Tình trạng dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng của bệnh nhân ung thư thực quản tại khoa ngoại bụng, bệnh viện k cơ sở tân triều năm 2017 – 2018 - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thực quản là ung thư thường gặp, đứng hàng thứ 6 trong các ung
thư ở nam giới tại Việt Nam và đứng hàng thứ 12 tại Mỹ [1]. Điều trị ung thư
thực quản chủ yếu dựa vào vị trí giải phẫu của khối u, giai đoạn bệnh và thể
trạng người bệnh. Phẫu thuật, xạ trị, hoá trị là 3 phương pháp điều trị trong ung
thư nói chung trong đó phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt căn đối với ung
thư thực quản giai đoạn sớm.
Tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) ở người bệnh phẫu thuật là yếu tố nguy
cơ làm tăng các biến chứng như: nhiễm trùng vết mổ, chậm liền vết mổ, nhiễm
khuẩn, suy hô hấp, thậm chí tử vong [2], [3]. Trong khi đó tình trạng SDD trong
bệnh viện vẫn chiếm tỉ lệ khá cao. Ở Úc tỷ lệ SDD ở người bệnh mới vào viện
chiếm khoảng 40% [4]. Ở Brazil tỷ lệ SDD nằm viện là 56,5%, trong đó SDD
nặng là 17,4%, SDD trung bình là 39,1% [5]. Theo Hiệp hội Dinh dưỡng lâm
sàng châu Âu ESPEN (2006) thì tỷ lệ SDD chiếm 20 – 60% bệnh nhân nằm viện
và có đến 30 – 90% bị mất cân trong thời gian điều trị [6].
Người bệnh SDD có nguy cơ tử vong cao hơn, thời gian nằm viện dài hơn.
Một nghiên cứu của Moriana M tại Tây Ban Nha năm 2013 cho thấy có 50%
người bệnh SDD mới nhập viện và thời gian nằm viện của người bệnh SDD là
13,5 ngày lâu hơn so với người bệnh không SDD là 6,7 ngày [7].
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SDD cao ở những người
bệnh phẫu thuật đặc biệt là phẫu thuật tiêu hoá. Tại bệnh viện Bạch Mai và bệnh
viện Đại học Y Hà Nội, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh (2017) cho thấy: tỷ lệ
SDD của người bệnh phẫu thuật theo SGA là 33,9% (BMI < 18,5 là 26,0%) [8].
Nghiên cứu “Hiệu quả dinh dưỡng toàn diện cho bệnh nhân phẫu thuật ổ bụng –
tiêu hoá có chuẩn bị tại khoa Ngoại bệnh viện Bạch Mai năm 2013” của Chu Thị
Tuyết cho thấy nuôi ăn sớm sau phẫu thuật là an toàn và khả thi, các biến chứng


2

viện K thì ung thư thực quản đứng hàng thứ 6 trong các ung thư ở nam giới
[11]. Với những tiến bộ trong chẩn đoán tỷ lệ ung thư thực quản ở giai đoạn
muộn đã giảm đáng kể, tuy nhiên kết quả điều trị còn nhiều hạn chế không chỉ
ở Việt Nam mà còn ở các nước phát triển với tỷ lệ tử vong hàng năm còn cao.
1.1.2. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư thực quản
Thuốc là và rượu là hai yếu tố nguy cơ phổ biến của bệnh. Chính vì vậy
ung thư thực quản thường gặp ở nam giới ở độ tuổi 50 – 60. Ngoài ra, còn các
yếu tố nguy cơ khác như thiếu dinh dưỡng, béo phì, vệ sinh ăn uống, nhiễm
virus, bệnh thực quản trào ngược….
Ung thư thực quản chủ yếu xuất phát từ các tế bào biểu mô thực quản,
phần lớn là từ tế bào biểu mô vảy, thứ đến là tế bào biểu mô tuyến. Các loại
mô bệnh học khác như sarcome cơ trơn, u tế bèo Schwan ác tính, u lympho ác
tính và GIST… chỉ chiếm tỷ lệ dưới 1%.


4

1.1.3. Chẩn đoán bệnh ung thư thực quản
1.1.3.1. Lâm sàng
UTTQ giai đoạn sớm rất khó phát hiện do dấu hiệu nghèo nàn, thậm
chí giai đoạn đầu có thể không có triệu chứng. Dấu hiệu sớm nhất thường gặp
là nuốt khó, nuốt nghẹn, giai đoạn này hầu như chỉ phát hiện được nhờ kỹ
thuật nội soi nhuộm màu hay siêu âm nội soi. Nếu được phát hiện bệnh ở giai
đoạn này thì việc điều trị sẽ đơn giản và tiên lượng sẽ tốt hơn rất nhiều. Khi
có dấu hiệu nuốt nghẹn rõ thì bệnh đã sang giai đoạn tiến triển và vấn đề chẩn
đoán không còn khó khăn nữa. Dấu hiệu nuốt nghẹn tăng dần cùng với sự lớn
lên của khối u, lúc đầu là nuốt nghẹn với thức ăn đặc, sau đó là với thức ăn
lỏng. Triệu chứng nuốt nghẹn gặp ở 85 – 90% bệnh nhân UTTQ. Gầy sút cân
gặp khoảng 70%, ngoài ra ở một số ít trường hợp có thể gặp các triệu chứng:
đau rát sau xương ức, nôn, nói khàn

 Nx: hạch vùng không xác định được.
 N0: không có di căn tới hạch vùng.
 N1: di căn 1 – 2 hạch vùng.
 N2: di căn 3 – 6 hạch vùng.
 N3: di căn ≥ 7 hạch vùng.
Di căn xa (M)
 Mx: không xác định được di căn xa.
 M0: không có di căn xa.
 M1: di căn xa.


6

Giai đoạn TNM của ung thư thực quản tế bào vảy:
Giai đoạn

T

N

M

Grade

Vị trí u

0

Tis


T2 – 3

N0

M0

1, X

Thấp, X

T2 – 3

N0

M0

1, X

Trên, giữa

T1 – 2

N0

M0

2-3

Thấp, X


T3

N1

M0

Bất kỳ

Bất kỳ

T4a

N0

M0

Bất kỳ

Bất kỳ

T3

N2

M0

Bất kỳ

Bất kỳ


Bất kỳ

Bất kỳ

M1

Bất kỳ

Bất kỳ

IB

IIA

IIB

IIIA

IIIB

IIIC

IV


7

Giai đoạn TNM của ung thư thực quản tế bào tuyến:
Giai đoạn
0

M0
M0
M0

1 – 2, X
3
Bất kỳ

T1 – 2
T1 – 2

N1
N2

M0
M0

Bất kỳ
Bất kỳ

IIIA

T3

N1

M0

Bất kỳ


Bất kỳ
Bất kỳ

N3
Bất kỳ

M0
M1

Bất kỳ
Bất kỳ

IB
IIA
IIB

1.1.4. Điều trị bệnh ung thư thực quản
Điều trị ung thư thực quản chủ yếu dựa vào vị trí giải phẫu của khối u,
giai đoạn bệnh, thể trạng người bệnh. Phẫu thuật, xạ trị, hoá trị là 3 phương
pháp chủ yếu điều trị ung thư thực quản. Đối với ung thư thực quản sớm ở 1/3
giữa, dưới, điều trị phẫu thuật nắm vai trò chủ đạo. Những trường hợp khác,
điều trị phối hợp các phương pháp là xu hướng phổ biến hiện nay.
1.1.4.1. Điều trị phẫu thuật
Phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt căn đối với ung thư thực quản
giai đoạn sớm. Với những khó khăn nhất định về kỹ thuật để đảm bảo tính
triệt căn, cũng như để giảm thiểu tối đa tai biến, biến chứng và tỷ lệ tử vong,
cần tuân thủ chặt chẽ những chỉ định và chống chỉ định của phẫu thuật thực
quản như sau:



9

phẩm khẩu phần và nhiều sự thay đổi khách quan khác dẫn đến tình trạng
suy dinh dưỡng.
Sau phẫu thuật, tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân bị suy giảm và còn
tiếp tục suy giảm sau khi bệnh nhân xuất viện. Bệnh nhân có thể bị giảm tới
gần 10% cân nặng sau phẫu thuật 8 tuần [12], [13]. Suy dinh dưỡng nặng ở
bệnh nhân phẫu thuật ung thư đường tiêu hóa tăng từ 2,3% trước phẫu thuật
lên đến 26,3% sau phẫu thuật [14]. Bệnh nhân lớn tuổi, nam giới, có giảm cân
trước phẫu thuật, ung thư dạ dày và phẫu thuật mở là những yếu tố nguy cơ
của suy dinh dưỡng nặng sau phẫu thuật.
1.2.1.1. Vai trò của dinh dưỡng đối với người bệnh phẫu thuật thực quản
Việc hỗ trợ dinh dưỡng sớm và đầy đủ cho người bệnh phẫu thuật
thực quản là một trong những khâu quyết định đến sự phục hồi của
bệnh nhân. Một số tác giả nghiên cứu đã chỉ ra rằng cho ăn đường ruột
sớm sau phẫu thuật đúng và đầy đủ, bệnh nhân sẽ dung nạp tốt và hiệu
quả, chức năng ruột được cải thiện ngăn ngừa teo niêm mạc ống tiêu
hoá duy trì hệ miễn dịch. Khi được nuôi dưỡng qua đường ruột biến
chứng nhiễm trùng ít hơn so với nuôi dưỡng đường tĩnh mạch hoàn
toàn, giảm chi phí điều trị và thời gian nằm tại bệnh viện ngắn hơn, do
đó nên nuôi dưỡng qua đường tiêu hoá bất cứ khi nào có thể. Chế độ
dinh dưỡng tốt trước phẫu thuật làm giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong
sau phẫu thuật. Với người bệnh bị suy dinh dưỡng, hỗ trợ dinh dưỡng
từ 7 – 10 ngày trước phẫu thuật, kết quả sau phẫu thuật được cải thiện
rõ ràng [15], [16]. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ cả trước và sau phẫu
thuật sẽ góp phần làm tăng sức chịu đựng của bệnh nhân cho cuộc mổ
và hồi phục nhanh sức khoẻ sau phẫu thuật.
Dinh dưỡng còn nâng cao sức đề kháng tăng cường hệ miễn dịch
của cơ thể chống lại bệnh nhiễm khuẩn. Các bằng chứng nghiên cứu


11

Tình trạng dinh dưỡng của mỗi cá thể phản ánh mức độ cơ thể được
thoả mãn nhu cầu sinh lý về các chất dinh dưỡng. Cân bằng giữa khẩu phần
dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng sẽ cho một trạng thái sức khoẻ tốt [21].
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra khái niệm suy dinh dưỡng muốn
chỉ tình trạng năng lượng hoặc các chất dinh dưỡng đưa vào cơ thể bị thiếu,
thừa hoặc mất cân đối. Thuật ngữ này bao gồm 3 tình trạng: sự thiếu ăn (gồm
nhẹ cân, thấp còi và suy mòn), suy dinh dưỡng có liên quan tới vi chất (bao
gồm thiếu và thừa vi chất), và thừa cân- béo phì và các bệnh không lây liên
quan đến chế độ ăn (như bệnh tim mạch, đột quỵ, đái tháo đường và một vài
loại ung thư) [22].
Ung thư gây tác động lên dinh dưỡng theo nhiều cơ chế khác nhau, bao
gồm tăng năng lượng chuyển hóa, buồn nôn và nôn, giảm lượng thực phẩm ăn
vào hoặc do các biện pháp điều trị dẫn tới kém hấp thu. Tình trạng suy dinh
dưỡng thường gặp trong ung thư, hậu quả cuối cùng có thể dẫn tới suy mòn
do ung thư [23], [24], [25].
1.2.2.1. Sụt cân ở những bệnh nhân ung thư thực quản
Sụt cân rất thường gặp ở những bệnh nhân ung thư, đặc biệt là những
bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa, ung thư đầu mặt cổ, ung thư phổi. Tỉ lệ
gặp sụt cân ở các bệnh nhân ung thư có thể từ 30-80% tùy thuộc vào loại ung
thư. Ung thư tụy và ung thư dạ dày có tỉ lệ sụt cân cao nhất, trong khi ung thư
lympho không Hodgkin, ung thư vú, bạch cầu cấp và ung thư xương gặp tỉ lệ
sụt cân thấp nhất [26], [27].
Sụt cân không chủ ý do ung thư không giống như sụt cân do thiếu
ăn/nhịn đói [25], [27], [28]. Sụt cân do ung thư có đặc điểm là khối cơ xương
và mỡ mất tương đương nhau, trong khi ở tình trạng thiếu ăn/nhịn đói, cân
nặng bị mất chủ yếu là do khối mỡ và chỉ có một lượng nhỏ khối cơ xương bị
mất [27].



13

có khối u đặc biệt là giai đoạn tiến triển [34]. Nguyên nhân do các chất tiết từ
khối u gây ức chế tiết, vận chuyển, tác dụng lên các thụ thể của NPY [35].
1.2.3. Suy dinh dưỡng và ung thư
Suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư là thường gặp. Tỉ lệ suy dinh
dưỡng thay đổi tuỳ thuộc từng nơi, loại ung thư, giai đoạn ung thư. Tại Pháp,
tỉ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư là 39% trong đó có 39,3% bệnh
nhân ung thư thực quản hoặc ung thư dạ dày bị suy dinh dưỡng [36]. Suy dinh
dưỡng ở bệnh nhân ung thư tại Hàn Quốc, Tây Ban Nha lần lượt là 61% và
52% [37], [38]. Tỉ lệ SDD có thể lên tới trên 86,6% ở những bệnh nhân ung
thư phổi [37]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Trần Châu Quyền và cộng
sự (2017) có tới 50,2% bệnh nhân ung thư thực quản bị suy dinh dưỡng [39].
Suy dinh dưỡng làm tăng tỉ lệ biến chứng, tỉ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm
viện và tăng chi phí điều trị, làm suy giảm chất lượng cuộc sống [40].
Do vậy nhân viên y tế đặc biệt là bác sỹ dinh dưỡng cần phối hợp với các
bác sỹ điều trị phát hiện và kiểm soát tốt tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân
góp phần tăng hiệu quả điều trị, giảm thời gian làm viện, giảm chi phí, giảm
các biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
1.3. Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư
1.3.1. Nhu cầu năng lượng
Nhu cầu về năng lượng: Theo hiệp hội dinh dưỡng lâm sàng và chuyển
hóa châu Âu ESPEN năm 2016 mức năng lượng cho bệnh nhân ung thư dao
động trong khoảng 25-30 kcal/kg/ngày tùy thuộc vào tình trạng dinh dưỡng
hiện tại của bệnh nhân. Tuy nhiên mức độ bằng chứng thấp do chỉ ít nghiên
cứu với cỡ mẫu nhỏ đánh giá tổng nhu cầu năng lượng (TEE) trên bệnh nhân
ung thư [41]. Trong khuyến cáo cũng đề cấp việc cung cấp đầy đủ các chất
ding dưỡng không làm phát triển khối u trên cơ thể người [42]. Và để ước



15

điều trị bằng hóa chất cho kết quả 6/12 nghiên cứu bổ sung bằng đường tĩnh
mạch cho hiệu quả [47] .
1.3.2.2. Khuyến nghị về lipid
Khuyến nghị ESPEN năm 2014 về tỷ lệ lipid là 35-50% đối với các
bệnh nhân UT giai đoạn tiến triển và có tình trạng sụt cân. Và khuyến cáo
năm 2016 của ESPEN cũng nhấn mạnh tăng năng lượng từ lipid thay vì
glucid trong trường hợp bệnh nhân có sụt cân và sự đề kháng với insulin.
Nguyên nhân là do hệ thống viêm của toàn cơ thể được kích hoạt trong cơ thể
bệnh nhân UT ảnh hưởng tất cả các con đường chuyển hóa sinh năng lượng
trong đó có tình trạng giảm dung nạp đường huyết do đề kháng với insulin,
tuy nhiên con đường oxy hóa acid béo vẫn được duy trì thậm chí là tăng lên
trong trường hợp bệnh nhân có sụt cân [41]. Và các acid béo không no nhiều
nối đôi EPA (acid eicosapentanoic) được hiệp hội dinh dưỡng Hoa Kỳ ASPEN
khuyến cáo nên dùng với liều 2g/ngày có tác dụng trong điều trị hội chứng
suy mòn trong ung thư [48].
1.3.2.3. Khuyến nghị về glucid
Theo Viện Dinh dưỡng năm 2012 khuyến cáo năng lượng do glucid
cung cấp chiếm 56-70% tổng nhu cầu năng lượng của cơ thể đối với người
bình thường. Tuy nhiên do tình trạng kém dung nạp đường huyết do kháng
insulin kích thích bởi hệ thống viêm trên bệnh nhân UT nên tỷ lệ giảm hơn
tùy theo nhu cầu của protein và lipid theo khuyến nghị trên
1.3.3. Nhu cầu các chất dinh dưỡng không sinh năng lượng
ESPEN năm 2016 khuyến nghị về các vitamin và chất khoáng cho bệnh
nhân UT tương đương nhu cầu khuyến nghị cho người bình thường. Đối với
nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa, nhu cầu hàng ngày có thể áp dụng khuyến
nghị của WHO/FAO cũng như của từng quốc gia. Trong khuyến cáo cũng
nhấn mạnh rằng không khuyến khích dùng liều cao các vitamin và chất

15%*** (mg/ngày)

Nam trưởng thành
19-49 tuổi 700
50-60 tuổi
150
27,4
18,3
13,7
700
1000
>60 tuổi
Nữ trưởng thành
19-49 tuổi 700
150
58,8
39,2
29,4
700
50-60 tuổi
1000
>60 tuổi
*
Loại khẩu phần có giá trị sinh học sắt thấp (chỉ có khoảng 5% sắt được hấp
thu): Khi chế độ ăn đơn điệu, lượng thịt hoặc cá
B3
mg

B12
mcg

Nam trưởng thành
19-50 tuổi
10
51-60 tuổi
600 10
12
59
70
1,2 1,3 16
2,4
≥60 tuổi
15
Nữ trưởng thành
19-50 tuổi
10
1,2
500
70
51-60 tuổi
10
12
51
1,1 1,1 14
2,4

công cụ SGA và NRI. Tỉ lệ suy dinh dưỡng lần lượt tăng lên 67% và
82% tại thời điểm xuất viện. Kết quả cũng cho thấy phần trăm sụt cân ở
nhóm bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng cao hơn nhóm có tình trạng dinh
dưỡng bình thường [53].
1.4.2. Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Hương và cộng sự năm 2013 trên các
bệnh nhân ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Bạch Mai cho tỷ lệ SDD theo
BMI là 58,6% và tỷ lệ nguy cơ SDD theo phương pháp SGA là 55,7%; tỷ lệ
bệnh nhân có albumin huyết thanh dưới 35g/l là 31,4% và tỷ lệ thiếu máu là
57,1% [54]. Năm 2015, nghiên cứu của Phùng Trọng Nghị và cs tại Bệnh viện
Quân Y 103 cho tỷ lệ SDD của bệnh nhân ung thư theo BMI là 25,6% và gặp
chủ yếu ở ung thư đường tiêu hóa; phân loại SDD theo albumin cho tỷ lệ
SDD là 23,7% [55]. Một nghiên cứu khác tiến hành bởi Nguyễn Thị Nhung
trên các bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
(2015) cũng cho tỷ lệ SDD theo phân loại PG-SGA là 51,7% (trong đó
43,54% ở mức độ B và 8,16% ở mức độ C) [56]. Cùng thời gian này, nghiên
cứu của Nguyễn Thúy Hằng tiến hành trên các bệnh nhân phẫu thuật UT
đường tiêu hóa cho kết quả tỷ lệ SDD trước phẫu thuật theo phân loại PGSGA là 56,4% và tỷ lệ SDD sau phẫu thuật phân loại theo BMI lên đến 51,3%
[57]. Nghiên cứu gần đây nhất của Đào Thị Thu Hoài tại trung tâm Y học hạt
nhân và Ung bướu bệnh viện Bạch Mai cho biết tỉ lệ SDD theo phân loại SGA
là 46,7% và khẩu phần ăn của bệnh nhân UT có mức năng lượng trung bình
1327,8±494,6 Kcal/ngày và chỉ có 17,5% bệnh nhân UT đạt nhu cầu khuyến


19

nghị về năng lượng [58]. Năm 2017, nghiên cứu của Phan Thị Bích Hạnh tại
khoa Ung bướu và Chăm sóc giảm nhẹ - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội có
58,5% bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng hoặc suy dinh dưỡng vừa và
nặng (PG-SGA B và C).Như vậy, có thể thấy tại Việt Nam cũng đã có một số

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Sơ đồ nghiên cứu:
Bước 1: Xem lịch mổ tuần của bệnh nhân để biết ngày bệnh nhân nhập viện

Bước 2: Khi bệnh nhân nhập viện: cân, đo, phỏng vấn bệnh nhân, điều tra
khẩu phần khẩu phần 24h của ngày trước phẫu tuhật mở thông dạ dày, nồng
độ Albumin máu trước phẫu thuật.

Bước 3: Sau phẫu thuật, điều tra thực trạng nuôi dưỡng bệnh nhân bao gồm
nuôi dưỡng đường tĩnh mạch và đường tiêu hóa trong vòng 3 ngày sau phẫu
thuật, nồng độ prealbumin máu sau phẫu thuật, kết quả giải phẫu bệnh.

Bước 4. Ngày thứ 8 sau phẫu thuật, thu thập thông tin về: cân nặng, chu vi
vòng cánh tay. Các chỉ số hóa sinh liên quan trong thời gian nằm viện.


21

2.3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên bệnh nhân ung thư thực quản được phẫu
thuật mở thông dạ dày tại khoa Ngoại bụng Bệnh viện K cơ sở Tân Triều.
2.3.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là người trưởng thành từ 18 tuổi
trở lên .
- Đối tượng nghiên cứu được chẩn đoán ung thư thực quản có chỉ định
phẫu thuật.
- Đối tượng có thời gian nằm viện từ 7 ngày trở lên.
- Đối tượng có hồ sơ lưu trữ đầy đủ tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều.
- Đối tượng được giải thích đầy đủ và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu.
2.3.2. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu.

Biến số nghiên cứu

Định nghĩa

pháp thu
thập

Thôn
g

tin

Tuổi
Giới

chung Địa chỉ
Dân tộc
Trình

Tuổi ĐTNC (dương lịch)
Giới tính của đối tượng
Nơi ở thường trú (nông thôn/thành
phố, thị trấn, thị xã)
Dân tộc của ĐTNC
Tính theo trình độ học vấn cao nhất
độ của

ĐTNC

(Tiểu

23

Phương
Biến số nghiên cứu

Định nghĩa

pháp thu
thập

án
Ngày phẫu
thuật
Vị trí ung
thư

thực

quản
Giai đoạn
bệnh
Tỷ lệ SDD
theo phân
loại

BMI

và chu vi
vòng cánh
tay:


- Chu vi vòng cánh tay

Thu thập kết quả các chỉ số hoá sinh:
- Lympho đếm
- Hemoglobin
- Albumin

Thu

thập

từ hồ sơ
bệnh án

loại Được phân loại theo các bậc:
cơ - A: Dinh dưỡng tốt

dinh dưỡng - B: SDD vừa hoặc có nguy
theo

từ hồ sơ

PG- cơ SDD

Bộ câu hỏi
PG – SGA

Mục



ĐTNC

sau phẫu thuật.
Tỷ lệ % các chất sinh năng lượng
nuôi đường tiêu hoá ngày trước phẫu
thuật và 3 ngày sau phẫu thuật.
Dịch truyền nuôi dưỡng trong ngày
trước phẫu thuật và 3 ngày sau phẫu

Nuôi

thuật:

dưỡng
đường tĩnh
mạch
ĐTNC

của

- Loại dịch truyền
- Tỷ lệ thành phần và số lượng dịch
truyền.
Tỷ lệ % các chất sinh năng lượng
nuôi đường tĩnh mạch ngày trước
phẫu thuật và 3 ngày sau phẫu thuật.

2.6. Một số tiêu chuẩn đánh giá
2.6.1.Tiêu chí đánh giá các chỉ số nhân trắc học

 CED độ 2: 16 – 16,99 (gầy vừa).
 CED độ 3: < 16,0 (quá gầy).
 Chu vi vòng cánh tay (Mid upper Arm Circumference – MUAC):
Tiến hành đánh giá TTDD của bệnh nhân bằng cách so sánh kết quả thu
được với giá trị tham khảo tương ứng từ WHO. Xác định SDD khi giá trị thu
được ở nam giới < 24 cm và nữ giới < 23 cm được đánh giá là SDD. Bệnh
nhân sẽ được đo vào 1 ngày trước phẫu thuật và ngày thứ 8 sau phẫu thuật.

2.6.2. Phương pháp đánh giá dinh dưỡng PG-SGA (Patient – Generated
Subjective Global Assessment)
PG-SGA là một phương pháp đánh giá chủ quan toàn cầu được thực
hiện trên tất cả các khía cạnh bao gồm: giảm cân, khẩu phần ăn, giảm các
hoạt động và chức năng, tăng nhu cầu trao đổi chất (sốt, sử dụng corticoid)
và khám thực thể (bao gồm đánh giá teo cơ, mất lớp mỡ dưới da và phù, cổ
chướng):



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status