Công nghệ nối mạng riêng ảo di động cho mạng 3G - Pdf 56

Kính thưa các thầy cô giáo và toàn thể các bạn sinh viên. Trong thời
gian vừa qua dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Nguyễn Phạm Anh Dũng,
em đã hoàn thành đồ án tốt nghiệp với đề tài “Công nghệ nối mạng riêng ảo
di động cho mạng 3G”. Sau đây em xin trình bày phần nội dung tóm tắt của
đồ án.
Đồ án được chia thành 3 chương:
- Chương I: Giới thiệu tổng quan nối mạng vô tuyến chủ yếu đi vào
tìm hiểu khía cạnh các dịch vụ số liệu trong các hệ thống
GPRS/UMTS và CDMA2000.
- Chương II: Tổng quan MVPN và cuối cùng là.
- Chương III: Các giải pháp VPN cho các hệ thống GPRS/UMTS và
CDMA2000.
Sau đây em xin trình bày cụ thể nội dung từng chương.
CHƯƠNG I:
1. Nối mạng số liệu vô tuyến CS và PS
Đầu tiên ta tìm hiểu các công nghệ nối mạng số liệu vô tuyến chuyển
mạch kênh và gói. Chiếu slide 2.
- Với nối mạng số liệu vô tuyến CS: các kênh dành riêng được ấn
định cho các thuê bao cho dù họ có sử dụng hay không.
- Với nối mạng số liệu vô tuyến PS: dựa trên cơ chế ghép kênh thống
kê các phiên người sử dụng trên giao diện vô tuyến. Do vậy tài
nguyên mạng chỉ được sử dụng trong thời gian truyền số liệu.
Vậy: Về lý thuyết, CS cung cấp băng thông hiệu dụng cho người sử dụng
lớn hơn nhưng lại sử dụng lãng phí hơn tài nguyên mạng. PS hiệu quả hơn
nhưng xảy ra hiện tượng tranh chấp băng thông hiệu dụng, dẫn đến nghẽn,
trễ và hiệu suất thông lượng trên mỗi người sử dụng thấp hơn.
Hỗ trợ nối mạng di động số liệu PS dựa trên các cơ chế truyền tunnel
khác nhau như MIP (sử dụng trong CDMA2000) và GTP (sử dụng trong
GPRS/UMTS).
Cơ chế truyền tunnel như hình vẽ. Các đường ngắt quãng đậm nét thể
hiện các tunnel quá khứ, liền nét thể hiện các tunnel hiện thời tích cực được

khiển việc truy nhập đến các tài nguyên nối mạng riêng cho các phía
được trao quyền. AC hoạt động độc lập với nhận thực và an ninh.
- Nhận thực AU: trong VPN, mọi thực thể liên quan đến truyền thông
tin phải có thể nhận dạng mình với các đối tác liên quan khác và
ngược lại. Nhận thực là quá trình cho phép các thực thể truyền thông
kiểm tra các nhận dạng như vậy.
- An ninh Sec: VPN được xây dựng trên các phương tiện công cộng
dùng chung không an ninh, do đó yêu cầu về toàn vẹn dữ liệu và mật
mã hóa là điều kiện không thể thiếu. Có thể đảm bảo an ninh bằng
cách triển khai các phương pháp mật mã hóa kết hợp với hệ thống
phân phối khóa an ninh.
- Truyền tunnel là nền tảng của VPN: bao gồm việc đóng bao một số
gói số liệu vào các gói khác theo một tập quy tắc được áp dụng cho cả
hai đầu cuối của tunnel. Kết quả là nội dung được đóng bao trong
tunnel là không thể thấy được khi truyền qua mạng công cộng không
an ninh. Nó thực hiện ba nhiệm vụ chính:
 Đóng bao
 Trong suốt đánh địa chỉ riêng
 Toàn vẹn số liệu đầu cuối-đầu cuối và bảo mật.
- SLA: các thực thể tham gia vào VPN bị ràng buộc bởi các thỏa thuận
để đạt được các mức dịch vụ yêu cầu cũng như lợi nhuận mong muốn.
Các thỏa thuận này được dự thảo giữa tất cả các bên liên quan để định
nghĩa các mức dịch vụ.
2. Phân loại VPN (chiếu slide 3 và slide 4)
Nêu nội dung có trong slide.
Do mục đích chính của đồ án nên ta chỉ đi xem xét cụ thể vào việc phân
loại VPN theo truyền tunnel. Bao gồm: VPN tự ý, bắt buộc và móc nối.
 VPN tự ý
- Cho phép người sử dụng ở xa có thể thiết lập một tunnel từ thiết bị
đầu cuối của mình đến một điểm kết cuối tunnel xác định. Kiểu dịch

đường truyền đến thiết bị đầu cuối. VPN tunnel móc nối có thể có
nhiều dạng như thấy trên hình vẽ. Đây là một số cách móc nối tunnel
trong mạng GPRS.
- Giống VPN tự ý: VPN móc nối đảm bảo bảo vệ số liệu đầu cuối-đầu
cuối của người sử dụng. Và người sử dụng tham gia vào khởi đầu
tunnel.
- Giống VPN bắt buộc: nhà cung cấp dịch vụ tham gia vào cung cấp và
cấu trúc tunnel móc nối và có thể dễ dàng áp dụng QoS và tạo dạng
lưu lượng tại các điểm móc nối tunnel. Tuy nhiên sự tham gia này
không cần SLA và các xử lý số liệu.
Chiếu slide 7: Cả ba công nghệ VPN phân theo truyền tunnel như trình bày
ở trên đều được áp dụng trong vô tuyến và di động. Mỗi dạng VPN đều có
những ưu và nhược điểm, sẽ đồng thời tồn tại tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.
CHƯƠNG III:
I. Giải pháp VPN cho GPRS/UMTS
1.Các giải pháp công nghệ số liệu gói. Slide 2
Cả GPRS và UMTS đều có khả năng cung cấp các dịch vụ số liệu gói.
Phần tử GGSN cung cấp các diểm truy nhập đến các mạng số liệu gói thông
qua một tên logic gọi là APN. Dựa trên APN và việc tra cứu thông tin xử lý
phiên được sử dụng để lập cấu hình cho APN này, các dịch vụ truy nhập
mạng khác nhau có thể được cung cấp tại GGSN. Các dịch vụ này có thể
được phân loại thành:
Kiểu IP PDP:
Simple IP (IP đơn giản).
IP với các tùy chọn cấu hình giao thức.
Chuyển tiếp DHCP và MIPv4.
Kiểu PPP PDP (bắt đầu có từ R98):
Chuyển tiếp PPP
PPP kết cuối tại GGSN.
Ta sẽ xét cụ thể các trường hợp IP PDP và PPP PDP.

lời này định nghĩa một GTP tunnel và một kênh mang đến một MS
mà không có bất cứ địa chỉ MS IP nào liên kết với nó. Tunnel này có
thể được sử dụng để trao đổi các bản tin cấu hình DHCP và các bản
tin đăng ký. Sau đó MS sẽ được ấn định một địa chỉ IP bằng cách sử
dụng DCHP.
- Chế độ truy nhập DHCP được sử dụng khi các phương pháp lập cấu
hình máy trạm và khi chế độ truy nhập "giống LAN" được yêu cầu.
nhận thực người sử dụng trong phương pháp này cũng gặp phải các
nhược điểm giống như trong chế độ IP đơn giản. Tuy nhiên ở đây


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status