BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-----***-----
NGUYỄN THỊ THANH HOÀ
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
VÀ CHẾ ĐỘ NUÔI DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN
UNG THƯ THỰC QUẢN TẠI KHOA NGOẠI BỤNG,
BỆNH VIỆN K CƠ SỞ TÂN TRIỀU NĂM 2017 - 2018
Chuyên ngành : Dinh dưỡng
Mã số
: 62728801
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS. Lê Thị Hương
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn thạc sỹ này, tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Y Hà Nội,
Ban lãnh đạo Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng; các Bộ môn Khoa - Phòng liên quan; các Thầy Cô trong Bộ môn Dinh dưỡng và An toàn
thực phẩm đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thời
Tôi là Nguyễn Thị Thanh Hoà, BSNT khoá XLI, chuyên ngành Dinh
dưỡng, khoá 2016 – 2019.
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, chính xác và chưa được đăng tải
trên bất kỳ một tạp chí khoa học nào. Toàn bộ số liệu trong đề tài được thu thập
từ thực tế và từ các nguồn tài liệu (có trích dẫn tham chiếu cụ thể).
Nếu có gì sai sót em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2018
Nguyễn Thị Thanh Hoà
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BMI
Body Mass Index
Chỉ số khối cơ thể
CED
Chronic Energy Deficiency
Thiếu năng lượng trường diễn
CID
TNM
Tumor Node Metastasis
Khối u, hạch khu vực, di căn
TTDD
Tình trạng dinh dưỡng
UT
Ung thư
UTTQ
Ung thư thực quản
WHO
World Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................3
1.1. Đại cương về ung thư thực quản.............................................................3
1.1.1. Dịch tễ học ung thư thực quản........................................................3
1.1.2. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư thực quản. .3
2.5.2. Các biến số, chỉ số liên quan đến tình trạng dinh dưỡng trước và
sau phẫu thuật................................................................................37
2.5.3. Các biến số, chỉ số liên quan đến thực trạng nuôi dưỡng.............37
2.6. Một số tiêu chuẩn đánh giá...................................................................38
2.6.1.Tiêu chí đánh giá các chỉ số nhân trắc học.....................................38
2.6.2. Phương pháp đánh giá dinh dưỡng PG-SGA................................38
2.6.3. Phương pháp đánh giá bằng chỉ tiêu sinh hoá...............................40
2.7. Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin..................................................40
2.7.1. Kỹ thuật thu thập thông tin............................................................40
2.7.2. Công cụ thu thập thông tin............................................................41
2.8. Sai số nghiên cứu..................................................................................42
2.8.1. Các sai số có thể gặp phải.............................................................42
2.8.2. Cách khắc phục sai số...................................................................42
2.9. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu........................................................42
2.10. Đạo đức trong nghiên cứu...................................................................43
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................................44
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu............................44
3.2. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư thực quản trước và sau
phẫu thuật mở thông dạ dày...................................................................46
3.2.1 Phân loại tình trạng dinh dưỡng trước phẫu thuật theo PG-SGA. .46
3.2.2 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo BMI.....................................49
3.2.3 Tình trạng dinh dưỡng theo một số chỉ số hoá sinh.......................51
3.3. Chế độ nuôi dưỡng bệnh nhân ung thư thực quản trước và sau phẫu
thuật mở thông dạ dày...........................................................................53
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN.............................................................................61
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu...........................................61
4.2. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân UTTQ trước và sau phẫu thuật mở
thông dạ dày..........................................................................................63
Bảng 1.3.
Phân loại mức độ sụt cân ...........................................................23
Bảng 1.4.
Nhu cầu khuyến nghị một số chất khoáng cho người bình thường...29
Bảng 1.5.
Nhu cầu khuyến nghị vitamin cho người bình thường...............29
Bảng 3.1
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu................................44
Bảng 3.2
Đặc điểm lâm sàng của đối tượng...............................................45
Bảng 3.3
Phân loại tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước phẫu thuật
theo PG-SGA và theo nhóm tuổi.................................................47
Bảng 3.4
Phân loại tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước phẫu thuật
theo PG-SGA và theo giai đoạn ung thư.....................................47
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1
Phân loại tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước phẫu
thuật theo PG-SGA.................................................................46
Biểu đồ 3.2
Các triệu chứng ảnh hưởng đến ăn uống của bệnh nhân trong 2
tuần trước phẫu thuật mở thông dạ dày...................................48
Biểu đồ 3.3
Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân theo albumin trước phẫu
thuật và prealbumin sau phẫu thuật.........................................51
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thực quản (UTTQ) là ung thư thường gặp, đứng hàng thứ 6 trong
các ung thư ở nam giới tại Việt Nam và đứng hàng thứ 12 tại Mỹ [1]. Nó ảnh
hưởng tới hơn 450.000 người trên thế giới và tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng
nhanh chóng [2], [3], [4], [5], [6]. Theo Hiệp hội ung thư Mỹ, năm 2017 có
16940 người được chẩn đoán UTTQ và có 15690 trường hợp tử vong [7].
Điều trị UTTQ chủ yếu dựa vào vị trí giải phẫu của khối u, giai đoạn
bệnh và thể trạng người bệnh. Phẫu thuật, hoá trị và xạ trị là 3 phương pháp
điều trị UTTQ.
[5]. Do vậy, việc cải thiện hỗ trợ dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý cho bệnh nhân
UTTQ là công việc quan trọng và cấp thiết.
Bệnh viện K là bệnh viện hàng đầu cả nước trong việc chẩn đoán và điều trị
các bệnh lý ung thư. Để nâng cao chất lượng chăm sóc điều trị người bệnh UTTQ
và hạn chế các biến chứng, giảm chi phí y tế cũng như thời gian nằm viện cho
người bệnh liên quan đến dinh dưỡng. Nghiên cứu: “Tình trạng dinh dưỡng và
chế độ nuôi dưỡng của bệnh nhân UTTQ tại khoa Ngoại bụng, Bệnh viện K
cơ sở Tân Triều năm 2017 – 2018” được tiến hành với các mục tiêu:
1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân UTTQ trước và sau phẫu
thuật mở thông dạ dày tại khoa Ngoại bụng, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều
năm 2017 – 2018.
2. Mô tả chế độ nuôi dưỡng của bệnh nhân UTTQ trước và sau phẫu thuật
mở thông dạ dày tại khoa Ngoại bụng, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều
năm 2017 – 2018.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về ung thư thực quản
1.1.1. Dịch tễ học ung thư thực quản
Ung thư thực quản là ung thư thường gặp, là nguyên nhân tử vong thứ 6
trong ung thư và là ung thư phổ biến thứ 8 trên thế giới. Nó ảnh hưởng tới
hơn 450.000 người trên thế giới và tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng nhanh chóng
[2], [3], [4], [5], [6]. Tại Pháp, UTTQ chiếm khoảng 15% tổng số các u ác
tính của đường tiêu hoá. Ở Mỹ, UTTQ chiếm khoảng 10% các ung thư đường
tiêu hoá. Theo Hiệp hội ung thư Mỹ, năm 2017 có 16940 người được chẩn
đoán UTTQ và 15690 trường hợp tử vong do UTTQ [7].
Tại Việt Nam theo tài liệu mới nhất được công bố năm 2016 của Bệnh
UTTQ giai đoạn sớm rất khó phát hiện do dấu hiệu nghèo nàn, thậm
chí giai đoạn đầu có thể không có triệu chứng.
Dấu hiệu sớm nhất thường gặp là nuốt khó, nuốt nghẹn, giai đoạn này
hầu như chỉ phát hiện được nhờ kỹ thuật nội soi nhuộm màu hay siêu âm nội
soi. Nếu được phát hiện bệnh ở giai đoạn này thì việc điều trị sẽ đơn giản và
tiên lượng sẽ tốt hơn rất nhiều. Khi có dấu hiệu nuốt nghẹn rõ thì bệnh đã
sang giai đoạn tiến triển và vấn đề chẩn đoán không còn khó khăn nữa. Dấu
hiệu nuốt nghẹn thường tiến triển từ từ sau 3 – 4 tháng cùng với sự lớn lên
của khối u, lúc đầu là cảm giác khó chịu khi nuốt, nuốt vướng sau đó nuốt
nghẹn với thức ăn đặc, về sau là với thức ăn lỏng , rồi đi đến nghẹn hoàn
toàn. Triệu chứng nuốt nghẹn gặp ở 85 – 90% bệnh nhân UTTQ. Do thực
quản rất đàn hồi nên khi có nuốt nghẹn khẩu kính thực quản chỉ còn có 1
cm2 và u đã lan ra 2/3 chu vi thực quản [8].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Lợi, có 87,9% bệnh nhân UTTQ có
triệu chứng nuốt nghẹn [8], nghiên cứu của Hamrah tại Afghanistan cho thấy
5
có 84,8% bệnh nhân UTTQ bị nuốt nghẹn [30]; nghiên cứu của Ripley và
cộng sự cho thấy có 53,5% bệnh nhân có nuốt nghẹn ở các mức độ khác nhau
[31], nghiên cứu của Jiang Wu tại Trung Quốc cho thấy có tới 92,85% bệnh
nhân có triệu trứng nuốt nghẹn [9].
Gầy sút cân trên 90% bệnh nhân, da sạm, khô do thiếu dinh dưỡng lâu
ngày, thiếu máu, mệt mỏi…Gầy sút cân, đây là bệnh có triệu chứng xuất hiện
khá sớm vì liên quan đến nuốt nghẹn nên sợ ăn, không ăn được đồng thời với
quá trình tăng chuyển hoá của ung thư. Thường những tháng đầu có thể mất
từ 3 – 5kg/tháng [8].
Đau khi nuốt gặp ở một nửa số bệnh nhân, thường đau sau xương ức.
Nếu khối u ở thực quản thấp thì có thể gặp đau bụng. Đau có thể lan ra sau
+ T4b: khối u không thể phẫu thuật được xâm lấn các cấu trúc
khác như động mạch chủ, thân đốt sống, khí quản…
Hạch vùng (N)
Nx: hạch vùng không xác định được.
N0: không có di căn tới hạch vùng.
N1: di căn 1 – 2 hạch vùng.
N2: di căn 3 – 6 hạch vùng.
N3: di căn ≥ 7 hạch vùng.
Di căn xa (M)
Mx: không xác định được di căn xa.
M0: không có di căn xa.
M1: di căn xa.
7
Bảng 1.1. Phân loại giai đoạn TNM của ung thư thực quản
Giai đoạn
UTTQ tế bào vảy
Giai đoạn 0
Giai đoạn I
UTTQ tế bào tuyến
Tis N0 M0
IA: T1 N0 M0
Giai đoạn IIIC
T4a N1-2 M0; T4b N0-3 M0; T0-4 N3 M0
Giai đoạn IV
T0-4 N0-3 M1
1.1.4. Điều trị bệnh ung thư thực quản
Điều trị UTTQ chủ yếu dựa vào vị trí giải phẫu của khối u, giai đoạn
bệnh, thể trạng người bệnh. Phẫu thuật, xạ trị, hoá trị là 3 phương pháp chủ
yếu điều trị UTTQ. Đối với UTTQ sớm ở 1/3 giữa, dưới, điều trị phẫu thuật
nắm vai trò chủ đạo. Những trường hợp khác, điều trị phối hợp các phương
pháp là xu hướng phổ biến hiện nay.
Đối với ung thư biểu mô vảy giai đoạn sớm, phẫu thuật có kết quả gần
tương đương với tia xạ đơn thuần liều cao, hoá chất đơn thuần không kết quả.
Đối với ung thư biểu mô tuyến giai đoạn sớm, phẫu thuật có kết quả hơn tia
xạ đơn thuần liều cao, hoá chất đơn thuần không kết quả.
UTTQ 1/3 trên phẫu thuật khó khăn nên thường sử dụng tia xạ và hoá
chất phối hợp. UTTQ 1/3 giữa khi u < 3 cm nên phẫu thuật, u > 3 cm cần cân
nhắc, u > 5 cm thường kèm theo di căn hạch, kết quả phẫu thuật kém hơn sử
8
dụng tia xạ và hoá chất phối hợp. UTTQ 1/3 dưới hầu hết là ung thư biểu mô
tuyến ít nhạy cảm tia xạ, vì vậy cần phẫu thuật đơn thuần giai đoạn I và IIA,
phẫu thuật có tia xạ và hoá chất bổ trợ giai đoạn IIB và III.
Về vị trí u, nên mổ đối với 1/3 dưới, không mổ đối với 1/3 trên, cân
nhắc kỹ đối với 1/3 giữa. Về giai đoạn bệnh, nên mổ đối với giai đoạn I và II,
biến chứng về miệng nối, biến chứng phổi và màng phổi phức tạp.
Đồng thời, ở giai đoạn muộn triệu chứng nuốt nghẹn của bệnh nhân đã
biểu hiện rõ và ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Lợi, có 87,9% bệnh nhân UTTQ có triệu
chứng nuốt nghẹn, chủ yếu là độ I chiếm 75,8% [8], nghiên cứu của Hamrah
tại Afghanistan cho thấy có 84,8% bệnh nhân UTTQ bị nuốt nghẹn [30];
nghiên cứu của Ripley và cộng sự cho thấy có 53,5% bệnh nhân có nuốt
nghẹn ở các mức độ khác nhau [31]. Một nghiên cứu tại Trung Quốc cho kết
quả 77,78% bệnh nhân mới phát hiện bệnh UTTQ có triệu chứng nuốt nghẹn;
62,5% bệnh nhân bị giảm cân ở các mức độ khác nhau và có xu hướng xảy ra
với các bệnh nhân ở giai đoạn III- IV [9]. Khoảng 80% bệnh nhân UTTQ
không thể phẫu thuật được do nhiều nguyên nhân kể trên.
Điều quan trọng nhất trong điều trị UTTQ là phối hợp về chế độ dinh
dưỡng, chỉ định hợp lý đối với vị trí u, mức độ xâm lấn u và di căn hạch. Chế độ
cải thiện tình trạng dinh dưỡng phải bắt đầu sớm và đầy đủ trước khi bắt đầu mọi
biện pháp điều trị cơ bản, triệt căn hay không triệt căn. Lựa chọn biện pháp điều
trị cơ bản một cách mềm dẻo, phù hợp với từng điều kiện.
Chính vì vậy, dù bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp nào thì
phần lớn bệnh nhân sẽ được phẫu thuật mở thông dạ dày để nuôi dưỡng trong
suốt quá trình điều trị để đảm bảo dinh dưỡng. Tại Việt Nam, tỷ lệ mở thông
dạ dày ở bệnh nhân thực quản giai đoạn III, IV là 83,3% [8].
10
1.2. Dinh dưỡng và điều trị ung thư thực quản
1.2.1. Dinh dưỡng với bệnh nhân phẫu thuật
1.2.1.1. Tác động của phẫu thuật tới tình trạng dinh dưỡng
Phẫu thuật gây ra stress đối với cơ thể. Phẫu thuật ảnh hưởng tới tình
trạng dinh dưỡng của bệnh nhân bởi nhiều yếu tố: do nhịn ăn trước phẫu thuật
rõ ràng [36], [37]. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ cả trước và sau phẫu
thuật sẽ góp phần làm tăng sức chịu đựng của bệnh nhân cho cuộc mổ
và hồi phục nhanh sức khoẻ sau phẫu thuật.
Dinh dưỡng còn nâng cao sức đề kháng tăng cường hệ miễn dịch
của cơ thể chống lại bệnh nhiễm khuẩn. Nuôi đường ruột sớm giúp duy
trì hệ vi khuẩn bình thường, ngăn ngừa sự di chuyển vi khuẩn từ ruột
vào máu và nhiễm trùng bắt nguồn từ ruột [38], [39]. Thiếu protein năng lượng ảnh hưởng trực tiếp đến hệ miễn dịch: giảm chức năng tế
bào lympho T miễn dịch qua trung gian tế bào, giảm các chức phận diệt
khuẩn của bạch cầu đa nhân trung tính, bổ thể và bài xuất các globulin
miễn dịch nhóm IgA [40].
1.2.1.2. Dinh dưỡng và sự lành vết thương
Dinh dưỡng tốt làm nhanh lành vết thương. Chậm liền vết thương ở
những bệnh nhân phẫu thuật điều trị ung thư là thường gặp. Nghiên cứu thấy
rằng ở những bệnh nhân được ăn bổ sung đường miệng sớm với công thức
dinh dưỡng có chứa arginine, acid béo omega-3 và RNA thì việc liền vết mổ
tốt hơn so với nhóm chứng [41]. Điều này chứng tỏ dinh dưỡng đúng giúp cải
thiện tiên lượng ở những bệnh nhân phẫu thuật điều trị ung thư.
Các chất dinh dưỡng đều có sự ảnh hưởng tới quá trình liền vết thương.
SDD protein - năng lượng, dạng phổ biến nhất của SDD trên thế giới dẫn đến
giảm sức căng vết thương, giảm chức năng tế bào lympho T, giảm hoạt động
thực bào và giảm bổ thể, kháng thể cuối cùng là giảm khả năng đề kháng của
12
cơ thể đối với vết thương chống lại nhiễm trùng. Trên lâm sàng, suy giảm
miễn dịch tương quan với tăng tỷ lệ biến chứng và tăng sự không lành vết
thương sau phẫu thuật. SDD có thể có trước vết thương hoặc có thể thứ phát
do dị hoá từ vết thương. Cần cung cấp dinh dưỡng tốt nhất để đạt hiệu quả
cho sự lành vết thương.
chán ăn trong một thời gian dài là do ảnh hưởng của các triệu chứng trên
đường tiêu hóa khác như nôn, buồn nôn, khô miệng, nhiệt miệng [49]. Ảnh
hưởng của hóa trị phụ thuộc vào độc tính của thuốc và các tác động thứ cấp
làm mất cảm giác thèm ăn. Chúng không chỉ bao gồm giảm cân mà còn có thể
dẫn tới SDD [52].
Rối loạn vị giác: Rối loạn vị giác với mức độ khác nhau là một trong
những triệu chứng phổ biến nhất liên quan tới mất cảm giác ngon miệng,
được bệnh nhân mô tả mùi khó chịu và vị kim loại trong hương vị. Trong một
nghiên cứu tại Nhật Bản có 45,95% bệnh nhân hóa trị có rối loạn vị giác,
trong đó phác đồ với 5FU là 59% và với Taxane là 60%. Cả hai phác đồ này
gây mất cảm giác ngon miệng là 39,1% và 44,4% tương ứng [54].
Khô miệng: Có khoảng 40% bệnh nhân hóa trị có khô miệng sau từ hai
đến tám tuần điều trị. Biểu hiện qua các triệu chứng như nứt môi, teo nhú
lưỡi, cảm giác bỏng rát trong miệng. Nguyên nhân do hóa chất và sản
phẩm chuyển hóa của nó cạnh tranh thụ thể của các chất dẫn truyền thần
kinh phó giao cảm – Acetylcholin. Hệ phó giao cảm lại có vai trò trong
kiểm soát các tuyến nước bọt, khi bị ức chế sẽ làm giảm tiết nước bọt và
dẫn đến khô miệng [55], [56].
Viêm niêm mạc miệng: Thường xuất hiện sau hóa trị 2 - 14 ngày với
các tổn thương ban đỏ, loét kèm theo đau rát và có thể nhiễm trùng. Các triệu
chứng nuốt khó, nuốt đau cũng có thể xuất hiện gây hạn chế trong ăn uống,
ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Là do hóa chất tác động đến chu kỳ tế
14
bào đặc biệt là các mô tế bào có chu kỳ ngắn hay thay đổi như biểu mô niêm
mạc miệng. Thêm vào đó ảnh hưởng gián tiếp của hóa trị do suy tủy hoặc ức
chế miễn dịch càng làm cho viêm, nhiễm trùng dễ dàng phát triển. Nghiên
cứu của Rajesh chỉ ra 303 trên tổng số 599 bệnh nhân (51%) hóa trị có tình
- Vấn đề về tuyến nước bọt bao gồm khô miệng, nước bọt quánh, dính,
thay đổi vị giác ảnh hưởng đến ăn uống, thậm chí gây hoại tử tuyến nước bọt
cấp tính.
- Vấn đề ở vùng hầu và thực quản: bệnh nhân có thể khó nói hoặc nuốt
đau kèm theo mất nước hoặc sút cân, đòi hỏi ăn bằng sonde, truyền dịch; có
thể bị loét, thủng hoặc tắc hoàn toàn thực quản.
Tác dụng phụ muộn, hiếm gặp, xảy ra hàng tháng hoặc hàng năm sau
khi điều trị và thường là vĩnh viễn, ảnh hưởng đến quá trình ăn uống của bệnh
nhân là:
- Vấn đề về tuyến nước bọt: bệnh nhân bị khô miệng, tuyến nước bọt xơ hoá.
- Vấn đề về thực quản: thực quản bị xơ hoá, khó nuốt, hoại tử hoặc thủng
gây rò.
Bệnh nhân trải qua xạ trị có thể bị tác dụng phụ sớm trong quá trình
điều trị; cũng có thể bị tác dụng phụ muộn trong nhiều tháng hoặc thậm chí
nhiều năm sau khi đã hoàn thành điều trị. Các tác dụng phụ khác nhau tùy
từng người và có thể phụ thuộc vào sức khỏe tổng quát, liều bức xạ hàng
ngày, tổng liều bức xạ trong quá trình điều trị và các phương pháp điều trị
khác (như hóa trị).
Bệnh nhân trải qua xạ trị chùm tia bên ngoài thường gặp khó khăn và
đau đớn ngay sau khi bắt đầu điều trị. Điều này xảy ra như là kết quả của bức
xạ giết chết các tế bào trong lớp lót của thực quản, gây ra phản ứng tương tự
như cháy nắng. Điều quan trọng là bệnh nhân phải uống nhiều nước và đáp
ứng nhu cầu dinh dưỡng của họ trong thời gian này. Khi bệnh nhân không thể
có đủ dinh dưỡng và hydrat hóa, có thể cần phải cho ống vào trước hoặc trong
16
khi xạ trị cho đến khi bệnh nhân lấy lại khả năng nuốt. Sau khi điều trị xong,
cơn đau thường giảm xuống trong vòng vài tuần.