CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG
CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG
TRÁNH XÂM HẠI CƠ THỂ CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC CƠ SỞ
- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
- Nghiên cứu ở nước ngoài
Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về cơ thể, tình cảm,
tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo
lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bơ rơi, bỏ mặc trẻ em và
các hình thức gây tổn hài lại khác. Như vậy, có thể hiểu có 4 hình
thức chính xâm hại trẻ em đó là sao nhãng hay bỏ mặc không
chăm sóc trẻ em, xâm hại về cơ thể, xâm hại về tinh thần và xâm
hại tình dục.
Sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hôi trong giáo
dục học sinh là vấn đề từ lâu được các nhà giáo dục rất coi trọng.
Chẳng hạn, J.A.Komenxki (1592-1670) là người đầu tiên bàn về
mối quan hệ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong hoạt động
giáo dục. Theo ông, lòng ham học của học sinh chịu sự tác động,
sự kích thích rất lớn từ phía nhà trường, gia đình. J.A.Komenxki
khẳng định: “Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn
học, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duy
trì khát vọng học tập trong học sinh”. Không những A.Komenxki
mà V.A.Xukhomlinxki (1918-1970) cũng đã bàn về mối quan hệ
biện chứng giữa nhà trường và xã hội trong thực hiện mục đích
giáo dục thế hệ tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa.
V.A.Xukhomlinxki đã luận chứng sự cần thiết, vai trò của sự phối
hợp giữa các lực lượng trong hoạt động giáo dục xã hội.
cảm khác. Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do
các quy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được
coi như là một hằng số văn hóa. Trong khi đó, theo các chuyên
gia môi trường, cộng đồng là “một nhóm công dân chung sống tại
một khu vực địa lý, cùng chia sẻ một hệ thống giá trị, các nhu cầu
và lợi ích chung”.
- Nghiên cứu ở Việt Nam
Bàn về phương pháp tiếp cận cộng đồng dựa vào nội lực và
do người dân làm chủ, tác giả Nguyễn Đức Vinh quan niệm: Cộng
đồng gồm những người có đặc điểm hoặc mối quan tâm, lợi ích
chung. Có những quan niệm về cộng đồng khác nhau. Tùy cách tiếp
cận và mục đích mà của chủ thể nghiên cứu có những quan niệm
cộng đồng không hoàn toàn giống nhau. Dựa vào địa lý, cộng đồng
được hiểu là cùng địa bàn, cùng lợi ích hoặc mối quan tâm, có
chung đặc điểm văn hóa-xã hội, có mối quan hệ ràng buộc nhất
định. Dựa vào chức năng, cộng đồng được quan niệm là cùng hoặc
không cùng điạ phương hoặc địa bàn cư trú, nhưng có cùng lợi ích
(nghề nghiệp, sở thích, hợp tác,...). Theo đó, tác giả quan niệm,
cộng đồng được đặc trưng bởi sự gắn kết các quan hệ, sự hỗ trợ lẫn
nhau, sự tôn trọng, chia sẻ, chấp nhận nhau và ý thức về lòng tự hào
chung. Nó tạo ra các cơ hội và sự tự do lựa chọn cho mọi người, tôn
trọng sự đa dạng, cộng tác để chia sẻ trách nhiệm vì mục đích chung
[47, tr.7].
Theo từ điển tiếng Việt: Phối hợp là cùng chung góp, cùng
hành động ăn khớp để hỗ trợ cho nhau [46]. Trong lịch sử giáo
dục ở nước ta, từ lâu giữa nhà trường và gia đình đã có sự hợp tác
chặt chẽ trong việc giáo dục trẻ. Sự phối hợp giữa nhà trường và
cha mẹ học sinh được hiểu là các thầy cô trong trường và cha mẹ
hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục” [41, tr.109]. Luật
Giáo dục không chỉ quy định trách nhiệm của nhà trường mà con
quy định trách nhiệm của gia đình (Điều 94), trách nhiệm của xã
hội (Điều 96) đối với nhà trường cũng như đối với giáo dục.
Có nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khách
nhau về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối hợp giữa nhà
trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ.
Chẳng hạn: “Giáo dục gia đình” (Giáo trình đào tạo giáo viên
THCS, Nxb Giáo Dục), “Xã hội hoá công tác giáo dục” (Phạm
Minh Hạc), “Giáo dục học- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
(Hà Thế Ngữ), “Suy nghĩ về trách nhiệm của gia đình đối với việc
giáo dục thiếu niên nhi đồng” (Nguyễn Đức Minh), “Văn hoá gia
đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” (Võ Thị
Cúc)…; “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y tế ở Việt Nam”
(Nguyễn Minh Phương). Bàn về trách nhiệm đối với sự nghiệp
giáo dục, tác giả Nguyễn Minh Phương cho rằng: Trách nhiệm
phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế không phải là của riêng tổ
chức, cá nhân nào, mà đòi hỏi sự gánh vác của toàn xã hội, cụ thể
là Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp, gia
đình và tổ chức xã hội.
Bàn về phòng tránh bạo lực học đường và tệ nạn xã hội
trong nhà trường (khái niệm, thực trạng, nguyên nhân, giải
pháp...) có các công trình tiêu biểu là: “Vấn đề tội phạm vị thành
niên” của Hồ Sỹ Anh; “Bạo lực học đường nghĩ nhìn từ thời gian
vui chơi của học sinh” Nguyễn San Hà; “Bạo lực học đường suy ngẫm về nhân tố giáo dục gia đình trong xu thế hội nhập của
của Trương Công Vĩnh Khanh; “Bạo lực học đường nhận diện và
Nam”, Nxb Văn hóa - Thông tin. Cuốn tài liệu có nhiều nội dung
liên quan đến phòng tránh xâm hại trẻ em. Nó là cuốn tài liệu bổ
ích, giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ
làm việc với trẻ em, để tham khảo, vận dụng vào các công việc,
góp phần thực hiện tốt sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em. Chuyên đề Thông tin Tội phạm học (2015), “Giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ em - yếu tố quan trọng trong phòng ngừa xâm
phạm tình dục”, Tạp chí Cảnh sát, số 4. Nội dung chuyên đề đã
khẳng định: Giáo dục kỹ năng sống được xem như một thành tố
quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách tích cực không
chỉ cho học sinh, sinh viên mà còn rất có ý nghĩa đối với cả những
người trưởng thành, cha mẹ học sinh và trong phòng ngừa tội
phạm.
Tài liệu tập huấn Phòng chống bạo lực trong gia đình của
Đoàn Tâm Đan; Tài liệu về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em
của Nguyễn thị Ngọc Bích; “Bạo hành và xâm hại tình dục” của
Nguyễn thị Hải; “Thực trạng và kết quả phòng, chống tội phạm xâm
hại trẻ em và tội phạm ở người chưa thành niên của VKSND tỉnh
Quảng Ninh” của Thái Hưng; “Xâm hại tình dục trẻ em và một số
giải pháp phòng ngừa” của Nguyễn Tuấn Anh; “Nguyên nhân của
tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và một số biện pháp đấu tranh,
phòng ngừa” của Trần Thị Thu Hiền; “Tăng cường giải pháp phòng,
chống bạo lực và xâm hại trẻ em” của Công tâm; “Bảo vệ trẻ em tại
cộng đồng của Minh Ngọc...
Nhìn chung, những đề tài, luận văn nghiên cứu về sự phối
hợp các lực lượng cộng đồng mà trước hết là nhà trường - gia
đình - xã hội đã khẳng định gia đình có tính quyết định trong việc
giáo dục thế hệ trẻ; sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường, gia
Hệ quả của xâm hại cơ thể học sinh: Tổn thương và ảnh
hưởng đến sự phát triển của cơ thể, bị những tổn thương nghiêm
trọng tới sức khỏe, cơ thể. Những tổn thương bên trong không thấy
được, có thể dẫn đến tử vong. Rối loạn ăn uống, rối loạn giấc
ngủ...Tổn thương và ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm lý và tinh
thần: Học sinh bị xâm hại cơ thể cũng dễ bị chấn thương tâm lý, tự
kỷ, thu rút mình, thậm chí mắc phải những vấn đề tâm thần. Giảm
khả năng học tập và hòa nhập xã hội của các em, tác động tới quá
trình trưởng thành và để lại những hệ quả tiêu cực lâu dài trong
cuộc sống của trẻ. Nhiều trẻ lớn lên trở nên sống khép kín, gặp trở
ngại trong giao tiếp xã hội. Họ cũng có biểu hiện mặc cảm, thiếu tự
tin vào bản thân. Trẻ mất niềm tin vào người lớn, tình yêu thương.
Khi trưởng thành có thể trở nên nóng nảy dễ có hành vi bạo lực.
Nhiều người chấn thương tâm lý dẫn tới những hành động hung
hăng, thậm chí có hành vi tự hại, luôn muốn tự làm đau mình để
giảm stress căng thẳng.
- Giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể
cho học sinh trung học cơ sở
Là một hiện tượng xã hội - lịch sử, giáo dục là quá trình
chuyển giao hệ thống tri thức, giá trị, thái độ và kinh nghiệm hoạt
động của thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau nhằm phát triển và
hoàn thiện nhân cách cá nhân, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề
nghiệp, đảm bảo cho cá nhân phát triển, đóng góp vào sự tồn tại,
phát triển xã hội. Trong phạm vi nhà trường, giáo dục là một quá
trình tổng thể của hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục nhằm
phát triển nhân cách, chuẩn bị tâm lý cho học sinh được tổ chức
có kế hoạch, đáp ứng yêu cầu của xã hội về xây dựng con người
phát triển toàn diện. Như vậy, giáo dục là hoạt động có mục đích,
vốn sống của các em đã tăng dần. Kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ
thể của các em cũng có những biến đổi khá phong phú. Do sự
trưởng thành và tích luỹ của giai đoạn trước, ở cấp THCS các em đã
có một vị trí xã hội mới. Học sinh THCS không hoàn toàn là trẻ
con, nhưng cũng chưa phải là một người lớn. Ở giai đoạn này, cảm
xúc, tình cảm, kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể của các em bị
chi phối bởi các yếu tố cơ bản là: sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lý
dẫn đến sự dậy thì; hoạt động giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi và
với người lớn của các em được mở rộng. Ở tuổi học sinh THCS, các
em bắt đầu có sự quan tâm đến hình dáng bề ngoài, đến bạn khác
giới và ở nhiều em nảy sinh những cảm xúc về giới... Như vậy, hoạt
động giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh
THCS đạt được mục đích đặt ra đòi hỏi chủ thể giáo dục phải nắm
vững đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, có sự quan tâm đúng mức
đến tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của các em.
Kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể học sinh THCS có kết
quả cao, nó chính là sự phản ánh chất lượng, hiệu quả cao của quá
trình giáo dục. Hình thành, phát triển kỹ năng phòng tránh xâm
hại cơ thể cho hoc sinh THCS là đòi hỏi tất yếu, nhằm góp phần
hình thành, phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Giáo dục kỹ
năng phòng tránh xâm hại cơ thể bằng các phương thức tác động
thích hợp sẽ giúp học sinh THCS nhận thức đúng tính tích cực,
chủ động trong quá trình học tập, rèn luyện và ứng xử trong cuộc
sống; đồng thời giúp các em có nhận được giá trị bản thân và giá
trị của người khác, có khả năng đề phòng, ngăn ngừa những xâm
hại cơ thể do ngoài ý muốn mang lại.
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
nghiên cứu, dựa vào những nội dung luận bàn ở trên, có thể quan
Giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS
được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú. Thông qua giảng
dạy các môn khoa học bằng hình thức tích hợp hay lòng ghép, như:
GDCD, Ngữ văn, Lịch sử.... cũng có thể xây dựng một số chủ đề
giáo dục riêng. Thông qua sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, tọa đàm;
sinh hoạt câu lạc bộ thanh thiếu niên... Thông qua các phương tiện
truyền thống; thông qua tài liệu sách báo về kỹ năng phòng tránh
xâm hại cơ thể. Thông qua tư vấn của chuyên gia tâm lý... Trong
tính đa dạng về hình thức, việc giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm
hại cơ thể cho học sinh THCS được thực hiện thông qua giảng dạy
và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; sự phối hợp các
lực lượng cộng đồng trong giáo dục là phương thức cơ bản, quan
trọng nhất.
- Phối hợp lực lượng cộng đồng trong giáo dục
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học
sinh trung học cơ sở
- Khái niệm lực lượng cộng đồng
Bàn về khái niệm cộng đồng có nhiều cách tiếp cận khác
nhau, tùy thuộc vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra. Có
nhiều loại, dạng thức cộng đồng đã, đang tồn tại trong xã hội.
Những loại, dạng thức cộng đồng đó không chỉ khác nhau về bản
sắc, hình thức tổ chức, nguyên tắc vận hành mà còn có vai trò khác
nhau trong đời sống hiện thực. Những loại hình, dạng thức phong
phú của cộng đồng vừa tồn tại độc lập tương đối, vừa lồng ghép,
đan xen, tích hợp với những mối tương tác đa chiều và phức tạp.
Tuy nhiên, dù loại hình, dạng thức cộng đồng có khác nhau, nhưng
đều có mẫu số chung là sức cố kết, là sức sống của các cộng đồng
đó, đều dựa trên cường độ của ý thức cộng đồng.
cận nghiên cứu về các lực lượng cộng đồng. Dựa vào địa vực cư
trú, các lực lượng cộng đồng là những người dân cư trú trong
cùng một địa bàn, có chung đặc điểm văn hóa-xã hội, có mối quan
hệ ràng buộc với nhau và cùng được áp dụng chính sách chung.
Dựa vào chức năng, các lực lượng cộng đồng được hiểu là những
người có lợi ích chung, được liên kết với nhau trên cơ sở nghề
nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức. Các lực lượng
cộng đồng cũng là nơi sinh sống, học tập, lao động, vui chơi, là
thôn, xóm, làng... Công động có tác động rất lớn đến sự phát triển
nhân cách thế hệ trẻ. Theo đó, lực lượng cộng đồng trong giáo
dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học THCS được
quan niệm là gia đình học sinh và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ
chức xã hội-nghề nghiệp, các doanh nghiệp, cơ quan đơn vị hoạt
động ở trên địa bàn nhất định có tác động tới việc giáo dục kỹ
năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh.
Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường hay
huy động các lực lượng cộng đồng trong giáo dục là quá trình vận
động (động viên, khuyến khích, thu hút) và tổ chức mọi thành
viên trong các lực lượng cộng đồng tham gia vào hoạt động giáo
dục cho học sinh. Phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng
cộng đồng trong quá trình giáo dục là một trong những nguyên lý
cơ bản của nền giáo dục nước ta. Luật Giáo dục khẳng định: “Mọi
tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp
giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục,
xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn” [41, tr.39].
Điều 100 Luật Trẻ em năm 2016 nêu rõ: Cha, mẹ, giáo viên,
người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách
nhiệm trau dồi kiến thức, kỹ năng giáo dục trẻ em về đạo đức,
thuộc cộng động tạo nên sự thống nhất trong quá trình giáo dục
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS. Mỗi lực
lượng, thành viên đại diện cho tổ chức, đoàn thể, PHHS,... có cơ
hội được tham gia góp ý, hoàn thiện nội dung chương trình, kế
hoạch hành động và cùng thống nhất đưa ra nội dung, cách thức
phối hợp thực hiện có hiệu quả, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh THCS đề ra.
Hai là, nội dung tổ chức mối liên hệ giữa các lực lượng
cộng đồng trong giáo dục giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại
cơ thể cho học sinh THCS, mà trực tiếp, cô động nhất là giữa nhà
trường với PHHS bao gồm: Nhà trường giúp đỡ, hỗ trợ cụ thể cho
PHHS trong việc giáo dục, giúp họ nắm được nội dung, yêu cầu
của từng lứa tuổi; sử dụng linh hoạt phương pháp giáo dục kỹ
năng phòng tránh xâm hại cơ thể của các em học sinh phù hợp
trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình; giúp cho
PHHS nhận thức đúng vai trò, nội dung, cách thức tham gia giáo
dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho con em mình; cùng
chia sẽ trách nhiệm, nghĩa vụ với nhà trường và các tổ chức thuộc
các lực lượng cộng đồng trong việc giáo dục kỹ năng phòng tránh
xâm hại cơ thể của học sinh. Hơn nữa, với tư cách là chủ thể giáo
dục, PHHS có trách nhiệm chủ động phối hợp với nhà trường và
các tổ chức thuộc các lực lượng cộng đồng trong việc giáo dục kỹ
năng phòng tránh xâm hại cơ thể của chính con mình; chống
khuynh hướng tự đề ra những yêu cầu giáo dục kỹ năng phòng
tránh xâm hại cơ thể cho học sinh đi ngược với mục tiêu, nhiệm
vụ nhà trường; tránh yêu cầu hoặc khoán trắng cho nhà trường và
các tổ chức xã hội trong giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ
thể cho học sinh THCS mà con em họ là một thành viên.
học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về
kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông,
trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [41, tr.48].
Thông qua hoạt động dạy học - giáo dục hình thành, phát triển
cho học sinh THCS những năng lực cơ bản: năng lực thích ứng với
những thay đổi trong thực tiễn để tự chủ, tự lập, năng động trong
cuộc sống; năng lực hành động, nghĩa là biết làm, biết giải quyết
những tình huống thường nhật; năng lực cùng sống và làm việc với
tập thể, với các lực lượng cộng đồng; năng lực tự học tập thường
xuyên, suốt đời, cũng như năng phòng tránh xâm hại cơ thể, như:
nhận diện cảm xúc, hạ nhiệt cảm xúc, điều khiển suy nghĩ; góp
phần định hướng rèn luyện kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể
trong một số tình huống cụ thể.
- Nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho
học sinh trung học cơ sở
Nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể được
lồng ghép vào nội dung dạy học; cũng có thể tổ chức thành một
quá trình học tập theo chuyên đề nhằm trang bị kiến thức, hình
thành và phát triển kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học
sinh THCS.
-lồng ghép nội dung kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể
vào các môn học (GDCD, Văn học, Sinh học, ...). Các môn học
này là những môn học có nội dung kiến thức gần gũi với nội dung
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể. Giải quyết mối quan hệ giữa
phần kiến thức cơ bản của môn học với việc lồng ghép giáo dục
kỹ năng phòng tránh xâm hại cơ thể cho học sinh.
Việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm
hại cơ thể vào trong các môn học cần phải lựa chọn và phù hợp