Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở việt nam - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN MINH HÀ

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng ứng dụng)

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN MINH HÀ

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

đƣờng sự nghiệp trong tƣơng lai.
Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy, cô luôn dồi dào sức khỏe và
thành công trong sự nghiệp và cuộc sống.


DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Tên đầy đủ

BCT

Bộ Công Thƣơng

BTTTT

Bộ Thông tin và Truyền thông

CQLCT&BVNTD Cục Quản lý cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi ngƣời
tiêu dùng
NTD

Ngƣời tiêu dùng

TMĐT

Thƣơng mại điện tử


MỤC LỤC

VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở VIỆT NAM ............................................ 29
2.1. Các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng
trong thƣơng mại điện tử ..................................................................................29
2.1.1. Quy định về nguyên tắc xác định nghĩa vụ về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong thương mại điện tử................................................ 29
2.1.2. Quy định về bảo vệ thông tin người tiêu dùng trong thương mại
điện tử ....................................................................................................... 31
2.1.3. Quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng trong thương mại điện tử ............... 34
2.1.4. Quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ..... 41
2.1.5. Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong thương mại điện tử ................................................................. 46
2.2. Thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng trong thƣơng mại
điện tử ở Việt Nam ...........................................................................................50
2.2.1. Thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện
tử ............................................................................................................... 50
2.2.2. Những kết quả đạt được trong thực thi pháp luật về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử .......................................... 53
2.2.3. Những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử .................... 55
2.2.4. Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc ........................................... 57
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP
LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG
THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM .................................................. 60
3.1. Một số yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng trong thƣơng mại điện tử .....60



LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đem lại nhiều ứng dụng to lớn
cho xã hội loài ngƣời, trong đó có việc góp phần phát triển hoạt động thƣơng
mại. Thông qua khoa học công nghệ những giao dịch kinh doanh thƣơng mại
có thể đƣợc thiết lập, thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện mà không
phụ thuộc vào yếu tố địa lý. Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất thì các giao dịch
thƣơng mại đƣợc thiết lập, thực hiện dƣới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
đƣợc gọi là những giao dịch TMĐT.
Theo nghiên cứu của Trung tâm kinh doanh toàn cầu của Đại học Tufts
(Mỹ), hiện Việt Nam xếp hạng 48/60 quốc gia có tốc độ chuyển đổi kinh tế số
hóa nhanh trên thế giới, đồng thời xếp hạng 22 về tốc độ phát triển số hóa.
Điều đó chứng tỏ Việt Nam đang trong nền kinh tế số hóa và lĩnh vực TMĐT
có triển vọng tiến xa hơn. Với một quốc gia có đến 53% dân số sử dụng
internet và gần 50 triệu thuê bao sử dụng smartphone, thị trƣờng TMĐT ở Việt
Nam đƣợc dự đoán sẽ bùng nổ trong thời gian tới. Thực tế thời gian qua cũng
cho thấy, tiềm năng tăng trƣởng của lĩnh vực TMĐT của Việt Nam rất lớn.1
Theo đó, thực trạng tăng trƣởng và phát triển của TMĐT không chỉ của
Việt Nam mà trên toàn thế giới đang không ngừng lớn mạnh, và dần sẽ trở
thành xu hƣớng mua sắm, tiêu dùng chủ yếu của con ngƣời. Nhƣng mọi sự
việc đều có hai mặt, có mặt tốt nhƣng cũng đi kèm đó là những mặt xấu, có cơ
hội nhƣng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, cụ thể:
Thứ nhất, làn sóng đầu tƣ của các đối thủ ngoại vào Việt Nam cho
thấy, TMĐT trong tƣơng lai có thể chỉ là sân chơi của những tên tuổi
lớn. Giới trẻ hiện vẫn ƣu tiên mua hàng qua các website TMĐT của nƣớc
ngoài nhƣ Amazon, ebay,… do hàng hóa phong phú, đa dạng, chất lƣợng
phù hợp với nhu cầu ngƣời dùng và cũng đảm bảo về chi phí thanh toán
cũng nhƣ vận chuyển.
1


nghiệp, của các chủ thể có liên quan trong hoạt động TMĐT nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của NTD.
2. Tình hình nghiên cứu
Dƣới góc độ luật học, hầu hết các công trình nghiên cứu trƣớc đây


3

thƣờng tách riêng vấn đề TMĐT và bảo vệ quyền lợi NTD để nghiên cứu độc
lập. Trong đó, công trình hoàn thiện hơn cả phải kể đến là Luận án Tiến sĩ
luật học của tác giả Nguyễn Thị Thƣ: “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD ở Việt Nam hiện nay” (năm 2013). Cho đến nay, đây là công trình
nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ nhất về cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn
đề hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam. Tuy nhiên, vấn
đề về bảo vệ NTD gắn với hoạt động TMĐT lại chƣa đƣợc nghiên cứu sâu.
Bên cạnh đó, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khác nhƣ:
 TS. Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Thực trạng pháp luật Việt Nam về
bảo vệ quyền lợi NTD”, Tạp chí Luật học, số 11/2010;
 Nguyễn Thị Hà (2012), “Chế tài pháp lý đối với hành vi vi phạm
quyền lợi NTD trong TMĐT”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2012;
 Nguyễn Hoàng Mỹ Linh (2012), “Thực thi pháp luật bảo vệ quyền
lợi NTD của hệ thống các cơ quan nhà nước tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ
luật học, Trƣờng đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
 Nguyễn Thị Thu Hiền (2014), “Trách nhiệm của thương nhân trong
việc bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ luật học,
Trƣờng đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
 Hà Vy (2015), “Pháp luật về hợp đồng TMĐT ở Việt Nam”, Luận
văn thạc sĩ luật học, Trƣờng đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
 Nguyễn Thị Ngọc Anh (2016), “Pháp luật về TMĐT ở Việt Nam
trong xu thế hội nhập quốc tế”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trƣờng đại học

Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
TMĐT là cầu nối giữa nhà kinh doanh và NTD, là một phƣơng thức
kinh doanh của các tổ chức, cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh để
tìm kiếm lợi nhuận. Điều này rất có thể sẽ xâm hại đến quyền lợi của NTD
nếu không đƣợc sự điều chỉnh và kiểm soát chặt chẽ của pháp luật. Vì vậy,
đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là hệ thống quy định pháp luật cũng nhƣ
quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ NTD trong hoạt động TMĐT ở Việt
Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD


5

đặt trong mối tƣơng quan với pháp luật điều chỉnh hoạt động TMĐT do tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tiến hành trong thời gian từ năm
2012 (Luật bảo vệ quyền lợi NTD có hiệu lực) đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu các vấn đề thuộc đề tài này, tác giả đã sử dụng
phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –
Lenin, những quan điểm. đƣờng lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ
thể nhƣ sau:
Phƣơng pháp phân tích, bình luận, diễn giải, so sánh và phƣơng pháp
lịch sử đƣợc sử dụng chủ yếu ở Chƣơng 1 khi nghiên cứu các vấn đề lý luận
về pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động TMĐT.
Phƣơng pháp so sánh luật học, phân tích, tổng hợp, thống kê, đƣợc sử
dụng chủ yếu ở Chƣơng 2 khi khái quát, đánh giá thực trạng quy định pháp
luật và thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động TMĐT

7

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng trong thƣơng
mại điện tử
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng
Hiện nay, trên thế giới, pháp luật mỗi quốc gia lại có những cách thức
khác nhau để quy định về NTD, nhƣng chủ yếu vẫn dựa vào hai yếu tố là tƣ
cách chủ thể và mục đích sử dụng. Theo đó, hiện có hai quan điểm để quy
định về khái niệm NTD: (i) theo nghĩa hẹp chỉ NTD là cá nhân tiêu dùng; (ii)
theo nghĩa rộng thì NTD bao gồm cả cá nhân và tổ chức tiêu dùng.
Quan điểm thứ nhất (nghĩa hẹp) đƣợc thể hiện nhƣ sau:
Trong bản Hƣớng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ NTD ban hành từ
năm 1985 và đã đƣợc hiệu chỉnh vào năm 1999, khái niệm NTD không đƣợc
giải thích một cách rõ ràng. Tuy nhiên, theo bản hƣớng dẫn này NTD đƣợc
hƣởng 8 quyền sau đây: (i) quyền đƣợc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, (ii)
quyền đƣợc an toàn, (iii) quyền đƣợc thông tin, (iv) quyền đƣợc lựa chọn, (v)
quyền đƣợc lắng nghe, (vi) quyền đƣợc khiếu nại và bồi thƣờng, (vii) quyền
đƣợc giáo dục, đào tạo về tiêu dùng, (viii) quyền đƣợc có môi trƣờng sống
lành mạnh và bền vững.2
Xem xét tổng thể nội dung của 8 quyền, có thể thấy rằng, đây chỉ có thể
là các quyền của cá nhân mỗi con ngƣời mới đầy đủ tƣ cách để thụ hƣởng.
Nói cách khác, 8 quyền năng này không thể trao trọn vẹn cho chủ thể là tổ
chức. Điều này cũng có nghĩa rằng, trong quan niệm của Bản hƣớng dẫn vừa
nêu, NTD chỉ đƣợc hiểu là cá nhân tiêu dùng.
Cũng theo cách hiểu này, pháp luật về bảo vệ NTD của Hoa Kỳ cũng
không giải thích rõ khái niệm về NTD, nhƣng theo ghi nhận của các chuyên
2

để bán lại hoặc sử dụng làm nguyên liệu phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh
doanh đƣợc bảo vệ bởi các văn bản quy phạm pháp luật khác nhƣ Bộ luật dân
sự, Luật thƣơng mại, Luật cạnh tranh, Bộ luật Hình sự, …
3

Michael L. Rustad, Everyday Law for Consumers (Paradigm Publishers, 2007) at 2.


9

1.1.2. Khái quát về thương mại điện tử
1.1.2.1. Sự ra đời và phát triển của thương mại điện tử
TMĐT đƣợc biết đến từ lâu trên thế giới và đặc biệt phát triển mạnh ở
Việt Nam trong những năm gần đây. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đến
sự ra đời và quá trình phát triển cũng nhƣ lợi ích của nó đã đem lại cho nhân
loại. Trong nửa đầu thế kỷ 20, kỹ thuật số bắt đầu phát triển và từng bƣớc
đƣợc hoàn thiện. Hình ảnh và âm thanh đều đƣợc số hóa thành nhóm bit
(byte) điện tử, đƣợc truyền tải với tốc độ ánh sáng. Nó còn có thể đƣợc các
bên sử dụng làm ký hiệu riêng khi giao kết hợp đồng với nhau. Việc áp dụng
kỹ thuật số đƣợc coi là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử nhân loại,
cuộc cách mạng số hóa thúc đẩy sự ra đời của nền kinh tế số hóa và của xã
hội thông tin mà TMĐT là một bộ phận hợp thành.
TMĐT (tên tiếng anh là e-commerce) còn đƣợc biết đến với tên gọi là
nền kinh tế ảo, nền kinh tế „.com”, thƣơng mại trực tuyến “online trade”,
thƣơng mại điều khiển học “cybertrade”, thƣơng mại phi giấy tờ “paperless
commerce”, kinh doanh điện tử “electronic business”,… Nhìn chung trên thế
giới có rất nhiều tên gọi khác nhau về TMĐT. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ nào
đi nữa thì cũng không thể phủ nhận rằng TMĐT ra đời đã giúp ích rất nhiều
cho cuộc sống hiện đại.
1.1.2.2. Khái niệm thương mại điện tử

cách khác nhau nhƣng điểm chung giữa hai định nghĩa này là TMĐT đƣợc
hiểu theo nghĩa rộng. Nó đƣợc hiểu là các giao dịch tài chính và thƣơng mại
bằng phƣơng tiện điện tử nhƣ: Trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và
các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Theo nghĩa hẹp, TMĐT đƣợc hiểu là hoạt động thƣơng mại đƣợc thực
hiện qua mạng internet. Theo tổ chức thƣơng mại thế giới WTO: TMĐT bao
gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm đƣợc mua bán
và thanh toán trên mạng internet, nhƣng đƣợc giao nhận một các hữu hình, cả
các sản phẩm đƣợc giao nhận cũng nhƣ những thông tin số hóa qua mạng
internet.5 Còn tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên hợp quốc đƣa ra
4

Điều 1,2 Luật mẫu của UNCITRAL về TMĐT;
Marc bacchetta, patrick low, aa ditya Mattoo, Ludger Schuknecht, Hannu Wager và Madelon Wehrens,
Electronic commerce anh the role of Wto, university Cambrigde Publishing
5


11

khái niệm TMĐT nhƣ sau: TMĐT đƣợc định nghĩa sơ bộ là các giao dịch
thƣơng mại dựa trên việc truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông nhƣ
internet6.
Nhƣ vậy, ở nghĩa hẹp TMĐT chỉ bao gồm những hoạt động thƣơng mại
mà chủ yếu là mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ đƣợc thực hiện thông
qua qua mạng internet mà không bao gồm các phƣơng tiện điện tử khác nhƣ
điện thoại, fax, telex.
Tại Việt Nam, Luật Giao dịch điện tử ra đời năm 2005 đã đánh dấu
bƣớc đầu tiên định hình khung pháp lý điều chỉnh trực tiếp đối với các giao
dịch thƣơng mại thông qua phƣơng tiện điện tử. Sau đó, các văn bản dƣới luật

Các hình thức tổ chức hoạt động TMĐT có thể đƣợc chia theo Điều 25
Nghị định 52/2013/NĐ-CP thành hai loại bao gồm: (i) Các hình thức hoạt
động TMĐT thông qua việc thiết lập các website TMĐT hoặc ứng dụng trên
thiết bị di động phải đăng ký với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền; (ii) Các
hình thức hoạt động TMĐT không phải đăng ký với cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền nhƣ: bán hàng online qua mạng xã hội facebook, instagram, zalo,
viber,… Theo đó, các hoạt động TMĐT đƣợc thực hiện trên website TMĐT
bao gồm:
+ Website TMĐT bán hàng là website TMĐT do các thƣơng nhân, tổ
chức, cá nhân tự thiết lập để phục vụ hoạt động xúc tiến thƣơng mại, bán hàng
hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình. Trong đó tiến hành các hành vi nhƣ
giao kết hợp đồng TMĐT; giao kết hợp đồng sử dụng chứng năng đặt hàng
trực tuyến; thanh toán điện tử;…
+ Website cung cấp dịch vụ TMĐT là website TMĐT do các thƣơng
nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trƣờng cho các thƣơng nhân, tổ chức,
cá nhân khác tiến hành hoạt động thƣơng mại. Trong đó bao gồm các loại
nhƣ: Sàn giao dịch TMĐT; Website đấu giá trực tuyến; Website khuyến mại
trực tuyến; Các loại website khác do BCT quy định.
Ngoài ra, các ứng dụng đƣợc tạo lập trên các thiết bị di động có cả chức
năng bán hàng và chức năng cung cấp dịch vụ TMĐT cũng là một hình thức
của hoạt động TMĐT phải thông báo hoặc đăng ký với cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền cũng có chức năng nhƣ các website TMĐT bán hàng và sàn giao
dịch TMĐT theo quy định tại Thông tƣ 59/2015/TT-BCT của BCT quy định
quản lý hoat động TMĐT qua ứng dụng trên thiết bị di động.
Về bản chất, các hoạt động TMĐT đƣợc tiến hành trên các website trực
tuyến là sự điện tử hóa những hành vi đƣợc thực hiện trên thực tế của giao


13


Khoản 3, điều 3, Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về TMĐT;


14

bộ nội dung hợp đồng trên website sẽ đƣợc tổng hợp lại và hiển thị để ngƣời
mua xác nhận sự đồng ý của mình với nội dung đó.
b) Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử là dịch vụ trung gian giúp khách hàng thanh toán
hàng hóa hay dịch vụ trên các website bán hàng cho phép thanh toán trực
tuyến và có kết nối với các cổng thanh toán TMĐT. Nói cách khác, thanh toán
điện tử là thanh toán không dùng tiền mặt. Một số hình thức thanh toán điện
tử phổ biến hiện nay nhƣ sau:
Thanh toán qua thẻ: sử dụng hệ thống máy thanh toán chấp nhận thẻ
(POS) để thanh toán các loại thẻ tín dụng quốc tế hoặc nội địa nhƣ: thẻ Visa,
thẻ Master, thẻ Master Express.
Thanh toán bằng ví điện tử: Tùy thuộc vào từng cơ chế thanh toán của
từng website mà các cá nhân sở hữu hình thức ví điện tử nhƣ Mobivi, Payoo,
VnMart mới có thể thanh toán trực tuyến bằng hình thức này.
Thanh toán bằng Smart Phone (điện thoại di động thông minh): Với
hình thức này, khách hàng có thể thanh toán trực tuyến thông qua điện thoại
thông minh với dịch vụ mobile banking – ngân hàng trực tuyến.
c) Mua bán hàng hóa qua sàn giao dịch thương mại điện tử
Sàn giao dịch TMĐT là website TMĐT cho phép các thƣơng nhân, tổ
chức, cá nhân không phải là chủ sở hữu website có thể tiến hành một phần
hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó9. Các sàn giao
dịch TMĐT này trƣớc đây đã phổ biến tại các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Anh,
Pháp… và bắt đầu phổ biến hơn tại các nƣớc Đông Nam Á trong những năm
gần đây10. Sàn giao dịch TMĐT đóng vai trò nhƣ một chiếc cầu nối liên kết
hàng ngàn shop bán hàng, công ty, doanh nghiệp và nguồn khách hàng đa

phổ biến ở 3 loại chính là đấu giá ngƣợc, đấu giá xuôi tốn phí và đấu giá xuôi
không tốn phí.
Website khuyến mại trực tuyến là website TMĐT do thƣơng nhân, tổ
chức thiết lập để thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thƣơng
nhân khác theo các điều khoản của hợp đồng dịch vụ khuyến mại12. Hiện nay,
pháp luật ghi nhận các hình thức khuyến mại trực tuyến nhƣ sau: Bán phiếu
mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng đƣợc mua hàng hoặc sử dụng
dịch vụ của đối tác với giá ƣu đãi hoặc hƣởng những lợi ích khác; Tặng hàng
hóa hoặc đƣa hàng mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền,…
1.1.3. Sự cần thiết phải bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại
điện tử
Trong nền kinh tế thị trƣờng, NTD có vai trò hết sức quan trọng, mang
tính quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, một thƣơng
hiệu. Có thể nói, NTD chính là động lực để thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế và là trọng tâm của kế hoạch kinh tế. Nếu nhƣ sản phẩm làm ra không
11
12

Khoản 11, Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về TMĐT;
Khoản 10, Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về TMĐT;


16

có ngƣời tiêu thụ sẽ dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừa, nền kinh tế không
phát triển và các doanh nghiệp không thể tồn tại.
Ngày nay, với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học công nghệ, nhiều sản phẩm hữu ích cùng những phƣơng thức kinh doanh
hiện đại đã ra đời và phát triển đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của NTD. Tuy
nhiên, vì mục đích lợi nhuận nên một số doanh nghiệp đã vi phạm nghiêm

Chính vì vậy, chúng ta cần nỗ lực, chung tay để hạn chế những hành vi vi phạm
này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của NTD và các doanh nghiệp làm ăn
chân chính, góp phần xây dựng thị trƣờng tiêu dùng văn minh, lành mạnh.
Mặt khác, ở bất kỳ quốc gia nào, NTD luôn là nhóm đối tƣợng đông
đảo đƣợc quan tâm nhiều nhất, là yếu tố quan trọng, động lực góp phần thúc
đẩy tăng trƣởng kinh tế - xã hội. Đối với riêng doanh nghiệp, để có thể phát
triển bền vững, thì cần lấy NTD làm trung tâm cho sự phát triển đó. Tuy
nhiên, do việc thiếu thông tin, thiếu sự lựa chọn nên NTD thƣờng ở vị thế yếu
hơn trong quan hệ mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ với tổ chức, cá nhân
kinh doanh. Vì vậy, muốn TMĐT phát triển, trƣớc hết phải bảo vệ quyền lợi
của NTD.
1.1.4. Yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử
TMĐT đang là mô hình kinh doanh có mức tăng trƣởng mạnh mẽ, phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại nhờ phát huy thế mạnh tiện lợi
cho những ngƣời bận rộn. Hiện, một nửa dân số Việt Nam sử dụng internet và
đang nằm trong top dẫn đầu về thời gian trực tuyến tại Đông Nam Á.
Bên cạnh những ƣu điểm của hoạt động TMĐT nhƣ tính hiện đại, chính
xác, tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian thì khi thực hiện các hoạt động TMĐT
nhƣ giao kết hợp đồng TMĐT, đặt hàng qua chức năng đặt hàng trực tuyến,
thanh toán điện tử hay mua bán hàng hóa, yêu cầu cung cấp dịch vụ trên các
website TMĐT có thể gặp phải những rủi ro nhất định. Rủi ro đƣợc hiểu là
những tổn thất, mất mát xảy ra trong quá trình thực hiện các giao dịch điện tử
của NTD, nó tác động xấu đến sự phát triển của doanh nghiệp và lợi ích của
NTD. Một số những rủi ro có thể kể đến trong hoạt động TMĐT đó là:
- Rủi ro về mặt pháp lý: Rủi ro này bắt nguồn từ những vấn đề nhƣ: Hệ
thống pháp luật về TMĐT chƣa đƣợc hoàn thiện; sự thiếu kiến thức của các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status