Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tại bệnh viện nội tiết trung ương - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tuyến giáp (UTTG) là bệnh đang có xu hướng ngày một gia
tăng. Trước đây ung thư tuyến giáp chỉ chiếm 1 – 2% trong tất cả các loại ung
thư, nhưng hiện nay con số này đã tăng lên đến 3,4%. Năm 2016, ước tính có
khoảng 630.660 người bị mắc ung thư tuyến giáp tại Hoa Kỳ [1]. Việt Nam
nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ ung thư tuyến giáp cao, theo tác giả
Nguyễn Quốc Bảo năm 2010 tỷ lệ mắc ở nam giới khoảng 1,8/100.000 dân, tỷ
lệ mắc ở nữ giới khoảng 5,6/100.000 dân [2].
Theo mô bệnh học, UTTG được chia thành hai thể: thể biệt hoá và thể
không biệt hoá. Tiến triển lâm sàng, cách điều trị và tiên lượng của hai thể là
khác nhau. UTTG thể biệt hoá chiếm đa số (khoảng 80%), bao gồm thể nhú,
thể nang và thể hỗn hợp nhú-nang, bệnh thường tiến triển chậm, chủ yếu phát
triển tại chỗ và di căn hạch vùng cổ, nếu phát hiện sớm, chẩn đoán đúng, lựa
chọn các phương pháp điều trị thích hợp sẽ mang lại hiệu quả cao [3],[4].
Điều trị UTTG thể biệt hoá bằng phẫu thuật là phương pháp được lựa
chọn đầu tiên. Theo hướng dẫn điều trị ung thư tuyến giáp Hoa Kỳ (NCCN
1.2016), hầu hết các giai đoạn và các thể ung thư tuyến giáp cần được phẫu
thuật để loại bỏ khối u, giảm tái phát tại chỗ, hạn chế di căn xa, giảm tỷ lệ tử
vong và tăng hiệu quả khi sử dụng iod-131, thuận lợi cho theo dõi tái phát
qua định lượng Thyroglobulin (Tg) [3],[5].
Phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và nạo vét hạch cổ trong điều trị ung
thư tuyến giáp bằng phương pháp mổ mở truyền thống rất hiệu quả, ít biến
chứng. Tuy nhiên sau phẫu thuật đã để lại một vết sẹo dài ở vùng cổ gây mất
thẩm mỹ và mất tự tin cho người bệnh [3],[5],[6],[7].
Phẫu thuật nội soi ra đời đánh dấu một bước phát triển mạnh mẽ về khoa
học công nghệ ứng dụng trong y học, kỹ thuật mổ nội soi chỉ làm tổn thương


2

TỔNG QUAN
1.1. Giải phẫu vùng cổ, tuyến giáp và hệ thống hạch bạch huyết của tuyến giáp
1.1.1. Giải phẫu vùng cổ trước: Vùng cổ trước bên chứa tất cả các thành
phần quan trọng đi qua cổ: các tạng thuộc hệ hô hấp (thanh quản, khí quản),
hệ tiêu hoá (thực quản), tuyến giáp và các tuyến cận giáp, các bó mạch, thần
kinh (TK) (bó mạch cảnh, các thần kinh X, XI, XII, đám rối TK cổ, đám rối
TK cánh tay, chuỗi hạch giao cảm cổ) [12],[13].

Hình 1.1. Sơ đồ cắt ngang qua đốt sống cổ 5 [13]
(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Netter- NXB Y học- 1996)
 Động mạch (ĐM) cảnh chung: ĐM cảnh chung trái tách trực tiếp từ cung
ĐM chủ còn bên phải là một trong hai nhánh tận của ĐM thân cánh tay đầu.
Liên quan: Thành trong là hầu, thực quản, thanh quản, khí quản, thuỳ
bên tuyến giáp và dây TK thanh quản quặt ngược. ĐM cảnh chung thường chỉ
đi qua cổ và không cho nhánh bên nào.


4

 Tĩnh mạch (TM) cảnh ngoài: Đổ vào TM dưới đòn, ở phía ngoài cơ bậc
thang trước. Tĩnh mạch (TM) cảnh trong: Đi cùng với ĐM cảnh trong ở trên,
ĐM cảnh chung ở dưới và dây thần kinh X. ĐM và TM cảnh trong nằm trong
bao cảnh hai bên cổ dọc theo chiều dài của thuỳ tuyến giáp. Đây là những thành
phần rất nguy hiểm khi bị tổn thương.

Hình 1.2.Mạch máu vùng cổ và tuyến giáp (nhìn thẳng)[13]
(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Netter-NXB Y học-1996)
 Thần kinh: Dây thần kinh X, Ở vùng cổ trước, dây X đi sau ĐM và TM cảnh.
Nhánh bên
+ Dây thanh quản trên: Chạy vòng quanh, sau đó bắt chéo mặt trong của

Hình 1.3. Hình ảnh bình thường của dây thanh quản quặt ngược [15]


6

Hình 1.4 Các dây thanh quản quặt ngược nhưng không quặt ngược [15]
A-Gần mạch máu cực trên

B-Quanh động mạch giáp dưới

 Tuyến cận giáp
Hình bầu dục, dẹt, màu vàng nâu, nằm ở bờ sau của thuỳ TG, trong bao
tuyến. Kích thước trung bình: dài 6mm, rộng 3 – 4 mm và dày khoảng 1 – 2
mm, nặng chừng 50 mg. Có từ 2 - 6 tuyến, thường có 4 tuyến. Các tuyến cận
giáp liên quan với bờ sau thuỳ bên của TG. Sự tiếp nối giữa ĐM giáp trên và
giáp dưới nằm dọc theo bờ sau thuỳ bên TG có liên quan mật thiết với các
tuyến cận giáp, là mốc để tìm tuyến cận giáp [16].
 Tuyến cận giáp trên: Có thể ở 1 trong 3 vị trí:
+ Vị trí 1: ở ngay phía trên của tuyến giáp tiếp giáp với sụn giáp.
+ Vị trí 2: Phía trên sừng nhỏ của sụn giáp.
+ Vị trí 3: ở gần thân ĐM giáp dưới và các nhánh chia lên trên.
 Tuyến cận giáp dưới: ở 1 trong 3 vị trí sau:
+ Vị trí 1: Sát nhánh của ĐM giáp dưới chia xuống dưới hoặc trong đám
mỡ xung quanh dây quặt ngược.
+ Vị trí 2: ở tổ chức lỏng lẻo xung quanh cực dưới TG (phía sau hoặc
phía dưới) hoặc trong khoảng giữa đỉnh tuyến ức và TG.
+ Vị trí 3: ở đỉnh tuyến ức hoặc là phần thấp của tổ chức xung quanh TK
quặt ngược.



8

1.1.2.2. Cấu tạo
Tuyến giáp được bọc trong bao mô liên kết mỏng, mỗi nang tuyến có một
hàng tế bào biểu mô trụ, hình dạng phụ thuộc vào tình trạng hoạt động của
tuyến. Mỗi nang tuyến là một tiểu thuỳ tuyến. Như vậy TG có rất nhiều tiểu
thuỳ. Mô liên kết nằm giữa các nang tuyến gọi là chất đệm [13],[16],[18],[19].

Hình 1.5. Vị trí của các tuyến cận giáp và dây thanh quản[13].
(Trích từ Atlas giải phẫu người của Frank H. Netter- NXB Y học- 1996)
1.1.2.3. Mạch máu tuyến giáp
- Động mạch giáp
 Động mạch giáp trên: là động mạch lớn nhất, và là nhánh trước đầu
tiên của động mạch cảnh ngoài (rất hiếm gặp ở chỗ phân đôi của động mạch
cảnh chung), sát ở cực trên của thuỳ tuyến. Động mạch giáp trên đi xuống ở
mặt bên thanh quản bị cơ vai móng và cơ giáp móng phủ lên, phân chia hoặc
ở chỗ tiếp xúc với tuyến hoặc ở xa thành 3 nhánh: Nhánh trong đi xuống về
phía trong của cực trên trước khi nối với nhánh cùng tên ở bờ trên của eo.
Nhánh sau nối với nhánh cùng tên đi từ dưới lên. Nhánh ngoài nhỏ hơn, phân
phối vào bề mặt trước ngoài của thuỳ.
 ĐM giáp dưới là nhánh của ĐM thân giáp cổ tách ra từ ĐM dưới đòn.
Các ĐM này có vòng nối dồi dào ở cùng bên và đối diện.
 ĐM giáp đơn bắt nguồn từ cung ĐM chủ hoặc từ ĐM không tên đi


9

vào bờ dưới của eo tuyến.
- Tĩnh mạch (TM)
Các TM của tuyến giáp tạo nên các đám rối ở trên mặt tuyến và phía

vai móng cắt tĩnh mạch cảnh trong. Phía dưới: xương đòn. Phía trước: bờ
ngoài cơ ức móng. Phía sau: bờ sau cơ ức đòn chũm. Nhóm IVa, dọc theo tĩnh
mạch cảnh trong và sâu dọc đầu ức của cơ ức đòn chũm. Nhóm IVb, dọc theo
đầu đòn của cơ ức đòn chũm. Hạch nhóm II, III, IV gọi là nhóm cảnh gồm các
hạch gắn với tĩnh mạch cảnh trong, mỡ và tổ chức liên kết ở phía trong và
phía sau của cơ ức đòn chũm. Đặc biệt nhóm II liên quan mật thiết với thần
kinh XI.
Nhóm V: Nhóm hạch của tam giác sau, gồm những hạch khu trú dọc theo
nửa thấp của thần kinh XI và động mạch cổ ngang. Giới hạn trước: bờ sau cơ
ức đòn chũm. Phía sau: bờ trước cơ thang. Phía dưới xương đòn. Bụng dưới
cơ vai móng chia nhóm V thành: nhóm Va: hạch chạy dọc theo thần kinh XI,
nhóm Vb: hạch chạy dọc động mạch cổ ngang.
Nhóm VI: nhóm hạch Delphilan, gồm hạch trước khí quản, trước sụn nhẫn,
quanh khí quản. Giới hạn ngoài: bao cảnh, phía trên: xương móng, phía dưới:
hõm thượng đòn.
1.1.3.2. Hạch bạch huyết của tuyến giáp


11

Tuyến giáp chứa mạng bạch huyết dày đặc nối với nhau ở vùng eo, từ
tuyến giáp đi theo các mạch máu lớn của tuyến. Mạch bạch huyết ở phía trên
theo ĐM giáp trên. Mạch bạch huyết phía dưới theo ĐM giáp dưới và TM
giáp giữa. Dòng Lympho ban đầu có xu hướng đi vào hạch nhóm VI cùng
bên. Ở cực trên, thùy tháp và eo tuyến, hạch bạch huyết dẫn lưu lên phía trên,
đi vào hạch nhóm II và nhóm III, hệ bạch huyết ở cực dưới ban đầu dẫn lưu vào
hạch nhóm VI sau đó vào nhóm IV và nhóm VII[12],[19],[22].
- Di căn hạch lympho thường xảy ra theo thứ tự: ban đầu đi tới hạch
nhóm VI cùng bên sau đó di chuyển lên hạch cổ bên cùng bên rồi đi đến
những hạch cổ bên ở bên đối diện. Tuy nhiên vẫn xảy ra di căn kiểu nhảy

tính Hashimoto hoặc viêm tuyến giáp bán cấp De Quervain…..có nguy cơ cao
mắc ung thư tuyến giáp.
- Đặc biệt trong ung thư tuyến giáp thể tủy, có liên quan chặt chẽ với
tính chất gia đình và di truyền. Thường những bệnh nhân ung thư tuyến giáp
thể tủy thường nằm trong bệnh cảnh đa u nội tiết MEN 2, trong đó có 2 dưới
nhóm MEN 2a và MEN 2b.
+ MEN 2a bao gồm: ung thư tuyến giáp thể tủy, u tế bào ưa chrom tiết
Adrenalin tại tuyến thượng thận và u tuyến cận giáp.
+ MEN 2b bao gồm: ung thư tuyến giáp thể tủy, u tế bào ưa chrom và u
xơ thần kinh hay gặp ở niêm mạc và đường tiêu hóa, đặc biệt là ở lưỡi.
Những bệnh nhân trong gia đình có người mắc các hội chứng này hoặc
bản thân bệnh nhân có các bệnh lí kèm theo giống như trong hội chứng này
khi có khối u giáp thì có nguy cơ rất cao mắc ung thư tuyến giáp thể tủy.
- Yếu tố di truyền và nguồn gốc gen:
+ Hiện nay người ta đã biết đến một số đột biến gen sinh ung thư tuyến
giáp tuy nhiên vai trò chắc chắn của chúng còn chưa được chứng minh. Đột
biến gen RET nằm trên nhiễm sắc thể số 10, gen BRAF và gen PTC có thể


13

sinh ung thư tuyến giáp thể nhú và thể tủy, gen RAS có thể sinh ung thư tuyến
giáp thể nang. Phần lớn các đột biến này chủ yếu xảy ra trên các đoạn ADN
kiểm soát sự sao chép và nhân đôi tế bào. Các đột biến mới được nghiên cứu
này là cơ sở cho điều trị nhắm trúng đích trong ung thư tuyến giáp giai đoạn
tiến triển và di căn.
+ Ngoài ra còn có một số yếu tố nguy cơ cao khác liên quan tới gen
sinh ung thư như đột biến gen APC gây bệnh đa polip có tính chất gia đình,
đột biến gen PTEN gây bệnh ung thư đường niệu và ung thư vú, đột biến gen
PRKAR1A gây rối loạn chức năng các tuyến nội tiết lành tính. Những bệnh


Hình 1.7. Ung thư biệt hóa thể nhú (A), thể nang (B), thể tủy (C)
và không biệt hóa (D)
1.2.1.3. Tiến triển tự nhiên của ung thư tuyến giáp thể biệt hóa
- UTTG có tốc độ phát triển rất chậm với thời gian nhân đôi trên 1 năm,
tiến triển tự nhiên trong nhiều thập kỷ. Phân tích tỷ lệ sống toàn bộ không có
di căn xa ban đầu thấp hơn có ý nghĩa so với tỷ lệ của dân số nhóm chứng,
điều đó chứng tỏ rằng bệnh nhân có thể chết do UTTG [23].
- UTTG phát triển tại chỗ, xâm lấn vỏ bao tuyến giáp và các cấu trúc
xung quanh như thực quản, khí quản, thanh quản, xâm nhiễm da.


15

- Di căn: UTTG có nhiều loại mô học khác nhau, với mỗi loại thường có
vị trí di căn khác nhau.
+ Ung thư thể nhú thường di căn hạch vùng, có thể di căn sớm ngay cả
khi còn nhỏ, khoảng 40% có di căn hạch vùng ở thời điểm chẩn đoán. Di căn
xa theo đường máu chiếm khoảng 10% và có từ 1 - 2% di căn xa ở thời điểm
chẩn đoán.
+ Ung thư thể nang ít di căn hạch cổ, thường di căn xa theo đường máu
tới phổi, xương. Theo y văn, di căn hạch gặp 5 - 20% và di căn xa 2 - 5% ở
thời điểm chẩn đoán [24].
+ Ung thư thể tuỷ di căn theo cả hai đường mạch máu và bạch huyết.
+ Ung thư thể không biệt hoá là loại u ác tính nhất, xâm lấn tại chỗ
nhanh, bệnh nhân thường chết sau một thời gian ngắn.
- Tái phát tại chỗ: nguyên nhân của tái phát tại chỗ là sự hoạt động trở
lại của tế bào u ban đầu do điều trị không loại bỏ được hoàn toàn tổ chức
ung thư tuyến giáp.
1.2.2.Chẩn đoán lâm sàng, cận lâm sàng ung thư tuyến giáp thể biệt hóa

thấy u nguyên phát. Người trẻ tuổi, hạch cổ gợi ý UTTG ngay cả khi không
có u giáp. Theo NCCN 1.2016: UTTG thể nhú: 38% di căn hạch cổ lúc chẩn
đoán và 2% có di căn xa, 15 - 40% UTTG có di căn hạch cổ khám thấy trên
lâm sàng (thể nhú) và dưới 20% (thể nang). UTTG thể tủy: u phát triển nhanh,
có nhiều u, xâm lấn tổ chức xung quanh, di căn hạch cổ sớm. UTTG thể không
biệt hóa tiến triển nhanh trong thời gian ngắn, bệnh nhân có xâm lấn tại chỗ hoặc
vùng cổ, khàn tiếng, nuốt sặc [3].
1.2.2.2. Chẩn đoán cận lâm sàng

 Siêu âm tuyến giáp
Từ những năm 1960 siêu âm đã được sử dụng trong chẩn đoán bệnh lý
bướu giáp, giúp xác định vị trí, kích thước, giới hạn u, đơn hay đa u, nhằm phát
hiện những u nhỏ mà lâm sàng không thấy. Siêu âm hướng dẫn chọc hút TB


17

chính xác hơn, đặc biệt là u nhỏ có đường kính dưới 5 mm [4]. Nhiều nghiên
cứu công bố khả năng dự báo bướu tuyến giáp là lành tính hay ác tính trên cơ sở
các dấu hiệu siêu âm [5],[10]. Các đặc điểm siêu âm kết hợp với nguy cơ tăng
cao ung thư tuyến giáp đã được tìm thấy gồm: u đặc hoặc thành phần đặc chiếm
ưu thế, giảm âm hoặc rất giảm âm, bờ không đều hoặc có múi nhỏ, có vi vôi hóa,
chiều cao lớn hơn chiều rộng, tăng sinh mạch trong bướu [27]. Tuy nhiên, độ
nhạy, độ đặc hiệu, và giá trị dự báo âm tính và dương tính đối với các tiêu chuẩn
đó biến đổi rất nhiều từ nghiên cứu này đến nghiên cứu khác [28].

A

B


nguy cơ ác tính).
- TIRADS 6: biết chắc tổn thương ác tính trước đó.
* Siêu âm với chọc hút kim nhỏ (FNA)
Siêu âm giúp xác định đúng vị trí cần chọc hút, nhất là đối với những u
có cấu trúc hỗn hợp. Với bướu đa u siêu âm giúp chọn lọc u cần chọc hút dựa
trên các đặc điểm siêu âm nghi ngờ. FNA dưới hướng dẫn của siêu âm làm
tăng độ nhạy và độ đặc hiệu, giảm tỷ lệ âm tính giả do chọc kim sai vị trí [29].
* Siêu âm đánh giá di căn hạch vùng cổ
Hạch ác tính thường tròn, tỷ lệ trục ngắn/trục dài ≥ 0,5, có vi vôi hóa và
mất rốn hạch… Trong ung thư biểu mô tuyến giáp biệt hóa, tỷ lệ di căn hạch
cổ sâu và hạch cổ bên tương ứng là 77,4% và 58,5%. Vị trí thường gặp theo
thứ tự là nhóm VI, III, IV [27].


19

* Siêu âm theo dõi ung thư tuyến giáp sau điều trị
Hiện nay siêu âm là phương pháp phổ biến nhất được sử dụng trong
đánh giá, theo dõi bệnh nhân ung thư giáp sau phẫu thuật. Siêu âm giúp phát
hiện những trường hợp bệnh tái phát ở vị trí hố tuyến giáp sau khi đã cắt bỏ
hoàn toàn và di căn hạch cổ [30]. Siêu âm có thể được thực hiện mà không
cần phải ngừng thuốc hormon tuyến giáp, do đó tránh được suy giáp và không
cần dùng liệu pháp kích thích hormon kết hợp [30].
 Xét nghiệm tế bào học và mô bệnh học

 Chọc tế bào bằng kim nhỏ
- Chọc hút tế bào kim nhỏ có vai trò quan trọng trong chẩn đoán khối u
giáp, nó được phổ biến rộng rãi và được áp dụng tốt với rất ít tai biến khi thực
hiện. Chọc hút tế bào kim nhỏ có thể thực hiện dưới hoặc không dưới sự hướng
dẫn của siêu âm nhưng sẽ chính xác hơn nếu dưới sự hướng dẫn của siêu âm.


(Trích từ “La Thyroide” – NXB L’Expansion scientiphique Francaise- 1992”)
A: Hình khuyết xạ ở thuỳ phải tương ứng với nhân giáp lạnh
B: Hình ảnh tăng phát xạ khu trú ở thuỳ trái tương ứng với nhân giáp nóng
- Xạ hình cho thấy kích thước, hình dạng, vị trí, hình ảnh chức năng tuyến
giáp và u tuyến giáp. Theo NCCN 1.2016, đa số u UTTG không bắt phóng xạ,
hình ảnh nhân lạnh nhiều khả năng ác tính hơn nhân nóng. Tỷ lệ ác tính với u lạnh
là 5 - 15%. UTTG chụp xạ hình với Iod-131 cho thấy: 17% nhân lạnh, 3% nhân
nóng. Khi xạ hình với 99mTc, UTTG có 22% nhân lạnh, 29% nhân nóng [32].
- Xạ hình tuyến giáp phát hiện tổ chức giáp còn sót lại sau phẫu thuật, theo
dõi UTTG tái phát hoặc di căn hạch sau điều trị phẫu thuật kết hợp Iod-131. Xạ
hình toàn thân sau khi đã cắt toàn bộ tuyến giáp để phát hiện các ổ tái phát và di
căn và để tiên lượng bệnh [5],[33],[34],[35].
 Chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ: Chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng

hưởng từ là phương tiện để đánh giá sự lan rộng UTTG vào cấu trúc lân cận và


21

di căn hạch. CT có tiêm thuốc cản quang iod cho thấy hình ảnh chi tiết tuyến
giáp và đánh giá di căn hạch tốt hơn MRI, CT cũng ít tốn kém hơn MRI [36].
 Ghi hình phóng xạ cắt lớp bằng bức xạ positron: kỹ thuật PET (PETpositron emission tomogaphy) với 18F-fluoro-deoxyglucose có giá trị cao, đang
được phát triển và áp dụng ngày càng rộng rãi hơn. PET xác định giai đoạn, mức
độ di căn, xâm lấn tại chỗ và tiên lượng của ung thư tuyến giáp, có giá trị rất lớn
trong theo dõi, phát hiện tái phát và di căn sau điều trị ung thư tuyến giáp biệt hoá.
Chỉ định chụp PET khi nồng độ Tg cao, xạ hình không bắt xạ trong trường hợp
bệnh tái phát, xác định mức độ xâm lấn và tái phát, phát hiện ung thư tuyến giáp có
kích thước nhân còn nhỏ, khối di căn, các hạch nhỏ, mức độ xâm lấn mạch máu [3].
 Chụp PET/CT: Hiện nay, PET/CT là phương pháp chẩn đoán có giá trị

trong điều trị với iod-131. Kết quả nghiên cứu đột biến gene BRAF T1799A
được chứng minh có liên quan chặt chẽ đến mức độ giảm biểu hiện hoặc làm
mất chức năng biểu hiện của các gene tuyến giáp chịu trách nhiệm dung nạp
Iod vào bên trong tế bào, bao gồm: NIS, TSHR, TPO, TG và SLC26A4 (mã
hóa cho protein Pendrin). Kết quả này đã trở thành một bước đột phá trong
chẩn đoán và điều trị UTTG, tuy nhiên mới chỉ thực hiện tại các trung tâm
sinh học phân tử lớn trên thế giới [3].
1.2.3. Chẩn đoán giai đoạn bệnh và các yếu tố tiên lượng
1.2.3.1. Chẩn đoán giai đoạn bệnh
Phân loại TNM và giai đoạn bệnh theo Hiệp hội chống ung thư thế giới
(UICC) và Hiệp hội Ung thư Hoa kỳ (AJCC) - 2010.
(T) Bướu nguyên phát
TX
T0
T1

Không xác định được u nguyên phát
Không có bằng chứng của u nguyên phát
U có kích thước ≤ 2cm, khu trú trong tuyến giáp
T1a

U < 1cm

T1b

U > 1cm và ≤ 2cm
U > 2cm và ≤ 4cm, khu trú trong tuyến giáp
U > 4cm, khu trú trong tuyến giáp. Hoặc khối u có kích

T2

III, IV, V) hoặc sau khí quản hoặc hạch trung thất trên

(M) Di căn xa
Mx

Di căn xa không thể đánh giá được

MO

Không có di căn xa

M1

Có di căn xa

Giai đoạn bệnh:
Bảng 1.1. Giai đoạn bệnh ung thư tuyến giáp biệt hóa theo UICC
Ung thư dạng nhú hoặc nang dưới 45 tuổi:
Giai đoạn I
Bất kỳ T
Bất kỳ N
M0
Giai đoạn II
Bất kỳ T
Bất kỳ N
M1
Ung thư dạng nhú hoặc nang, 45 tuổi và lớn hơn và Ung thư dạng tuỷ:
Giai đoạn 0
Giai đoạn I
Giai đoạn II



24

Giai đoạn IVC
Bất kỳ T
Bất kỳ N
M1
Ung thư không biệt hoá (tất cả các trường hợp là giai đoạn IV):
Giai đoạn IVA
Giai đoạn IVB
Giai đoạn IVC

T4a
T4b
Bất kỳ T

Bất kỳ N
Bất kỳ N
Bất kỳ N

M0
M0
M1

1.2.3.2.Tiên lượng bệnh
Bên cạnh việc phân loại MBH, phân loại TNM và giai đoạn bệnh,
NCCN 1.2016 đề cập đến các đặc điểm liên quan đến tiên lượng bệnh bao
gồm những đặc điểm của u (kích thước u, mức độ xâm lấn, type tế bào…),
các đặc điểm về giải phẫu bệnh, tuổi, giới, tiền sử gia đình…sự có mặt của

Có di căn xa.
Có từ 2 nhân trở lên.
Có hiện tượng xâm lấn, phá vỡ vỏ bao TG.
U có kích thước > 2 cm.
Có hạch di căn vùng cổ.
Lưu ý: không lấy nhân, không cắt 1 phần thùy, không cắt bán phần thùy.
 UT thể nang
Đa số các khối u thể nang và tế bào Hurthlre có biểu hiện là những nhân
giáp đơn độc, tương đối mềm và có kích thước khá lớn (2 đến 5 cm). Chẩn đoán
tế bào học bằng kim nhỏ thường cho kết quả “không xác định” hay nghi ngờ ác
tính. Vì vậy, nhiều phẫu thuật viên khuyến cáo nên tiến hành cắt toàn bộ một
thùy giáp và eo tuyến. Sau phẫu thuật nếu kết quả giải phẫu bệnh lý là u lành
tính hoặc khối u ác tính nhỏ hơn 1cm và chỉ xâm lấn tối thiểu, bệnh nhân không
phải điều trị gì thêm. Nếu tổn thương được xác định là ác tính, có thâm nhiễm, di
căn hạch...bệnh nhân được chỉ định cắt giáp toàn bộ và điều trị I131.
 UT thể tuỷ: Tỷ lệ xâm lấn hai bên là rất cao và thường có di căn hạch
vùng từ giai đoạn sớm. Do đó PP điều trị là cắt giáp toàn bộ và vét hạch cổ [8].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status