VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------
TƯỞNG THỊ PHƯƠNG LIÊN
LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU
TRONG TIẾNG VIỆT (có liên hệ với tiếng Anh)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------
TƯỞNG THỊ PHƯƠNG LIÊN
LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU
TRONG TIẾNG VIỆT (có liên hệ với tiếng Anh)
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9.22.90.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGÔ HỮU HOÀNG
Thành phần
X:
Đối tượng được giới thiệu
ĐTNV:
Động từ ngữ vi
NDGT:
Nội dung giới thiệu
LNGT:
Lời nói giới thiệu
LNTGT:
Lời nói tự giới thiệu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍ LUẬN ...... 6
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ...................................................................... 6
1.1.1. Tình hình nghiên cứu lời nói trong sự kiện giao tiếp ................................. 6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu lời nói giới thiệu và tự giới thiệu .......................... 11
1.2. Cơ sở lý thuyết .................................................................................................. 19
3.1. Đặt vấn đề ....................................................................................................... 107
3.2. Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu phi quy thức tiếng Việt
trong phạm vi giao tiếp hàng ngày (có liên hệ với tiếng Anh) .......................... 107
3.2.1. Các nhân tố giao tiếp trong phạm vi giao tiếp hàng ngày ...................... 107
3.2.2. Các biểu thức lời nói giới thiệu phi quy thức trong tiếng Việt trong
phạm vi giao tiếp hàng ngày (có liên hệ với tiếng Anh) .................................. 111
3.2.3. Các biểu thức lời nói tự giới thiệu phi quy thức tiếng Việt trong phạm
vi giao tiếp hàng ngày (có liên hệ với tiếng Anh) ............................................ 123
3.2.4. Các thành phần trong nội dung lời nói giới thiệu và tự giới thiệu phi quy
thức tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp hàng ngày (liên hệ với tiếng Anh) ......... 136
3.3. Tiểu kết chương 3 ........................................................................................... 151
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 154
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ.................... 159
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 160
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.0a. Các sự kiện giao tiếp cấp nhà nước trong phạm vi chính trị - xã hội ........44
Bảng 2.0b. Các sự kiện ở các cấp chính quyền địa phương trong phạm vi chính
trị - xã hội ................................................................................................................44
Bảng 2.0c. Các sự kiện giao tiếp cấp nhà nước trong phạm vi chính trị - xã hội. .......45
Bảng 2.0d. Các sự kiện giao tiếp các cấp chính quyền địa phương trong phạm vi
chính trị - xã hội .....................................................................................................45
Bảng 2.1. Các biểu thức LNGT tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi chính trị
xã hội .......................................................................................................................50
Bảng 2.2. Mức độ sử dụng hình thức giới thiệu trực tiếp và gián tiếp quy thức
tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi chính trị - xã hội ...................................52
Bảng 2.3. Các thành phần trong nội dung giới thiệu quy thức tiếng Việt và tiếng
Anh- Mỹ trong phạm vi chính trị - xã hội............................................................68
Bảng 2.4. Các từ xưng hô trong LNGT quy thức tiếng Việt và tiếng Anh trong
vi chính trị - xã hội .................................................................................................78
Biểu đồ 2.7. Các biểu thức tự giới thiệu quy thức tiếng Việt và tiếng Anh trong
phạm vi vui chơi giải trí.........................................................................................83
Biểu đồ 2.8. Các thành phần trong nội dung biểu thức lời nói tự giới thiệu tiếng
Việt và tiếng Anh trong phạm vi vui chơi giải trí ...............................................90
Biểu đồ 2.9. Từ tự xưng trong tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi vui chơi
giải trí.......................................................................................................................97
Biểu đồ 2.10. Các thành phần biểu thái trong LN TGT quy thức tiếng Việt trong
phạm vi vui chơi giải trí...................................................................................... 103
Biểu đồ 3.1. Các biểu thức lời nói giới thiệu phi quy thức tiếng Việt và tiếng Anh
trong phạm vi giao tiếp hàng ngày .................................................................... 113
Biểu đồ 3.2. Các biểu thức lời nói tự giới thiệu phi quy thức tiếng Việt và tiếng
Anh trong phạm vi giao tiếp hàng ngày ............................................................ 125
Biểu đồ 3.3 Các thành phần trong nội dung LNGT phi quy thức tiếng Việt và
tiếng Anh trong phạm vi giao tiếp hàng ngày .................................................. 136
Biểu đồ 3.4 Các thành phần trong nội dung LN TGT phi quy thức tiếng Việt và
tiếng Anh trong phạm vi giao tiếp hàng ngày .................................................. 142
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Ngày nay ngôn ngữ học hiện đại phát triển mạnh mẽ vượt theo xu thế
toàn diện ở dạng hoạt động dưới sự chế định của các nhân tố văn hóa xã hội,
chứ không bó hẹp ở dạng ngôn ngữ cấu trúc. Xu thế nghiên cứu ngôn ngữ
trong giao tiếp đang nở rộ và đạt được những thành tựu đáng kể, đem lại
những hiệu quả lớn lao về mặt lí luận và thực tiễn.
Với những quy định khắt khe của quy tắc xã hội, của đặc trưng tâm lý,
văn hóa dân tộc quy định cách thức giao tiếp lời nói của mỗi cộng đồng ngôn
ngữ, nên mỗi một hành vi nói như chào, cám ơn, xin lỗi, mời mọc, từ chối, yêu
cầu, khen v.v.. đều có những biểu thức với vai trò hành chức riêng của nó
đặc điểm ngôn ngữ trong trong phạm vi chính trị - xã hội, phạm vi vui chơi
giải trí và phạm vi giao tiếp hàng ngày. Đồng thời, luận án liên hệ với LNGT
và TGT trong tiếng Anh để chỉ ra những tương đồng và đặc điểm dị biệt về
các biểu thức LNGT và TGT khi sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu như sau:
1) Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án tổng hợp một số
nội dung cơ bản về vấn đề lí thuyết của ngữ dụng học như lí thuyết hành vi
ngôn ngữ và lí thuyết về giao tiếp nhìn từ góc độ dụng học xã hội.
2) Chỉ ra những đặc điểm về LNGT và TGT trong tiếng Việt và tiếng
Anh nói riêng bằng cách phân tích các nhân tố giao tiếp, khảo sát và chỉ ra các
biểu thức lời nói và những đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp quy thức và phi
quy thức ở phạm vi chính trị - xã hội, phạm vi vui chơi giải trí và phạm vi giao
tiếp hàng ngày.
3) Chỉ ra các nhân tố văn hoá-xã hội, chính trị tác động đến LNGT và
TGT trong tiếng Việt và tiếng Anh hiện nay.
3. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp và thủ
pháp sau:
3.1. Phương pháp miêu tả
Dựa trên kết quả khảo sát được, tiến hành miêu tả những biểu hiện cụ
thể trong LNGT và TGT để thấy được các nhân tố giao tiếp, các nhân tố ảnh
hưởng và chi phối đến từng lời nói giới thiệu quy thức trong các buổi lễ trong
2
phạm vi chính trị và LNTGT của người tham gia các chương trình giải trí trên
truyền hình, và các LNGT và TGT trong mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, gia
đình trong phạm vi giao tiếp hàng ngày trong tiếng Việt và tiếng Anh. Trên cơ
LNGT theo cặp thoại giữa SP1 (người dẫn chương trình, người điều hành buổi
lễ) và SP2 (khán giả); LNTGT theo cặp thoại/hội thoại giữa SP1 (người tham
gia sự kiện) với SP2 (người dẫn chương trình, thành viên ban giám khảo, khán
giả); các LNGT và TGT theo cặp thoại/hội thoại giữa bạn bè, đồng nghiệp,
con cái, cha mẹ, hàng xóm, người quen, người mới gặp của nhau trong các
buổi gặp mặt, giao lưu, trò chuyện... trên phần mềm word và excel. Nhận định
và đánh giá mà luận án đưa ra dựa vào tình hình khảo sát thống kê và phân
loại hơn 1003 cặp thoại/hội thoại lấy từ nguồn tư liệu trên.
4. Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu, khảo sát của luận án này là LNGT và TGT tiếng
Việt và tiếng Anh – Mỹ trong một số lĩnh vực chính trị - xã hội, phạm vi vui
chơi giải trí và phạm vi giao tiếp hàng ngày. Các yếu tố phi lời như bắt tay,
mỉm cười, ra dấu hiệu, nháy mắt,... không được xem xét đến trong luận án
này.
Tư liệu mà chúng tôi thu thập là từ giao tiếp trực tiếp bằng lời nói.
Luận án tiến hành thu thập tư liệu bằng cách ghi chép lại 1003 cặp
thoại/hội thoại LNGT và TGT của 254 sự kiện từ năm 2006 đến 2018 ở
các nguồn:
- Nguồn ghi âm các hoạt động giao tiếp ở phạm vi giao tiếp hàng ngày ,
gồm 75 cặp thoại / hội thoại LNGT và 78 cặp thoại / hội thoại LNTGT tiếng
Việt.
- Nguồn ngữ liệu trên các kênh truyền hình VTV1, VTV3 của đài truyền
hình Việt Nam và trên các kênh Star movie, Disney; trên mạng Internet ở các
kênh
www.Youtube.com,
www.studyphim.vn,
giảng dạy trong các nhà trường, đặc biệt trong giảng dạy ngoại ngữ ở Việt
Nam.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
chính của luận án được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí luận..
Chương 2. Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt trong
giao tiếp quy thức (có liên hệ với tiếng Anh)
Chương 3. Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt trong
giao tiếp phi quy thức (có liên hệ với tiếng Anh )
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍ LUẬN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu lời nói trong sự kiện giao tiếp
Ngữ dụng học đã phát triển rất mạnh mẽ, nhất là ở thời điểm những lý
thuyết về dụng học của Austin (1962), Searl (1969), Brown & Levinson
(1987), Leech (1983) xuất hiện. Những nghiên cứu về lý thuyết và những
nghiên cứu cụ thể trở thành một chuyên ngành có sức lôi cuốn đặc biệt tới các
nhà ngôn ngữ học. Chính sự phát triển này đã tạo đà cho các nhà ngôn ngữ
học quan tâm nhiều hơn những vấn đề liên quan đến lời nói trong sự kiện giao
tiếp. Qua tìm hiểu, chúng tôi đưa ra một số hướng nghiên cứu tiêu biểu sau:
1.1.1.1. Hướng nghiên cứu lời nói theo cấu trúc hệ thống
Ở hướng nghiên cứu này, theo quan sát chúng tôi chỉ có một số nghiên
cứu về mô hình sử dụng các hành vi ngôn ngữ thông dụng trong giao tiếp theo
nghi thức lời nói.
Tiêu biểu phải kể đến nghiên cứu “Cách dùng nghi thức lời nói tiếng
trúc của các phát ngôn trong hoạt động giao tiếp mang tính nghi thức. Từ việc
hình thành lên các khuôn mẫu theo từng hành vi, tác giả phân tích những tác
động của hoạt động giao tiếp tới sự hình thành nội dung ngữ nghĩa và cấu trúc
cú pháp của các phát ngôn này. Luận án có một ngữ liệu nghiên cứu khá đa
dạng như trong các tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp chí trong các giáo trình dạy
tiếng Việt hiện đại đến các cuộc đối thoại trong phim, kịch, tiểu phẩm trên
truyền hình và trong đời thường được ghi âm lại.
Nguyễn Văn Khang (1996)[41] đã đề cập đến một loại nghi thức lời nói
thể hiện hành vi xưng gọi trong giao tiếp gia đình người Việt. Tác giả tập
trung mô tả và đưa ra các kiểu chào thường gặp trong gia đình người Việt.
Nguyễn Văn Lập (2005) [46] miêu tả và phân loại nghi thức lời nói
khẩu ngữ tự nhiên của tiếng Việt theo các nhóm thông dụng nhất. Đặc biệt tác
giả đối chiếu hai loại khuôn mẫu nghi thức lời nói trong tiếng Việt và tiếng
Anh-Mỹ về nghi thức lời nói biểu thị hành vi yêu cầu và nghi thức lời nói biểu
thị hành vi cảm ơn.
7
1.1.1.2. Hướng nghiên cứu lời nói theo dụng học
Trên thế giới, Austin (1965) và Searle (1969), Hymes (1964), Grice
(1975), Levinson (1983), Schmidt & Richards (1985), Yule (1996),v.v, có
những nghiên cứu về lý thuyết hành vi ngôn ngữ, cho thấy được “một sự điều
chỉnh sâu sắc và cơ bản đối với quan niệm của F.de Sausure về mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và lời nói” [16].
Austin [46] phát hiện ra bản chất hành vi ngôn ngữ là hành vi được thực
hiện ngay khi nói năng và ngôn ngữ là phương tiện thực hiện hành vi đó. Nói
như tác giả Nguyễn Văn Hiệp về tư tưởng cốt lõi của Austin một cách đầy đủ
“nói là hành vi” [38]. Austin chia hành vi ngôn ngữ làm ba tiểu hành vi: Hành
vi tạo lời (locutionary act), hành vi ở lời (illocutionary act), hành vi mượn lời
nghiên cứu tiêu biểu:
Nguyễn Văn Quang (1999) [50] đã chỉ ra một số khác biệt giao tiếp lời nói
trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen của người Việt và người Mỹ. “Khen”
được coi là một hành vi ngôn trung giao tiếp. Xét theo các thông số giao tiếp, tác
giả mô tả việc sử dụng cách thức khen trực tiếp và gián tiếp trong từng ngôn ngữ,
các dấu hiệu từ vựng tình thái, đồng thời nêu ra những điểm tương đồng và dị
biệt. Kết quả nghiên cứu này giúp cho những người sử dụng ngôn ngữ tránh được
các xung đột văn hóa tiềm năng trong giao tiếp. Đây là một sự khẳng định tầm
quan trọng của dụng học giao thoa văn hóa nhằm phục vụ cho giảng dạy ngoại
ngữ theo đường hướng giao tiếp và các lĩnh vực có liên quan.
Dương Tuyết Hạnh (2006) [8] khảo sát hành vi nhờ trong hội thoại hàng
ngày và các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết, truyện ngắn,
kịch bản phim (đã được văn bản hoá) để chỉ ra các biểu thức ngữ vi nhờ, cách
rào đón và phép lịch sự trong sự kiện lời nói nhờ.
Huỳnh Thị Nhĩ (2010) [16] đã vận dụng một số kết luận về nghi thức
tiếng Việt của Phạm Thị Thành [63] đưa ra cấu trúc, tình huống và chiến lược
thực hiện các phát ngôn chào, cám ơn, xin lỗi dựa theo lý thuyết về hành vi
ngôn ngữ và lý thuyết lịch sự và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cách sử dụng
các phát ngôn đó trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt. Đồng thời tác giả có những
gợi ý hướng dẫn sinh viên Việt Nam học tiếng Anh-Mỹ theo đúng cách của người
Mỹ khi giao tiếp với họ, giúp sinh viên nâng cao năng lực giao tiếp.
Ngô Hương Lan (2014) [58] chỉ ra đặc điểm hành vi từ chối lời cầu khiến
trong tiếng Nhật và biểu hiện của nó bằng ngôn ngữ tiếng Nhật với những biểu
9
thức cụ thể; những điểm giống và khác nhau giữa tiếng Nhật và tiếng Việt và
ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy tiếng Nhật như một ngoại
ngữ đối với người Việt dưới ánh sáng của lí thuyết lịch sự và góc nhìn của
Phạm Thị Hà (2013) [62] từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, chỉ ra đặc
điểm ngôn ngữ giới của hành vi khen và tiếp nhận lời khen (bằng ngôn ngữ)
trong giao tiếp tiếng Việt và khảo sát trường hợp về đặc điểm ngôn ngữ giới ở
ở hành vi khen và cách tiếp nhận lời khen của nghệ sĩ với người hâm mộ và về
hình thức bên ngoài của của con người trong các cuộc giao tiếp hiện nay.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu lời nói giới thiệu và tự giới thiệu
1.1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, theo hiểu biết của chúng tôi chưa có công trình nào
chuyên sâu về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu mà chỉ có một số tác giả như
Emily Post, Nagesh Belludi, John Corcoran, Jo Bryant, Pamela Martin, v.v
viết về cách thức giới thiệu trong một số tình huống giao tiếp phổ biến. Tiêu
biểu biểu nhất trong số họ là Emily Post [105]:
Về lời nói giới thiệu, Emily đi sâu vào các tình huống giới thiệu, thứ tự
giới thiệu, biểu thức giới như thế nào trước và trong khi giới thiệu (what to say
when introduced). Tác giả đề cập đến hai tình huống cụ thể như sau:
Thứ nhất, tình huống giao tiếp xã hội (social situation) bao gồm: 1/Lời nói
giới thiệu qui thức (formal introductions) là những hành vi diễn ra trong một môi
trường trang trọng, lịch sự. Động từ “present” thường được dùng để biểu thị:
Biểu thức 1: SP2 + may I present + X
Biểu thức 2: SP2 + I have the honor to present + X
Ví dụ: Mr. President, I have the honor to present Mrs. Clinton, of Florida.
(Ngài Tổng thống, tôi vinh dự giới thiệu bà Clinton đến từ Florida).
Ví dụ: “Your Eminence, may I present Mrs. Brown?” (Đức Hồng Y, con xin
giới thiệu bà Brown).
2/ Giới thiệu phi qui thức (informal introductions) là những hành vi diễn ra
trong các mối quan hệ thông thường và gần gũi. Khi giới thiệu có thể sử dụng
các danh xưng (như Mr./Mrs./Ms/.Miss./Dr. ) và họ (family name/ last name)
11
Biểu thức 1: SP2 + I’d like to introduce to + X
12
Ví dụ: Mr. Senior Executive, I’d like to introduce Mr. Junior Executive (Ông ủy
viên ban quản trị cấp trên, tôi xin giới thiệu ông ủy viên ban quản trị cấp dưới )
- Giới thiệu một sĩ quan cấp thấp tới một sĩ quan cấp cao.
Biểu thức 2: May I introduce + X
Ví dụ: General Schwarzkof, may I introduce Lieutenant Jones? (Thưa đại
tướng Schawrazkof, tôi xin giới thiệu trung úy Jones)
Biểu thức 3: SP2 + allow me to introduce + X
Ví dụ: Senator Watson, allow me to introduce Martha Gellhorn of the San
Francisco Examiner ([Thưa ngài]Thượng nghị sĩ Watson, cho phép tôi giới
thiệu bà Martha Gellhorn [người của] tạp chí San Francisco Examniner)
Biểu thức 4: SP2 + this is + X
Ví dụ: Mr. Dawson, this is Ms.Saunders, our Chief Financial Officer. Mr.
Dawson is our client from Atlanta. ([Thưa ngài] Dawson, đây là bà Saunders,
giám đốc tài chính. Ông ấy là khách hàng của chúng ta ở Atlanta), để giới
thiệu ai đó trong công ty tới khách hàng.
Có thể thấy, khung giới thiệu mà Emily đưa ra mới chỉ dừng lại ở bối cảnh
qui thức và phi qui thức ngoài xã hội và trong làm ăn kinh doanh; ngoài những
phạm vi này liệu còn những phạm vi nào khác và có bối cảnh nào đó thuộc
bán qui thức hay không còn là câu hỏi đặt ra.
Nguyễn Quang (2017)[107], trong cuốn “Ways of expression”, tác giả đưa
khá cụ thể các biểu thức hành vi ngôn ngữ cụ thể theo các nhóm như chào hỏi
và chia hay (Greeting and taking leave), thể hiện tình cảm và thái độ (showing
feeling and attitude)… Trong đó giới thiệu và hỏi giới thiệu (introducing and
asking for introduction) nằm ở mục chào hỏi và chia tay. Nguyễn Quang đưa
ra 85 biểu thức lời nói giới thiệu (giới thiệu, tự giới thiệu) trong bối cảnh qui
giữa một cặp, một nhóm hay một cá nhân với tổ chức. [97].
Altman và Taylor (1973) đưa ra một cách phân loại ba lớp cho phân tích
nội dung theo chiều sâu của bộc bạch. 1/Lớp ngoại biên (peripheral layer): là
những dữ liệu về tiểu sử như tên, tuổi tác, địa vị,v.v. 2/ Lớp trung gian
(intermediate layer): là thái độ, cách đánh giá và các quan điểm. 3/Lớp lõi
(core layer): là niềm tin cá nhân, các nhu cầu, sự sợ hãi, cách đánh giá. [81].
Từ các định nghĩa và cách phân loại như đã trình bày ở trên, có thể thấy
LNTGT trong nghiên cứu của chúng tôi hiện diện ở lớp ngoại biên.
14
1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay ở Việt Nam, theo sự hiểu biết của chúng tôi chưa có một công
trình nghiên cứu chuyên biệt về LNGT và TGT mà chỉ có một số các nghiên
cứu trong phạm vi hẹp.
Một số nghiên cứu theo hướng chỉ ra các biểu thức lời nói giới thiệu và
tự giới thiệu trong tiếng Việt, tiếng Anh như:
1/ Như đã đề cập ở trên, Thái Duy Bảo (1988) đề cập đến một mục nhỏ
để nói về lời nói giới thiệu“Hành vi nói cho người nghe biết những điều mới
về một đối tượng nào đó”. Tác giả chỉ ra các khuôn mẫu lời nói tiếng Anh và
dịch nghĩa sang tiếng Việt về cách giới thiệu người trung gian (introducing),
tự giới thiệu (self-introducing) theo các tình huống giao tiếp thể hiện sắc thái
xã giao thông thường, sắc thái xã giao trang trọng, sắc thái xã giao thân mật,
xề xòa và giới thiệu một diễn giả (introducing a speaker) theo tình huống
mang sắc thái kém trang trọng, sắc thái trang trọng [69, tr.60-72]. Mặc dù, đưa
ra những nội dung cơ bản, phạm vi hẹp nhưng nghiên cứu giúp chúng tôi có
thêm thông tin về lời nói giới thiệu.
2/ Trong công trình nghiên cứu về nghi thức lời nói Tiếng Việt, Nguyễn
Văn Lập (1989) [45] xem hành vi giới thiệu giống như các hành vi khác như:
Áp dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ của Austin và Searle, một số nghiên
cứu về hành vi lời nói giới thiệu được tiến hành trong phạm vi một luận văn.
1/ Trong nghiên cứu hành vi giới thiệu trong tình huống làm quen của
Đỗ Thị Mai Hương (2009) [14] đã thống kê, khảo sát, phân loại và mô tả hành
vi giới thiệu dựa trên ba phương diện: cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của trên
300 hành vi giới thiệu thuộc hai mảng: tác phẩm văn học và thực tế đời sống
hàng ngày (ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, ngôn ngữ ghi lại từ phương tiện
thông tin đại chúng: vô tuyến, đài, báo chí). Nghiên cứu đã dựa theo lý thuyết
về hành vi ngôn ngữ của Searle để phân loại hành vi giới thiệu theo các tiêu
chí: trực tiếp/ gián tiếp, nghi thức/ không nghi thức.
- Hành vi giới thiệu trực tiếp: là hành vi giới thiệu có sự phù hợp giữa hiệu lực
ở lời của hành vi giới thiệu với hình thức câu chữ được dùng để biểu thị
chúng. Kết quả khảo sát của hành vi giới thiệu trực tiếp gồm có bốn kiểu
(trong đó, SP1: người thực hiện hành vi giới thiệu; SP2: người tiếp nhận hành
vi giới thiệu): Kiểu 1: Dạng đầy đủ: SP1 + giới thiệu + SP2 + NDGT; Kiểu 2:
Dạng khuyết thiếu SP2: SP1 + giới thiệu + NDGT; Kiểu 3: Dạng khuyết thiếu
16
SP1: Giới thiệu + SP2 + NDGT; Kiểu 4: Dạng khuyết thiếu SP1, SP2: (xin)
giới thiệu + NDGT. Chủ yếu những hành vi giới thiệu trực tiếp sử dụng trong
hoàn cảnh giao tiếp nghi lễ qui thức: cuộc họp, cuộc mít tinh, đại hội, chương
trình truyền hình…
- Hành vi giới thiệu gián tiếp: là hành vi có hiệu lực ở lời của hành vi giới thiệu
nhưng lại được biểu thị bằng hình thức câu chữ của một hành vi khác.
Với hành vi giới thiệu gián tiếp kết quả khảo sát đưa ra được bốn kiểu: Kiểu 1:
Hành vi thông báo - giới thiệu; Kiểu 2: Hành vi xác nhận - giới thiệu; Kiểu 3:
Hành vi chào mời, chào đón - giới thiệu; Kiểu 4: Hành vi hỏi - giới thiệu.
Nghiên cứu của tác giả bước đầu hệ thống được 8 kiểu giới thiệu