1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (HKTM), bao gồm huyết khối tĩnh mạch sâu
và nhồi máu phổi là mối đe dọa với các bệnh nhân phẫu thuật, cũng như đòi hỏi chi
phí y tế rất lớn. Mỗi năm tại Mỹ có khoảng 900000 ca bệnh thuyên tắc HKTM, gây
ra 300000 ca bệnh tử vong liên quan đến nhồi máu phổi [1]. Trong các yếu tố nguy
cơ gây nên thuyên tắc HKTM thì phẫu thuật ngoại khoa, đặc biệt là phẫu thuật thay
khớp háng, khớp gối là một trong những yếu tố nguy cơ cao nhất [2]. Nếu không điều
trị dự phòng , tỉ lệ HKTM sâu sau phẫu thuật khớp háng lên đến 41- 57% và sau phẫu
thuật khớp gối dao động từ 41 – 85%, trong đó tỉ lệ nhồi máu phổi là 0,9% - 28% sau
thay khớp háng và chiếm 1,5 – 10% sau thay khớp gối [3] . Một nghiên cứu dịch tễ học
năm 2013 tại bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy trong số 102 bệnh nhân sau phẫu thuật thay
khớp háng có 41% mắc thuyên tắc HKTM, một tỉ lệ không hề nhỏ [4].
Chính bởi vậy, dự phòng thuyên tắc HKTM ở bệnh nhân trải qua phẫu thuật
thay khớp háng, khớp gối là hết sức cần thiết. Cùng với các biện pháp cơ học, một
số thuốc kháng đông có thể được dùng để phòng ngừa thuyên tắc HKTM như:
fondaparinux, heparin trọng lượng phân tử thấp, heparin không phân đoạn,kháng
vitamin K liều hiệu chỉnh, dabigatran, hoặc rivaroxaban, với thời gian dự phòng có
thể kéo dài tới 35 ngày sau phẫu thuật. Bốn thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng đã
ghi nhận rivaroxaban hiệu quả hơn so với enoxaparin trong việc dự phòng HKTM
sâu và nhồi máu phổi với mức độ chảy máu chấp nhận được sau phẫu thuật thay
khớp háng hoặc khớp gối [5],[6], [7], [8].
Nhiều khuyến cáo về chiến lược dự phòng thuyên tắc HKTM do các tổ
chức uy tín như Trường Môn Lồng Ngực Mỹ (ACCP) hoặc Viện Hàn Lâm Chỉnh
Hình Mỹ (AOOS) đưa ra đã được áp dụng rộng rãi tại Mỹ [9], [10]. Ở Việt Nam,
Hội chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh (năm 2013) và tiếp đó là
Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam (năm 2016) cũng đã đưa ra khuyến cáo
hướng dẫn điều trị dự phòng thuyên tắc HKTM sau phẫu thuật thay khớp háng,
khớp gối [11], [12].
Để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị, trong vài năm gần
phần lớn các trường hợp thuyên tắc phổi là hậu quả của huyết khối tĩnh mạch sâu.
a)Huyết khối tĩnh mạch sâu: là sự hình thành cục máu đông gây hẹp bán phần
hoặc hoàn toàn lòng tĩnh mạch sâu.
b) Nhồi máu phổi: là sự tắc nghẽn một hoặc nhiều nhánh động mạch phổi.
Nguyên nhân hàng đầu là do cục máu đông từ xa di chuyển tới, với tần suất trên
90% theo thống kê của các tác giả nước ngoài[13].
1.1.2. Dịch tễ thuyên tắc HKTM
Ước lượng có khoảng 900,000 ca bệnh nhồi máu phổi và HKTMS mỗi năm ở
Mỹ gây ra 60,000 đến 300,000 ca tử vong mỗi năm[1]. Theo một phân tích ở Thụy
Điển, tỷ lệ thuyên tắc HKTM là 25% và thuyên tắc phổi là 18,3%. Tác giả của
nghiên cứu này ước tính tỷ lệ nhồi máu phổi là 42,5/10,000 người dân mỗi
năm[14].Ở Anh và Pháp, nghiên cứu trên 342,000 người dân, tỷ lệ bị thuyên tắc
HKTM và nhồi máu phổi lần lượt là 18,3 và 6/10,000 người dân mỗi năm[15].
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh và các yếu tố nguy cơ của thuyên tắc HKTM
1.1.3.1. Cơ chế bệnh sinh của thuyên tắc HKTM
Sự tạo lập huyết khối là một trong những cơ chế giúp cân bằng nội môi. Cục
máu đông hình thành giúp cầm máu sau khi bị thương. Huyết khối có thể được hình
thành bằng một số cách, thông thường là hoạt hóa dòng thác enzyme, làm khuyếch
đại hiệu ứng của tác nhân kích thích ban đầu.
HKTM thường được hình thành ở phía sau các lá van hoặc ở những nơi hợp
lưu của tĩnh mạch và đa phần bắt đầu ở cẳng chân. Tiểu cầu sẽ kết dính vào lớp
dưới nội mạc bị lộ ra bằng yếu tố Von Willebrand hoặc fibrinogen trong thành
mạch. Bạch cầu trung tính và tiểu cầu được kích hoạt sẽ giải phóng các hóa chất
trung gian tiền đông máu và các hóa chất trung gian gây viêm. Bạch cầu trung tính
cũng kết dính vào màng đáy và di chuyển vào lớp dưới nội mạc. Các thành phần
4
này bao quanh bề mặt tiểu cầu và đẩy nhanh tốc độ hình thành thrombin và fibrin.
Hình 1.2. Tam giác Virchow [19]
a) Ứ trệ tĩnh mạch: vừa trải qua phẫu thuật, nằm viện, bay đường dài > 8 tiếng,…
b) Tổn thương nội mạc: chấn thương, phẫu thuật,…
c) Yếu tố gây tăng đông:
- Tiền sử thuyên tắc HKTM,
- Suy van tĩnh mạch chi dưới
- Tuổi cao
- Thai kì
- Ung thư
- Béo phì
- Sử dụng thuốc ngừa thai hoặc điều trị hormone thay thế
- Các yếu tố di truyền: thiếu antithrombin IIII, thiếu protein S, thiếu protei C,
kháng thể kháng phospholipid, đột biến gen G20210A, đột biến yếu tố V Leiden,
tăng homocystein máu[20].
Theo hướng dẫn của ACCP (American College of Chest Physicians) năm 2001
và của Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam năm 2016, các BN phẫu thuật được
phân tầng nguy cơ như sau:
Bảng 1.1. Phân tầng nguy cơ TTHKTM ở bệnh nhân ngoại khoa chung[12],
[21].
Phân tầng nguy cơ TTHKTM ở bệnh nhân ngoại khoa chung
Nguy cơ thấp
Phẫu thuật nhỏ trên BN < 40 tuổi, không kèm YTNC
Nguy cơ trung bình
Phẫu thuật nhỏ trên BN có kèm YTNC hoặc
Phẫu thuật nhỏ trên BN 40-60 tuổi không kèm YTNC
Nguy cơ cao
Phẫu thuật nhỏ trên BN > 60 tuổi hoặc
Phẫu thuật lớn trên BN 40-60 tuổi không kèm YTNC
Nguy cơ rất cao
- Ung thư hoạt động (đang điều trị hoặc mới phát hiện
trong vòng 6 tháng)
-Liệt, yếu cơ, hoặc mới phải bất động chi dưới( bó bột,...)
Nằm liệt giường ≥ 3 ngày hoặc mới phẫu thuật lớn trong
vòng 4 tuần trước
- Đau dọc đường đi của hệ tĩnh mạch sâu
- Sưng toàn bộ chi dưới
- Bắp chân sưng > 3 cm so với bên đối diện (đo dưới lồi củ
trước xương chày 10 cm)
-Phù ấn lõm
- Giãn tĩnh mạch nông bàng hệ (không phải búi giãn tĩnh mạch mạn tính)
Điểm
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
7
- Chẩn đoán khác nhiều khả năng hơn là HKTM sâu
Khả năng thấp khi số điểm
tĩnh mạch, làm tĩnh mạch ấn không xẹp, hoặc chỉ xẹp một phần, và/hoặc có hiện
tượng khuyết màu, phổ Doppler không thay đổi theo nhịp hô hấp.
Đối với nhóm nguy cơ cao như sau phẫu thuật khớp háng hoặc khớp gối, cần
được tầm soát để phát hiện huyết khối sớm, thường chưa có biểu hiện lâm sàng.
8
Huyết khối (nếu có) thường chỉ mới xuất hiện nên kích thước nhỏ, chưa đủ để gây
tắc nghẽn. Ngoài ra, huyết khối mới hình thành thường định vị ở trong các tĩnh
mạch xa trung tâm và các tĩnh mạch nhỏ ( các tĩnh mạch thuộc cẳng chân).
Huyết khối mới hình thành tạo ra cấu trúc giảm âm đồng nhất bên trong lòng
mạch, mức độ giảm âm thường kém hơn độ hồi âm của cơ xung quanh. Cấu trúc hồi
âm của huyết khối thường là đồng nhất trong giai đoạn mới hình thành, ranh giới
huyết khối thường đều đặn. Thành trong của mạch máu còn trơn láng. Đoạn tĩnh
mạch có huyết khối thường gia tăng kích thước và lớn hơn cả đoạn tĩnh mạch hạ lưu
nếu huyết khối đủ lớn chiếm 1 phần hay toàn bộ lòng mạch. Huyết khối không bám
thành và phấp phới trong lòng mạch, nhất là phía đầu gần của huyết khối.
Trong giai đoạn mạn tính, khi huyết khối tổ chức lại, xơ hóa, thành mạch trở
nên dày và tăng âm, bề mặt bên trong lòng mạch không đều, thậm chí có những mảng
vôi hóa. Đường kính tĩnh mạch trở nên nhỏ hơn do tình trạng xơ hóa bên trong thành
mạch và trong lòng mạch. Tổn thương các ổ van trong tĩnh mạch bị huyết khối được
xem là hệ quả tất yếu trong giai đoạn sau của huyết khối tĩnh mạch [27].
Đây là kĩ thuật không xâm lấn, thực hiện được nhanh chóng, có độ nhạy và độ
đặc hiệu cao. Đối với huyết khối tĩnh mạch đoạn gần, siêu âm có độ nhạy và dộ đặc
hiệu lần lượt là 90 và 95%. Đối với huyết khối tĩnh mạch sâu đơn độc ở tĩnh mạch
bắp chân, độ nhạy là 50- 75% [28]. Kết quả dương tính là đủ cơ sở để bắt đầu điều
trị hoặc dùng thuốc kháng đông. Ngược lại, kết quả siêu âm lần đầu âm tính trên
bệnh nhân xác suất lâm sàng thấp giúp loại trừ HKTM sâu một cách an toàn.
Chụp tĩnh mạch cản quang:
•
Rối loạn ý thức.
Dấu hiệu lâm sàng của HKTM sâu chi dưới.
Đánh giá nguy cơ nhồi máu phổi trên lâm sàng dựa vào thang điểm Wells hoặc
Gieneva cải tiến đã được đơn giản hóa.
Bảng 1.3. Thang điểm Wells cải tiến đánh giá khả năng lâm sàng
bị nhồi máu phổi [29]
Thông số
Ho ra máu
Ung thư
Tiền sử HKTMS hoặc TĐMP
Nhịp tim > 100 lần/ phút
Mới phẫu thuật hoặc bất động lâu
Dấu hiệu HKTMS
Ít nghĩ đến chẩn đoán khác
Xác suất bị TĐMP trên lâm sàng
Điểm
1
1
1.5
1.5
1.5
3
3
Thấp < 2
Trung bình 2-6
Cao > 6
•
•
•
-
Rung nhĩ hay cuồng nhĩ
Block nhánh phải
Trục lệch phải
S1Q3T3
Sóng T đảo ngược từ V1-V4, hoặc DIII và aVF
Chụp Xquang tim phổi:
X quang tim phổi bình thường có thể gặp trong tất cả các dạng nhồi máu phổi
nên không dùng biện pháp này để xác định hoặc loại trừ nhồi máu phổi. Phim
Xquang tim phổi thường không thấy những biểu hiện bất thường ở bệnh nhân nhồi
máu phổi sớm.
Từ ngày thứ 3 trở đi có thể quan sát thấy:
•
•
•
•
Vùng phổi sáng ở một thùy phổi hoặc một phân thùy do không được tưới máu
Xẹp phổi, cơ hoành bị kéo lên cao, tràn dịch màng phổi nếu phổi bị nhồi máu
Hình ảnh viêm phổi sau nhồi máu.
Ở những bệnh nhân nhồi máu phổi mạn tính có tăng áp động mạch phổi lâu ngày,
-
có thể thấy hình ảnh tim to và mạch phổi bị đứt đoạn.
Trong những năm gần đây người ta thấy rằng có vẻ không khác biệt về tần
suất hiện mắc DVT giữa những bệnh nhân phương Tây và Á Châu sau phẫu thuật
chỉnh hình. Trong phân tích của Leizorovicz A. và cộng sự (nghiên cứu SMART)
trên các nghiên cứu cho thấy tần suất xuất hiện DVT không có triệu chứng trên
bệnh nhân châu Á phẫu thuật thay khớp háng lên đến hơn 60% và trong thay khớp
gối là khoảng 70%[33].
Tại Việt Nam, tuy chưa có số liệu chính xác, nhưng nghiên cứu 102 bệnh nhân
mổ thay khớp háng tại Bệnh viện Chợ Rẫy, cho thấy tần suất của thuyên tắc
HKTM là 41% tức là ngang bằng với tần suất ở khu vực và trên thế giới[4].
1.2.2. Các yếu tố nguy cơ thuyên tắc HKTM ở bệnh nhân phẫu thuật thay khớp
háng, khớp gối.
Bảng 1.4. Các yếu tố làm tăng nguy cơ thuyên tắc HKTM ở bệnh nhân
thaykhớp háng, khớp gối [11].
Tổn thương nội mạc
Do tư thế mổ và thao tác
Tổn thương do nhiệt
Sử dụng xi măng xương
Dùng garo trong lúc mổ
Ứ trệ tuần hoàn
Bất động lúc mổ
Dùng garo
Gây mê
Tính tăng đông máu
Phóng thích yếu tố đông
máu ở mô
Hoạt hóa men đông máu
- Kìm hãm hệ tiêu sợi huyết
nội sinh sau mổ
hơn nhưng sau đó lại giảm nhanh hơn so với sau thay khớp háng. Cụ thể, HKTM
sâu thường xảy ra vào ngày thứ nhất sau thay khớp gối (85%) , và ngày thứ 4 sau
thay khớp háng. Đa số nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch xảy ra trong 1
tháng, nhưng vẫn có thể duy trì 2 – 3 tháng sau phẫu thuật [36]. Nếu không điều trị
dự phòng, tỷ lệ HKTM sâu sau thay khớp háng lên đến 41- 57% và sau thay khớp
gối dao động từ 41 – 85%, trong đó tỷ lệ nhồi máu phổi là 0,9% - 28% sau thay
khớp háng và chiếm 1,5 – 10% sau thay khớp gối [3].
13
Hình 1.3. Tỷ lệ biến cố thuyên tắc HKTM sau phẫu thuật thay khớp háng,
khớp gối [37].
1.2.3. Dự phòng thuyên tắc HKTM ở bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng,
khớp gối
-
1.2.3.1. Chiến lược chung trong dự phòng thuyên tắc HKTM
Gồm 4 bước:
Đánh giá nguy cơ thuyên tắc HKTM của bênh nhân nhập viện dựa vào các yếu tố
-
nguy cơ nền và tình trạng bệnh lý của bệnh nhân.
Đánh giá nguy cơ chảy máu, chống chỉ định của điều trị chống đông
Tổng hợp các nguy cơ, cân nhắc lợi ích của việc dự phòng và nguy cơ chảy máu khi
-
Kháng vitamin K: Cần hiệu chỉnh liều sao cho INR từ 2 đến 3, và không khuyến
cáo nếu cần đạt hiệu quả dự phòng sớm, trong thời gian ngắn.
• Dabigatran: là thuốc ức chế trực tiếp thrombin, dùng liều 110 mg x 1 lần trong ngày
đầu, sau đó 110 mg x 2 viên uống 1 lần/ ngày.
•
Rivaroxaban: là thuốc ức chế trực tiếp và chọn lọc yếu tố Xa, liều 10 mg x 1 lần/
-
ngày [12], [38].
c) Lựa chọn biện pháp và thời gian dự phòng.
Biện pháp dự phòng: Dự phòng thường quy bằng một trong các thuốc chống đông
(heparin trọng lượng phân tử thấp, heparin không phân đoạn, fondaparinux, kháng
vitamin K, dabigatran hoặc rivaroxaban) và/hoặc biện pháp ép bằng hơi áp lực ngắt
-
quãng.
Thời gian duy trì dự phòng trung bình là 10 – 14 ngày, có thể kéo dài tới 35 ngày kể
từ khi phẫu thuật [39],[9].
15
1.3. Điều trị dự phòng thuyên tắc HKTM sau phẫu thuật thay khớp háng,
khớp gối bằng rivaroxaban
1.3.1. Thuốc rivaroxaban
Dược lực học:
Sự ức chế hoạt hóa của yếu tố Xa phụ thuộc liều đã được quan sát thấy trên
Sự thải trừ của rivaroxaban khỏi huyết tương xảy ra với thời gian bán hủy từ 5 đến
c)
-
9 giờ ở người trẻ tuổi và từ 11 đến 13 giờ ở người cao tuổi [24].
Chỉ định:
Rivaroxaban được chỉ định để phòng ngừa HKTM ở các bệnh nhân phẫu thuật
chỉnh hình chi dưới (dùng 5 tuần sau thay khớp háng và 2 tuần sau thay khớp
-
gối) [24], [41].
Phòng ngừa đột quỵ não ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim và có ít nhất
-
1 yếu tố nguy cơ đột quỵ não [42].
Điều trị HKTM sâu và phòng ngừa HKTM sâu tái phát và nhồi máu phổi [43].
16
-
Chống chỉ định:
Người quá mẫn cảm với rivaroxaban hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Đang chảy máu nghiêm trọng trên lâm sàng (ví dụ: xuất huyết nội sọ, chảy máu tiêu
-
Xử trí cho từng cá nhân tùy theo mức độ nghiêm trọng và vị trí xuất huyết.
-
Điều trị triệu chứng thích hợp có thể được sử dụng khi cần thiết như nén ép cơ học
(đối với chảy máu cam), phẫu thuật cầm máu, truyền dịch và các hỗ trợ về huyết
động học, các sản phẩm máu (hồng cầu khối hoặc huyết tương tươi đông lạnh, tùy thuộc
-
vào tình trạng thiếu máu hoặc bệnh đông máu đi kèm, hoặc tiểu cầu) [44].
Nếu chảy máu không thể kiểm soát được bằng các biện pháp trên thì có thể dùng
một chất thay đổi tiền đông máu đặc hiệu như phức hợp prothrombin cô đặc, phức
hợp prothrombin cô đặc được hoạt hóa hoặc tái tổ hợp yếu tố VIIa ( r-FVIIa). Tuy
nhiên hiện nay kinh nghiệm lâm sàng còn rất hạn chế với việc sử dụng các sản
phẩm này trên người đang dùng rivaroxaban [24], [26],[44].
17
1.3.2. Các nghiên cứu về sử dụng thuốc chống đông dự phòng thuyên tắc HKTM
ở bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng, khớp gối trên thế giới và tại Việt Nam.
Có 4 nghiên cứu RECORD đánh giá so sánh hiệu quả của rivaroxaban
10mg/ngày so với enoxaparin 40mg/ngày tiêm dưới da trong dự phòng huyết khối
tĩnh mạch sâu gồm 12.729 BN. Trong đó nghiên cứu RECORD 1 thực hiện trên
4541 BN và nghiên cứu RECORD 2 thực hiện trên 2509 BNbệnh nhân thay khớp
háng, các BN được phân ngẫu nhiên dùng rivaroxaban hoặc enoxaparin, thời gian
dùng rivaroxaban trung bình 35 ngày; nghiên cứu RECORD 3 thực hiện trên
2531BN và nghiên cứu RECORD 2 thực hiện trên 3148 BN thay khớp gối với thiết
kế tương tự, thời gian dùng rivaroxaban trung bình là 10-14 ngày. Kết quả cho thấy
thấp hơn đáng kể ở nhóm dùng rivaroxaban (0,9%) so với nhóm còn lại (1,4%)
(OR= 0,65; 95% CI là 0,49- 0,87), và tỷ lệ chảy máu lớn là không đáng kể ở bệnh
nhân dùng rivaroxaban so với những bệnh nhân dùng heparin trọng lượng phân tử
thấp trong nghiên cứu XAMOS (1,7% so với 1,4 %, OR=1,19, 95% CI là 0,92 –
1,53). Hơn nữa, tỷ lệ giảm tiểu cầu do heparin thấp hơn đáng kể ở nhóm dùng
rivaroxaban [48],[49].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Văn Chung và cộng sự với 250 BN tại bệnh
viện Sài Gòn – ITO so sánh hiệu quả và độ an toàn của rivaroxaban so với enoxaparin
trong dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau mổ thay khớp háng hoặc khớp gối
cho thấy không có trường hợp nào thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, không có BN nào
chảy máu tiêu hóa nặng, chảy máu tiêu hóa nhẹ là 0,8%, đái máu 0,8% [50].
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân ≥ 18 tuổi có chỉ định phẫu thuật thay khớp gối hoặc khớp háng
(bao gồm tất cả bệnh nhân có hoặc không dùng enoxaparin để dự phòng thuyên tắc
HKTM trước phẫu thuật) điều trị tại khoa chấn thương chỉnh hình bệnh viện Bạch
Mai trong thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 7/2018.
19
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
-
Suy chức năng gan (viêm gan cấp, đợt hoạt động của viêm gan mạn, xơ gan Child
2.5. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
-
Cỡ mẫu: Lấy thuận tiện.
Cách chọn mẫu:
Chọn mẫu thuận thuận tiện: tiến hành lấy tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật
thay khớp háng hoặc khớp gối tại khoa chấn thương chỉnh hình bệnh viện Bạch
Mai, theo tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ trong thời gian nghiên cứu.
2.6. Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Các bệnh nhân có chỉ định thay khớp háng hoặc khớp gối được khám
lâm sàng kỹ lưỡng, thu thập các thông tin về đặc điểm chung như: tuổi, giới, BMI,
tiền sử bệnh tật, mức độ đau khớp theo thang điểm VAS.
- Làm các xét nghiệm thường quy về công thức máu, đông máu và chức năng
gan, thận trước phẫu thuật và siêu âm Doppler hệ tĩnh mạch chi dưới trước phẫu
thuật 1 ngày để loại trừ HKTMS trước phẫu thuật thay khớp háng, khớp gối; đồng
thời đánh giá các bệnh lý khác của hệ tĩnh mạch nếu có.
- Đánh giá nguy cơ chảy máu trước phẫu thuật.
- Các bệnh nhân thay khớp do gãy xương nếu trì hoãn phẫu thuật được dùng
enoxaparin với liều dự phòng 40mg x 1lần/ngày tiêm dưới da (nếu không có chống
-
chỉ định) và dừng trước mổ thay khớp 12 giờ.
Tư vấn cho bệnh nhân về việc cần dự phòng huyết khối tĩnh mạch sau phẫu thuật.
Thuyết phục bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
Bước 2:Thu thập các thông tin liên quan đến phẫu thuật như: thời gian phẫu
thuật, phương pháp phẫu thuật, phương pháp vô cảm…theo bệnh án nghiên cứu.
Bước 3:Bệnh nhân nghiên cứu sẽ được uống rivaroxaban 10 mg/ngày sau
phẫu thuật 6-10h hoặc ngay khi tình trạng cầm máu đã ổn định, kéo dài 14 ngày với
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu
23
2.7. Biến số và chỉ số nghiên cứu
2.7.1. Đặc điểm nhân trắc học, tiền sử bệnh tật và các yếu tố liên quan đến phẫu
thuật thay khớp của đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.1. Các biến số, chỉ số liên quan đặc điểm nhân trắc học, tiền sử bệnh
tật của đối tượng nghiên cứu
Đặc
điểm
nhân
trắc học
Tiền sử
bệnh tật
Chỉ số, biến số
Tuổi
Giới
Chiều cao
Cân nặng
Bệnh ác tính đang hoạt động
Tiền sử tăng đông
Dùng thuốc ngừa thai hoặc
hormon thay thế trong 2
tháng vừa qua
Tiền sử thuyên tắc HKTM
Có hoặc không
Theo JNC 8
Theo ADA 2017
Theo WHO
Theo GOLD 2017
Theo ESC 2013
Theo tiêu chuẩn Bennet và
Wood (1968)
Theo tiêu chuẩn của hội thấp
học Mỹ 1997
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán
New York sửa đổi 1984
Theo tiêu chuẩn của hội thấp
học Mỹ 1987
Công cụ
thu thập
số liệu
Bệnh án
nghiên
cứu
24
-
Hội chứng kháng phospholipid chuẩn đoán theo tiêu chuẩn quốc tế sửa đổi 2006 do
-
Dẫn lưu sau phẫu thuật
Lượng máu mất trong và sau
phẫu thuật
Thời gian bắt đầu uống liều
rivaroxaban đầu tiên sau phẫu thuật
-
Phân loại
là thời gian bệnh nhân bất động tại
giường (tính theo ngày) [53]
Tính theo phút
Có hoặc không
Nếu có ghi rõ (tính theo ml)
Một trong 2 phương pháp:
-Gây mê nội khí quản
-Tê tủy sống
Một trong 4 phương pháp:
- Thay khớp háng toàn phần
- Thay khớp háng bán phần
- Thay khớp gối toàn phần
- Thay khớp gối bán phần
Có hoặc không
Theo thang điểm VAS
Thoái hóa khớp
Viêm cột sống dính khớp
Viêm khớp dạng thấp
Gãy xương
Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi
Khác (ghi lí do)
Có hoặc không
Không đau:
0 điểm
Đau ít:
1- 3 điểm
Đau vừa:
4- 6 điểm
Đau nhiều:
7-10 điểm [55]