Trờng THPT ứng hòa b GV Nguyễn Hòa
1
Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội
Trường THPT ứng hòa B
Sáng kiến kinh
nghiệm
ti:
Đổi mới phương pháp dạy học trong việc
tiếp nhận văn bản văn học
Người viết : Nguyễn Mạnh Hòa
Tổ : Ngữ Văn
Trường THPT ứng hòa B H Ni- thỏng 5 nm 2009
A. Mở đầu
I.Lý do chọn đề tài.
Đổi mới PPDH là một vấn đề đã đợc đặt ra từ rất lâu và đợc sự quan tâm đặc biệt
của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo. Nhng việc vận dụng đổi mới
PPDH trong dạy học không phải là việc dễ dàng thực hiện và đạt đợc hiệu quả ngay từ
đầu. Trớc đây, chúng ta dạy học vẫn theo phơng pháp truyền thống với quan niệm : học
là quá trình tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thứ, kỹ năng, t tởng tình cảm.
Giáo viên luôn là ngời truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu biết của mình về
một vấn đề nào đó; còn học sinh là ngời ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của giáo viên.
Chính vì vậy mà phơng pháp đó dẫn đến chỗ học sinh là ngời thụ động và qúa trình nhận
dạy học vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã quyết
định chọn đề tài này để trớc hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng cao chuyên môn
sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong đợc chia xẻ với đồng nghiệp cùng
Trờng THPT ứng hòa b GV Nguyễn Hòa
2
quan tâm để góp phần nâng cao chất lợng chuyên môn và đổi mới PPDH môn ngữ văn
trong phạm vi nhà trờng THPT
II Mục đích nghiên cứu.
- Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi mới PPDH
văn ... để đề ra một số biện pháp trong PP dạy học vấn đáp .
- Nhằm mục đích nâng cao chất lợng của giờ học, phát huy tính tích cực, tự giác
chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề,
gây hứng thú học tập cho học sinh
IV. Thời gian, đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
- Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 05 năm 2009
- Đối tợng nghiên cứu: Phơng pháp vấn đáp trong việc dạy học môn Ngữ Văn.
- Phạm vi nghiên cứu: Học sinh khối : 11,12
V. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề tài:
+ Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm thoại) .
+ Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.
+ Thực hiện một số công việc trong phơng pháp vấn đáp.
+ Thiết kế một bài dạy vận dụng PP vấn đáp
VI. Phơng pháp nghiên cứu.
Làm đề tài này, tôi đã vận dụng nhiều phơng pháp. Dới đây là những phơng pháp chủ
yếu:
1. Phơng pháp thống kê, nêu ví dụ.
2.Phơng pháp thực nghiệm qua giảng dạy, dự giờ,bài kiểm tra, bài thi học kỳ,
số điểm.
học sinh không tiếp nhận, không hởng ứng những tác động đó, không trực tiếp tham gia
vào các hoạt động nhằm phát triển tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ
học vấn vận dụng PP vấn đáp, học sinh có dịp bù đắp những tri thức mà mình cha đợc
biết, cha hiểu hoặc hiểu cha rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về t tởng, đạo
đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.
2. Cơ sở nhận thức.
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc ngời nhng sự phản ánh
này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên hoạt động tích
cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhng không phải con ngời nào cũng
đều là chủ thể của nhận thức. Con ngời trở thành chủ thể khi nó tham gia vào hoạt động
xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể. Trong nhà trờng học sinh chính là chủ thể
của hoạt động nhận thức; còn khách thể chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn
minh nhân loại. Theo cơ sở triết học: con ngời tự làm ra mình bằng chính hoạt động của
mình nhng cái quan trọng là làm ra cái đó nh thế nào và bằng cách nào?
Đối với môn Ngữ Văn học sinh đến trờng để học tập thực chất là để tiếp nhận,
chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chơng. Vì mục đích ấy, học sinh tự đọc lấy tác
phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt đợc cái hồn của tác phẩm chứ không phải học
lấy những điều giáo viên giảng giải, giáo viên cắt nghĩa nh xa nay ngời ta vẫn thờng làm.
Giáo viên chỉ là ngời hớng dẫn, chỉ bảo cho học sinh những hớng tiếp cận tác phẩm sao
cho có hiệu quả nhất, học sinh từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với sự
Trờng THPT ứng hòa b GV Nguyễn Hòa
4
chiếm lĩnh tác phẩm ấy, học sinh dới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của giáo viên mà
trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.
Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ học ấy
học sinh có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá trình nhận thức
bằng chính hoạt động của mình.
3. Cơ sở văn học.
Nếu hình tợng hội hoạ đợc xây dựng bằng đờng nét, màu sắc; âm nhạc đợc xây
dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh...thì hình tợng văn học đợc xây dựng bằng chất
gian , không gian. Không phải là truyền thụ một chiều.Bên cạnh đó một số giáo viên vẫn
còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lùng túng trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi
mới phơng pháp dạy học vấn đáp . Chẳng hạn các phơng pháp đổi mới là gì ? Khi đổi
Trờng THPT ứng hòa b GV Nguyễn Hòa
5
mới phơng pháp dạy học thì vai trò của ngới thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi nh thế
nào là đổi mới?Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?.....
Ngoài ra, giáo viên chuẩn bị bài dạy cha thật kĩ, đặc biệt là cha xây dựng đợc hế
thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, cha chú ý tới việc chuẩn bị bài học của học sinh, cha
phân loại đối tợng học sinh trong từng lớp ... Giáo viên cha ý thức rõ về dạng câu hỏi,
mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm hiểu bài học thiếu tính
khao học, tình trạng giáo viên hỏi một đằng học sinh trả lời một nẻo hoặc trả lời không
đùng trọng tâm yêu cầu.
Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phơng pháp dạy và học văn càng đợc quan
tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phơng pháp vấn đáp . Tuy nhiên, việc đổi mời PP DH văn
không có nghĩa là gạt bỏ các PP truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các
PPDH hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các PP hiện đại
Chơng III:
Nội dung dạy học vấn đáp (đàm thoại).
I Quan niệm về dạy học vấn đáp (đàm thoại).
1.1 Thế nào là phơng pháp vấn đáp?.
Phơng pháp vấn đáp là phơng pháptrong đó giáo viên đặt ra các câu hỏi để HS trả
lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó HS lĩnh hội đợc nội dung bài
học. Phơng pháp vấn đáp, đàm thoại khác vói thuyết trình ở chỗ nội dung cần truyền thụ
không đợc thể hiện qua lời giảng của ngời dạy mà đợc thực hiện bời hệ thống câu trả lời
của ngời học, dới sự gợi mở bởi các câu hỏi của ngời dạy đè xuất . Các câu hỏi này đợc
tổ chức thành một hệ thống phù hợp với nội dung bài học, đối tợng học sinh.
1.2 Mục đích và yêu cầu của PP vấn đáp
Mục đích của PP vấn đáp là nâng cao chất lợng giờ học bằng cách tăng cờng hình
trọng tài trong các hoạt đọng tìm tòi tranh luận của HS . GV phải có trình độ chuyên
môn sâu, rộng, có trình độ s phạm mới có thể tổ chức hớng dẫn các hoạt động của HS.
Với giờ đọc - hiểu văn bản Ngữ văn, GV là ngời điều khiển, hớng dẫn để học sinh tự
khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Ngời GV phải chuẩn bị kĩ nội dung bài học nh
xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc biệt là quá trình tổ chức h-
ớng dẫn dạy học bài mới. GV phải xây đựng đợc một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù
hợp với nội dung bài học.Câu hỏi phải khơi gợi đợc hứng thú tham gia hoạt động của học
sinh và phải đợc chuẩn bị một cách chu đáo và thục sự khoa học, không thể tùy hứng,
vụn vặt, thiếu hệ thống,đặc biệt là không có tác dụng.đẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa
văn bản . Câu hỏi không cần nhiều nhng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm,
then chốt, có tình huống buộc học sinh phải suy nghĩ và có húng thú bộc lộ cảm nghĩ của
mình . Có thể nói xây dựng đợc hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lợng có tác dụng gợi
dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công phu và tài năng
thực sự của GV
Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, ngời GV phải xác định đợc mức độ,
mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng nh tính hệ thống, đẫn dắt của mồi câu
hỏi .Cũng cũng phải lu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào đối tợng HS mà ng-
ời GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho phù hợp vói tình huống, đối tợng
học sinh và mục tiêu bài học. Chẳng hạn, đứng trớc một vấn đề mà học sinh khó phát
hiện cũng nh khó trả lời, ngời giáo viên cần có câu hỏi gợi mở để từ đó giúp học sinh có
sự định hớng và trả lời.
1.3.2 Ngời học sinh trong giờ học vấn đáp.
Trong cơ chế dạy học văn theo lối cũ, mối liên hệ giữa giáo viên và học sinh là
mối liên hệ giữa ngời giảng với ngời nghe, ngời truyền thụ với ngời tiếp thu, ngời thông
tin với ngời tiếp nhận, ngời trình bày với ngời ghi nhớ. Nh vậy những năng lực chủ quan
của bản thân học sinh không đợc phát huy. Trong giờ học văn , học sinh chỉ có nhiệm vụ,
nghe nhớ, và lặp lại điều đã nhớ đợc qua lời giảng của giáo viên. Học sinh đợc xem nh là
khách thể, một đối tợng thụ động chịu sự tác động của giáo viên, của tài liệu, của tiến
trình giảng dạy mà không thấy rõ học sinh cũng là chủ thể năng động trong tiến trình tổ
chức dạy học.
- GV cần phải nắm vững bản chất của PP vấn đáp, đặc biệt là phải phân biệt đợc các loại,
mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có
tình huống , khơi gợi đợc hứng thú tham gia hoạt động của học sinh,phù hợp với nội
dung bài học .
Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba phơng
pháp (mức độ) vấn đáp : Vấn đáp tái hiện , Vấn đáp giải thích chứng minh và vấn đáp
tìm tòi, phát hiện, sáng tạo
+ Vấn đáp tái hiện : Đây là phơng pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu HS chỉ cần nhớ lại
và tái hiện nội dung bài học .Đây là dạng vấn đáp ở mức độ bình thờng, không đòi hỏi
HS phải t duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc dựa vào văn bản văn học
Chẳng hạn khi tổ chức cho HS tìm hiểu chung về văn bản văn học, giáo viên chủ yếu
sử dụng PP vấn đáp tái hiện .Ví dụ dạy học bài Việt Bắc, sau khi đọc phần tiểu dẫn, giáo
viên đặt câu hỏi : Em hãy cho biết phn tiu dn gii thiu ni dung gỡ?. Học sinh lắng
nghe và căn cứ vào văn bản để trả lời :- Hon cnh v mc ớch sỏng tỏc bi th Vit
Bc. Gii thiu khỏi quỏt v b cc bi th . Hay khi tổ chức hớng dẫn học sinh đọc
hiểu văn bản Việt Bắc, giáo viên đặt câu hỏi tái hiện : Cuc chia giữa kẻ ở ngời đi tay
c miờu t nh thế nào trong tám câu thơ đầu? HS đọc văn bản và tái hiện cảnh chia tay
Trờng THPT ứng hòa b GV Nguyễn Hòa
8
: Trên nền cảnh núi rùng Việt Bắc, diễn ra cảnh chia tay đầy bịn rịn lu luyến giữa đồng
bào Việt Bắc và cán bộ CM miền xuôi .Li ca Vit Bc lờn ting trc
Hi v khụng gian v thi gian thng gi k nim va gn bú va sõu nng. Li anh
cỏn b khỏng chin ct lờn li ỏp thể hiện nỗi lòng bõng khuõng, xao xuyn không
muốn rời xa.
Ví dụ : Khi hớng dẫn học sinh tìm hiểu những phát hiện của ngời nghệ sĩ nhiếp ảnh
trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , giáo viên đặt câu hỏi vấn đáp
tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những cảm xúc thẫm mỹ, đang
tận hởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì ngời nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh
ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau bức tranh ? Tâm trạng ngời nghễ sĩ khi
đó nh thế nào? .
giú gựn ghố, ỏ ging n chõn tri v súng bt tung trng xúa... T cỏi hỳt nc quóng
T Mng Vỏt, nhng cỏi hỳt nc xoỏy tớt lụi tut mi vt xung ỏy sõu... Nhng
Trờng THPT ứng hòa b GV Nguyễn Hòa
9