng sự kích hoạt các gen gây ung thư và đột biến
gây bất hoạt các gen áp chế ung thư nằm tại một số vị trí chủ chốt trên các con
đường tín hiệu tế bào [4, 5]. Cơ chế điều hòa gen vốn hoạt động nhịp nhàng và chặt
chẽ cũng bị rối loạn khiến hệ thống các enzym sửa chữa thương tổn gen của tế bào
không thể khắc phục dẫn tới việc tích lũy một số lượng lớn các đột biến, khởi phát
quá trình ung thư [6-8]. Nhưng cũng chính các đột biến lại làm tăng ái lực của thuốc
điều trị đích với các phân tử này và ức chế sự dẫn truyền tín hiệu trong các tế bào
ung thư. Nhờ đó chúng làm tăng hiệu quả của thuốc điều trị đích trong việc tiêu diệt
các tế bào ung thư [9].
Các nhà khoa học trên thế giới đã tìm thấy sự biến đổi một số gen đóng vai
trò quan trọng đối với bệnh sinh u nguyên bào thần kinh đệm như FGFR, EGFR,
RTEL1, TP53, Hes3 [5-8]… Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, đột biến trên
một số vùng gen FGFR và EGFR sẽ làm tăng ái lực của các thuốc ức chế hoạt tính
được công bố khoảng 35 năm trước đây. Trong nhiều năm sau đó, những gen đóng
vai trò quan trọng trong bệnh sinh ung thư như thụ thể yếu tố phát triển nguyên bào
sợi (fibroblast growth factor receptor, FGFR), thụ thể yếu tố phát triển biểu mô
(epidermal growth factor receptor, EGFR), gen áp chế ung thư TP53 đã được nghiên
cứu [11, 12]. Bên cạnh đó một số gen đánh giá mức độ ác tính và biệt hoá, hay kiểm
soát sự phân chia của tế bào ung thư như RTEL1 và Hes3 cũng được xem xét và
đánh giá trong u nguyên bào thần kinh đệm. Dựa trên tình trạng đột biến gen, các
nhà khoa học, các bác sỹ lâm sàng có một cái nhìn tổng thể về nguy cơ, mức độ tiến
triển để có biện pháp can thiệp điều trị kịp thời, nâng cao hiệu quả điều trị cũng như
theo dõi tiên lượng đối với bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm [13].
Đột biến gen thụ thể yếu tố phát triển nguyên bào sợi (FGFRs) và thụ thể
yếu tố phát triển biểu mô (EGFR).
FGFRs là một nhóm các thụ thể xuyên màng có hoạt tính tyrosine kinase [14].
Phân tử FGFRs gồm một vùng gắn kết các phối tử nằm ngoài màng tế bào, một
4
vùng xuyên màng đặc hiệu và một vùng nội bào. Phần ngoài màng của FGFRs có
hai vùng giàu cystein là nơi để gắn kết các phối tử của FGFRs. Vùng xuyên màng
trọng lượng nhỏ tập trung tại vùng phân cực phospholipid màng. Phần trong tế bào
là protein kinase với đuôi tận cùng carboxyl nơi xảy ra phản ứng tự phosphoryl hóa
của FGFRs [15,16]. Ngay sau khi được hoạt hóa bằng cách gắn với phối tử của
chúng, vùng nội bào của FGFRs sẽ tự phosphoryl hóa, khởi đầu một dòng thác tín
hiệu lan tỏa khắp tế bào gây kích hoạt: con đường PI3K/Akt, sự tăng sinh mạch
máu, di căn và ức chế quá trình chết theo chương trình (appoptosis), tín hiệu
Ras/mitogen-activated protein kinase, và các con đường dẫn truyền tín hiệu phiên
mã (hình 2) [17-19]. Do đó các đột biến làm rối loạn hoạt động của gen FGFRs đề
làm thay đổi hoạt động sống của tế bào và là nguyên nhân cho sự hình thành và phát
triển ung thư.
[23,24]. Gen EGFR nằm tại vị trí p11.2 trên nhiễm sắc thể số 7. Giống như FGFR,
EGFR cũng có hoạt tính tyrosine kinase có tác dụng kích hoạt một loạt gen sinh ung
thư chủ chốt trong con đường tín hiệu nội bào và khởi phát quá trình ung thư [25].
Nghiên cứu của Libermann và cộng sự công bố vào năm 1985 cho thấy khoảng 3540% bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm có sự khuếch đại gen EGFR [26].
Không lâu sau đó các nhà khoa học đã chứng minh đột biến gây hoạt hoá gen EGFR
đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh u nguyên bào thần kinh đệm. Tỷ lệ đột biến
gen trong u nguyên bào thần kinh đệm lên đến 30-40%. Các dạng đột biến bao gồm:
đột biến xoá đoạn EGFRvIII (del.aa 30-297) và các đột biến điểm nằm chủ yếu tại
vùng N-tận của EGFR (hình 4) [27,28]. Đột biến gây mất kiểm soát gen EGFR
thường xảy ra với bệnh nhân mang khối u nguyên phát. Các dạng đột biến này ảnh
hưởng chủ yếu đến hoạt động vùng ngoại bào của phân tử EGFR, nơi xảy ra tương
tác với các phối tử của chúng [29]. Đây là những đột biến làm tăng ái lực của EGFR
với các thuốc ức chế hoạt tính tyrosine kinase loại 2. Chính vì vậy các loại thuốc
này sẽ có hiệu quả hướng đích trên các bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm có
đột biến gen EGFR [30,31].
Hình 1.3. Đột biến gen EGFR trên bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm.
Hình ảnh minh hoạ các vùng của gen EGFR và vị trí các đột biến được xác trên các
vùng tương ứng của gen.
Nguồn: Wilson và cộng sự, Trung tâm gen, Đại học Washington
7
Do đó, với mong muốn mang lại hiệu quả điều trị cao nhất cho các bệnh nhân
u nguyên bào thần kinh đệm ở Việt Nam, bên cạnh khảo sát đột biến gen FGFR,
chúng tôi đề xuất thêm việc xác định các đột biến trên gen EGFR. Nắm tình trạng
đột biến của các gen này sẽ cũng cấp những thông tin hữu ích nhất để phối hợp
thuốc điều trị đích nhằm gia tăng thời gian sống cho bệnh nhân ung thư [32-35].
chứng minh các đột biến đa hình thái đơn (single nucleotide polymorphism, SNPs)
là những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến tính nhạy cảm gen. Hiện tượng đa
hình thái đơn là sự khác nhau về trình tự DNA xảy ra khi một nucleotide đơn - A,
T, C hay G - ở trong bộ gen khác nhau giữa các cá thể của một loài hay giữa các
cặp NST của một người . Trong u nguyên bào thần kinh đệm, các nhà khoa học đã
tìm thấy các dạng đột biến đa hình thái đơn rs6010620 và rs2297440 trên gen
RTEL1 [43,44]. Đây là gen có tác dụng duy trì sự ổn định của bộ gen, nằm trên
nhiễm sắc thể số 20 tại vị trí q13.3. Các dạng SNPs này được chứng minh là các
9
yếu tố nguy cơ đối với sự hình thành và tiến triển u nguyên bào thần kinh, đặc biệt
là đối với các thành viên trong gia đình các bệnh nhân. Ngoài ra đối với các bệnh
nhân đang được điều trị thì việc xác định các dạng SNPs này cũng là những yếu tố
đánh giá tiên lượng và theo dõi hiệu quả điều trị [44,45]. Bên cạnh đó một số
dạng đột biến đa hình thái đơn của gen Hes3 cũng được nghiên cứu. Gen Hes3
nằm trên nhiễm sắc thể số 1 tại vị trí p36.31, quy định tổng hợp yếu tố điều hoà
liên quan đến sự phân chia và chết theo chương trình của tế bào thần kinh, đây là
những đặc trưng cơ bản của các tế bào ung thư. Các dạng SNPs của Hes3 bao
gồm: rs6304634 và rs6304696 [46,47]. Tuy nhiên vai trò của các SNPs trên gen
Hes3 đối với u nguyên bào thần kinh là khác nhau giữa các chủng tộc người.
Chính vì vậy chúng tôi sẽ khảo sát vai trò của các SNPs trên gen Hes3 đối với
bệnh nhân u nguyên bào thần kinh đệm Việt Nam.
1.2. Các phương pháp xác định đột biến gen
1.2.1. Kỹ thuật polymerase chain reaction (PCR)
Nguyên tắc chung: dựa vào hoạt tính của các DNA polymerase có khả năng
tổng hợp mạch DNA mới từ mạch DNA khuôn, với nguyên liệu là bốn loại
nucleotid. Phản ứng này đòi hỏi sự có mặt của những mồi xuôi và mồi ngược có
trình tự bổ sung với hai đầu của trình tự DNA khuôn.Phản ứng PCR là một chuỗi
Giải trình tự gen là phương pháp xác định vị trí sắp xếp của các nucleotid
trong phân tử DNA. Đoạn DNA cần giải trình tự được sử dụng như trình tự mẫu cho
phản ứng khuếch đại gen (PCR) bắt đầu từ vị trí gắn mồi. Hỗn hợp của deoxy- và
dideoxynucleotid được sử dụng trong phản ứng với nồng độ sao cho các
dideoxynucleotid sẽ gắn vào mỗi vị trí mà các deoxynucleotid thường gắn trên đoạn
DNA đang được tổng hợp.Sự gắn của các dideoxynucleotidsẽ làm gián đoạn quá
trình kéo dài các đoạn DNA được tổng hợp, kết quả sẽ tạo ra hỗn hợp các sợi DNA
11
có kích thước khác nhau. Nucleotid tận cùng trên mỗi sợi DNA có thể được xác
định bằng cách chạy đồng thời bốn phản ứng riêng biệt trong đó mỗi phản ứng chứa
một loại dideoxynucleotid(ddATP, ddCTP, ddGTP, ddTTP) hoặc bởi một phản ứng
hỗn hợp nhưng từng loại dideoxynucleotid được đánh dấu bằng các chất phát huỳnh
quang đặc hiệu khác nhau.
Hình 1.6. Quy trình giải trình tự theo phương pháp ddNTP
Kết quả là hỗn hợp các sợi DNA tổng hợp từ sợi khuôn được phân tách bằng
điện di trên thạch acrylamid có độ phân giải cao, cho phép phân biệt được các sợi
đơn DNA hơn kém nhau 1 nucleotid. Trình tự các nucleotid được xác định tương
ứng với trình tự của các vạch trên gel ứng với mỗi loại dideoxynucleotid.
12
Máy giải trình tự gen tự động hoàn toàn dùng 4 màu huỳnh quang khác nhau
để đánh dấu 4 loại ddNTP, hệ thống điện di thường là điện di mao quản. Mỗi khi có
một vạch điện di đi qua, phân tử ddNTP cuối cùng ở đầu 3 ’ của đoạn DNA sẽ phát
ra một màu huỳnh quang tương ứng, máy sẽ ghi nhậnmàu sắc này và chuyển về
Thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống trực tiếp với bệnh nhân đã
được xác định có đột biến gen, bố mẹ, con đẻ, được lựa chọn tham gia vào nghiên
cứu để xác định các yếu tố liên quan đến tính chất gia đình.
Cách thức thu thập mẫu.
Thu thập mẫu mô: Để xác định đột biến trên gen FGFR, EGFR
Thu thập mẫu máu: Để xác định đột biến trên gen RTEL1, PT53, Hes3
Các thành viên gia đình được xác định có đột biến trên các gen FGFR,
EGFR trên cũng được thu thập mẫu máu ngoại vi để xác định đột biến.
2.2. Dụng cụ, trang thiết bị và hóa chất sử dụng trong nghiên cứu
2.2.1. Trang thiết bị nghiên cứu
• Máy PCR (Eppendorf)
• Máy điện di: Mupid (Nhật Bản).
• Máy soi gel và chụp ảnh tự động (Dolphin Chemi Wealtec, USA).
• Máy quang phổ kế Nano- Drop (Nhật Bản).
• Máy ly tâm lạnh Beckman (USA) và ly tâm các loại (Đức).
• Tủ lạnh âm sâu: -30oC và - 80oC (Sanyo-Nhật Bản).
• Máy điện di mao quản Beckman Coulter.
• Máy đọc trình tự gen ABI Prism 3100 Genetic Analyzer (USA).
14
2.2.2. Dụng cụ nghiên cứu
• Dụng cụ được vô trùng tuyệt đối bằng hấp ướt 120oC trong 20 phút.
• Pipet, đầu côn các loại.
• Ống Eppendorf các loại.
2.2.3. Hóa chất nghiên cứu
- Hóa chất tách chiết DNA từ máu ngoại vi và tinh sạch DNA:
+ Kít tách chiết DNA (Hàng QIAGEN-Đức).
+ Dung dịch lysis buffer.
Bệnh viện Việt Đức: thu thập mẫu nghiên cứu
Trung tâm Nghiên cứu Gen-Protein, Trường Đại học Y Hà Nội: Tách DNA và bảo
quản -20˚C, phân tích gen.
2.3.2. Quy trình tách chiết DNA
Quy trình tách chiết DNA từ máu ngoại vi:
DNA được tách chiết theo phương pháp phenol/chloroform từ bạch cầu máu
ngoại vi theo quy trình thường quy.
Quy trình tách chiết DNA từ mẫu mô:
Quy trình xử lý mẫu mô trong paraffin:
Tiến hành tuần tự theo các bước sau:
1) Sau khi xác định vùng tập trung tế bào ung thư của mẫu mô, cắt lát 3-5 lát mô
(10 µm) cố định bằng formalin đúc trong paraffin, cho các lát mô vào ống
eppendorf .
2) Thêm vào ống 1200 µL dung dịch toluen, mix 30 giây.
3)
Ly tâm hỗn hợp với tốc độ 15 000 vòng/phút trong 5 phút, đổ bỏ phần dung
dịch phía trên, giữ lại phần cặn lắng.
4) Thêm vào ống 1200 µL ethanol 100%, trộn đều bằng máy và ủ ở nhiệt độ
phòng 10 phút.
5) Ly tâm hỗn hợp với tốc độ 15 000 vòng/phút trong 5 phút, đổ bỏ phần dung
dịch phía trên, giữ lại phần cặn lắng.
6) Lặp lại bước 4 và 5.
7) Thêm vào ống 600 µL Lysis buffer (50mM Tris pH8, 1mM EDTA, 0,5%
Tween20), 25 µL dung dịch SDS 10%, 10 µL dung dịch Proteinase K (nồng
độ 1 mg/mL).
16
17
Bảng 2.1. Thành phần và điều kiện tham gia phản ứng PCR
STT
1
Thành phần
Thể tích
Điều kiện phản ứng
(µl)
2 (~50ng)
Biến tính: 94 oC trong 3 phút
2
DNA tổng số
Master mix PCR
3
2X
Mồi xuôi
0,5
4
2
3
4
5
Thành phần
DNA tổng số
Master mix PCR 2X
Mồi xuôi
Mồi ngược
Nước cất vô trùng
Thể tích
(µl)
2 (~50ng)
10
0,5
0,5
7,0
Điều kiện phản ứng
Biến tính: 94 oC trong 3 phút
Lặp lại 35 chu kỳ gồm các bước
sau:
Biến tính: 94 oC trong 30 giây
Gắn mồi: 55 oC trong 30 giây
Tổng thể tích
20
- Đề tài nghiên cứu này được thực hiện hoàn toàn vì mục đích khoa học chứ
không vì mục đích nào khác.
19
III- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả xác định đột biến gen FGFR
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, đột biến dung hợp gen FGFRs-TACC và đột
biến điểm biến điểm N546K và R576W ở exon 12, exon 13 đóng vai trò rất quan
trọng đối với bệnh sinh u nguyên bào thần kinh đệm. Toàn bộ mẫu DNA của 60
bệnh nhân sau khi tách chiết từ mẫu mô parafin được khuếch đại với cặp mồi đặc
hiệu tại vị trí exon 12 và exon 13 trên gen FGFR. Sau khi khuếch đại được kiểm tra
bằng phương pháp điện di trên gel agarose 1,5% và được giải tình tự gen và so sánh
kết quả với trình tự chuẩn trên GeneBank bằng phần mềm CLC Main Workbench,
kết quả được tổng kết ở bảng 3.1.
Bảng 3.1. Kết quả phát hi
ện đột biến điểm trên gen FGFR
STT
1
2
3
4
5
Mã
BN
GB46
GB48
GB52
Asparagine > Lysine
Arginine > Tryptophan
Arginine > Tryptophan
Arginine > Tryptophan
Giải trình tự 60 mẫu bệnh phẩm phát hiện thấy 5/60 mẫu có đột biến gen
FGFR. Trong đó, 1 mẫu phát hiện thấy đột biến trên exon 12, và 4 mẫu phát hiện
thấy đột biến trên exon 13. Dạng đột biến chiếm tỷ lệ cao nhất là R576W trên exon
13, nghiên cứu cũng phát hiện 1 bệnh nhân có đột biến N546K trên exon 12. Ngoài
ra, nghiên cứu còn phát hiện thấy 01 đột biến mới A575V trên exon 13.
20
Hình 3.1. Tỉ lệ đột biến trên các exon (A) và tỉ lệ các dạng đột biến (B) trên
gen FGFR.
Kết quả trên cho thấy, hầu hết các đột biến xuất hiện ở exon 13 chiếm 80%,
trong đó dạng đột biến R576W chiếm tỉ lệ cao nhất với 60%.
Gen FGFR là thụ thể yếu tố phát triển nguyên bào sợi mã hóa cho protein
nằm trên màng tế bào và có hoạt tính tyrosin kinase, protein này tham gia vào hoạt
hóa con đường tín hiệu nội bào và được điều hòa nhờ sự bắt cặp phối tử đặc hiệu,
kết quả là sự tăng sinh, xâm lấn, di căn và chết theo chương trình của tế bào. Đột
biến gen này liên quan đến cơ chế bệnh sinh của nhiều loại ung thư như ung thư
bàng quang, ung thư vú, tuyến tiền liệt… trong đó có glioblastoma. Việc xác định
đột biến gen FGFR đóng vai trò quan trọng quyết định tính đáp ứng với thuốc điều
trị đích. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có hai dạng đột biến gen FGFR thường
gặp liên quan đến cơ chế bệnh sinh và khả năng đáp ứng với thuốc trong u nguyên
bào thần kinh đệm là đột biến điểm tại exon 12, exon 13 của gen FGFR1 và đột
biến dung hợp gen TACC3-FGFR3.
đồng nghĩa với việc không có vị trí bắt cặp của đoạn mồi, chính vì vậy phản ứng
PCR sẽ cho kết quả âm tính. Việc khuếch đại exon nằm ngoài vùng đột biến được
tiến hành như một phản ứng đối chiếu để đánh giá chất lượng của DNA khuôn và
hiệu quả của phản ứng PCR.
Hình 3.3. Kết quả xác định đột biến xóa đoạn exon 2. Giếng M: Marker 100bp.
Giếng GB20, GB21, GB25, GB26, GB38, GB40, GB43, GB44 là các mẫu bệnh
nhân U nguyên bào võng mạc, (-) mẫu chứng âm, (+) mẫu chứng dương.
Sản phẩm PCR của các mẫu GB20, GB21, GB25, GB40, GB44 thu được
đặc hiệu với một 1 băng sáng duy nhất, rõ nét, không có các băng phụ, kích thước
đồng đều và có chiều dài tương ứng với kích thước tính toán trên lý thuyết. Sản
phẩm PCR ở các bệnh nhân mã số GB26, GB38, GB43 không xuất hiện vạch chứng
tỏ bệnh nhân có đột biến xóa đoạn exon 2, kết quả thu được tương tự ở các bệnh
nhân mã số GB5, GB14, GB34, GB37. Như vậy 7/60 bệnh nhân có đột biến xóa
đoạn exon 2 gen EGFR chiếm tỉ lệ 11,6%.
23
Kết quả khuếch đại exon 3, exon 7 và exon 8 của 60 mẫu đều cho kết quả
dương tính. Sản phẩm PCR khuếch đại các exon của gen EGFR sẽ được giải trình
tự để xác định đột biến điểm.
Kết quả giải trình tự được phân tích bằng phần mềm CLC Main Workbench
và so sánh với trình tự chuẩn của gen EGFR (NM_005228) trên ngân hàng dữ liệu
Gene Bank. Giải trình tự 60 mẫu bệnh phẩm xác định đột biến điểm trên exon 2,
exon 3, exon 7 và exon 8 của gen EGFR, kết quả được trình bày trong Bảng 3.2.
Bảng 3.2. Kết quả phát hi
ện đột biến điểm trên gen EGFR
STT
2
7
7
2
2
7
7
Thay đổi
Thay đổi
nucleotid
c. 814 C>T
c. 814 C>T
c. 814 C>T
c.124G> A
c.124G> A
c. 820 C>T
c. 877 A>T
c.183 C > A
c.124 G > A
c. 866 G>A
c. 866 G>A
acid amin
p. P272S
p. P272S
p. P272S
p. G42D
Trong nghiên cứu này, 2/8 mẫu phát hiện thấy đột biến kép trên cả hai exon 2
và exon 7, còn lại là các đột biến riêng lẻ trên từng exon gồm 4/8 mẫu phát hiện đột
biến trên exon 7 và 2/8 mẫu phát hiện trên exon 2 (hình 3.13)
Hình 3.5. Tỉ lệ đột biến đơn và đột biến kép trên các exon 2 và exon 7
Nghiên cứu phát hiện được 6 loại đột biến khác nhau, các dạng đột biến phát
hiện được bao gồm 5 đột biến sai nghĩa c. 814C>T (P272S), c.124G>A (G42D),
c.820 C>T (T274M), c.183C > A (L62I), c.866G>A (A289T) và 1 đột biến vô
nghĩa c.877A>T (p. K293X). Tỉ lệ đột biến cao nhất là đột biến sai nghĩa c.814C>T
(P272S) và đột biến c.124G>A (G42D) chiếm tỉ lệ 27,27%, tiếp theo là đến đột biến
c.866G>A (A289T) chiếm tỉ lệ 18,18%, các dạng đột biến còn lại chiếm tỉ lệ 9,09%
và 9,10% (hình 3.14).
25
Hình 3.6. Tỉ lệ các dạng đột biến trên gen EGFR
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành phản ứng PCR với mồi đặc hiệu
khuếch đại các exon nằm trong vùng đột biến (exon 2, exon 3, exon 7) và các exon
nằm ngoài vùng đột biến (exon 8). Trong trường hợp đoạn gen đó bị đột biến xóa
đoạn đồng nghĩa với việc không có vị trí bắt cặp của đoạn mồi, chính vì vậy phản
ứng PCR sẽ cho kết quả âm tính. Việc khuếch đại exon nằm ngoài vùng đột biến
được tiến hành như một phản ứng đối chiếu để đánh giá chất lượng của DNA khuôn
và hiệu quả của phản ứng PCR. Những mẫu không phát hiện thấy đột biến xóa đoạn
sẽ được giải trình tự để xác định đột biến điểm trên gen EGFR. Kết quả trên 60 mẫu
nghiên cứu chúng tôi chưa tìm được mẫu nào có đột biến xóa đoạn gen EGFR. Tuy
nhiên, bằng kỹ thuật giải trình tự gen, 6 dạng đột biến điểm được phát hiện bao gồm
5 đột biến sai nghĩa (G42D, L62I, P272S, T274M, A289T) và 1 đột biến vô nghĩa
(K293X). Trong đó, ba dạng đột biến điểm chiếm tỷ lệ cao nhất là G42D (exon 2),
P272S (exon 7) và A289T (exon 7). Trong đó, đột biến A289T đã được công bố