SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 TÌM HÌNH
ẢNH SO SÁNH TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA THỦY
Người thực hiện: Hàn Thị Thanh
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Thủy
SKKN thuộc lĩnh vực: Tiếng Việt
THANH HÓA, NĂM 2019
1
MỤC LỤC
Mục
Nôi dung
1
Mở đầu
1.1
Lý do chọn đề tài
1.2
Mục đích nghiên cứu
1.3
Đối tượng nghiên cứu
3
4
6
6
7
11
17
18
22
23
23
2
1. Mở đầu:
1.1. Lí do chọn đề tài:
Bậc Tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho
việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Môn Tiếng Việt nói chung
và phân môn Luyện từ và câu nói riêng có vị trí vô cùng quan trọng, là công cụ
giao tiếp và học tập, là loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm phương tiện thể
hiện đến đời sống tâm hồn con người, trong đó biện pháp tu từ so sánh góp phần
không nhỏ làm nên điều này. Khi viết văn hoặc làm thơ thiếu đi hình ảnh so sánh
thì câu văn, câu thơ trở nên khô cứng, không sống động. Đặc biệt khi viết văn,
thơ cho thiếu nhi các tác giả sử dụng rất nhiều hình ảnh so sánh để gây hứng thú
đọc cho các em. Thông qua hình ảnh so sánh giúp tâm hồn các em trong sáng
gần gũi với thiên nhiên , con người hơn.[7].
Mặt khác trong giai đoạn đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện
nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực chủ động sáng
tạo của học sinh giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức tự giác là yêu cầu cấp thiết
Dạy thực nghiệm học sinh lớp 3B.
Thu thập các tài liệu, tìm hiểu sách giáo khoa lớp 3, sách bài soạn và sách
hướng dẫn.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận:
Theo mục tiêu của môn Tiếng Việt lớp 3, chương trình Tiểu học mới được
xác định:
Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng việt (Nghe Nói - Đọc - Viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động cùng
lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học tiếng việt góp phần rèn các thao tác tư duy.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Vậy từ những mục tiêu trên của Tiếng Việt nói chung và phân môn “ Luyện
từ và câu" sẽ giúp các em trong khi nói hoặc viết biết sử dụng hình ảnh so sánh
sẽ gây được ấn tượng hơn, dễ nhớ hơn và bài văn sẽ hay, sẽ sinh động hơn.
Nhưng hiện nay ở lứa tuổi học sinh Tiểu học nói chung và ở trường tôi nói
riêng, cụ thể là các em học sinh lớp 3 bắt đầu được nhận biết và làm quen với “
Hình ảnh so sánh”. Vậy làm thế nào để học sinh tìm được những hình ảnh “ so
sánh”. Đó là một điều mà giáo viên trực tiếp giảng dạy phân môn Luyện từ và
câu cần phải quan tâm.
Nội dung chương trình:
Kiến thức lý thuyết về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương
trình lớp 3 ở phân môn: "Luyện từ và câu". Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3
để dạy về so sánh gồm các bài với các mô hình sau:
a) So sánh: Sự vật – Sự vật
Giáo viên gặp không ít khó khăn trong quá trình giảng dạy. Giáo viên chưa
thường xuyên sử dụng phương tiện dạy học trực quan. Một số bộ phận giáo viên
vẫn chưa có phương pháp dạy học phù hợp để khơi dậy sự hứng thú học tập và
sự tò mò của học sinh khi dạy phân môn luyện từ và câu nói chung và dạy về so
sánh nói riêng cho học sinh lớp 3.
Giáo viên chưa biết cách phân biệt cách dạy từng dạng bài cụ thể để học
sinh dễ hiểu, dễ nắm bắt kiến thức và có kỹ năng vận dụng. Vì vậy đòi hỏi người
giáo viên cần hướng dẫn một cách tỉ mỉ và phân loại các dạng bài tập để học
sinh không bị nhầm lẫn.
2.2.3. Thực trạng việc học của học sinh:
Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản,
trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật so sánh còn hạn chế. Một số học sinh
chưa phân biệt được các dạng bài tập để có cách giải quyết đúng đắn.
Qua những năm đã trực tiếp dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 3, tôi thấy
lớp tôi nhiều em còn lúng túng chưa biết tìm những “Hình ảnh so sánh” trong
những câu thơ, khổ thơ, bài thơ và những đoạn văn mà bài tập yêu cầu vì vậy
chất lượng học sinh hoàn thành còn thấp.
2.2.3. Nguyên nhân của thực trạng trên:
Khi các em bước vào bài học cần đến tư duy hình ảnh gợi tả, gợi cảm các
em đều lạ và thấy trìu tượng. Giáo viên cho đặt câu có hình ảnh so sánh là các
em chưa tìm được hình ảnh phù hợp. Vì vậy khi viết câu, nói câu có hình ảnh so
sánh là các em chưa tích cực, chưa mạnh dạn trình bày. Từ đó các dạng bài chưa
được hệ thống sâu sắc trong tư duy của các em.
*Từ những thực trạng tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về kỹ năng nhận biết
về biện pháp so sánh của học sinh lớp 3B – lớp tôi chủ nhiệm trong năm học
2018– 2019, kết quả cuối học kỳ I như sau:
Tổng số học sinh lớp 3B là 27 em:
5
Số lượng
13
Tỉ lệ %
48,2
Từ bảng phân tích số liệu trên và thực trạng công tác dạy và học cho thấy
số học sinh nhận biết về biện pháp so sánh còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy tôi
đi sâu nghiên cứu và tìm ra những biện pháp phù hợp để thực hiện hoàn thành
sáng kiến kinh nghiệm về : “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 tìm hình
ảnh so sánh trong phân môn luyện từ và câu”. Nhằm cung cấp cho các em
những hiểu biết và kỹ năng cơ bản để làm bài tập. Ngoài ra còn giúp học sinh
bước đầu cảm thụ văn học, cảm nhận được cái hay, cái đẹp của một số câu văn,
câu thơ tạo tiền đề cho các em học tốt môn Tiếng Việt ở các lớp trên.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Tạo hứng thú cho học sinh khi học phân môn Luyện từ và câu.
- Trong những giờ nghỉ giải lao hoặc trong các buổi sinh hoạt ngoại khoá,
trong các bài Tập đọc, giờ học Toán... tôi sưu tầm những câu chuyện có nói đến
tác dụng của phép so sánh, những đoạn văn, khổ thơ có những hình ảnh so sánh
đẹp kể và đọc cho các em nghe.
Ví dụ: Câu chuyện xưa nói về vua Ngu Vương và Huệ Tử – một người ăn
nói rất giỏi. Nhờ tài giỏi ví von, so sánh Huệ Tử đã thoát chết, được vua Ngu
Vương trọng dụng và hậu thưởng.
(Sưu tầm trong báo Văn học và Tuổi trẻ – Số 152 tháng 12, năm 2007)
Ngoài ra, tôi còn yêu cầu các em thi đua sưu tầm những câu thơ, câu văn ,
câu ca dao, tục ngữ có hình ảnh so sánh hay phù hợp nội dung buổi ngoại khoá
để cho các em thi nhau đọc.
Khi dạy các phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt , giáo viên cần lồng ghép
nguyên tắc “coi học sinh là chủ thể luyện tập” tôn trọng cái “tôi” của các em.
Bên cạnh những việc làm trên, tôi còn tổ chức nhiều trò chơi học tập để thay đổi
không khí lớp học để giúp các em hiểu kĩ hơn các loại hình bài tập về biện pháp
tu từ so sánh. Nhờ vậy giờ học trở nên nhẹ nhàng, sinh động và rất hiệu quả bởi
nó phù hợp với tâm lí lứa tuổi của các em.
- Trong mỗi giờ dạy tôi thường xuyên sử dụng các thiết bị dạy học, sưu tầm
thêm tranh, ảnh, vật thực làm cho tiết dạy thêm sinh động, hiệu quả.
Từ những việc làm trên, tôi đã dần giúp các em yêu thích môn Tiếng Việt
đặc biệt là với phân môn Luyện từ và câu.
2.3.2. Hướng dẫn học sinh xác định hình ảnh so sánh trong thơ, văn.
- Dạng bài tập tìm các hình ảnh so sánh là dạng bài tập khá phổ biến khi
học về biện pháp tu từ so sánh. Các hình ảnh so sánh có thể là một dòng thơ hay
nhiều dòng thơ; có thể là một câu văn hoặt một phần của câu văn. Ngoài việc
tìm các hình ảnh so sánh, bài tập còn yêu cầu học sinh chỉ ra các từ so sánh.
- Trong thực tế, do chưa nắm chắc được đặc điểm của hình ảnh so sánh
gồm những yếu tố nào nên khi tìm hình ảnh so sánh học sinh thường xác định
không chính xác. Trong một số trường hợp, khi gặp các câu văn, các dòng thơ có
các từ: là, như, bằng, tựa, giống... thì học sinh đều cho là các từ chỉ sự so sánh
nên xác định sai các hình ảnh so sánh. Bởi vì, trong những văn cảnh khác nhau
thì các từ: là, như, bằng, tựa, giống... có thể là từ dùng để so sánh hoặc có thể
không phải là từ dùng để so sánh.
Ví dụ:
a. Vườn nhà bà trồng nhiều loại rau như: cải xanh, mướp, mồng tơi...
b. Trẻ em như búp trên cành.
Trong hai câu trên thì câu: Trẻ em như búp trên cành. là câu văn có hình
ảnh so sánh.
Vì vậy, khi dạy về dạng bài tập tìm hình ảnh so sánh tôi đã tiến hành như
sau:
2.1. Hướng dẫn học sinh nắm được đặc điểm của một hình ảnh so sánh:
Ví dụ: Tìm các hình ảnh so sánh trong câu văn dưới đây:
Khi đã nhận biết được đặc điểm của hình ảnh so sánh, trong các bài tập
khác học sinh sẽ sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp để tìm các hình ảnh so
sánh.
Ví dụ: Tìm hình ảnh so sánh trong những khổ thơ sau:
a.
Em yêu nhà em
Hàng xoan trước ngõ
Hoa xao xuyến nở
Như mây từng chùm.
(Bài tập 1b trang 24, Tiếng Việt 3 - Tập 1)
Học sinh sẽ phân tích:
+ Từ dùng để so sánh: như.
+ Vế thứ nhất: Hoa xao xuyến nở gồm có: hoa (xoan) là sự vật, xao
xuyến nở là đặc điểm.
+ Vế thứ hai: mây từng chùm gồm có: mây là sự vật, từng chùm là đặc
điểm.
Học sinh sẽ tổng hợp hình ảnh so sánh là: Hoa xao xuyến nở như mây
từng chùm.
b. Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát
vàng.
(Bài tập 1d trang 25, Tiếng Việt 3 - Tập 1)
Học sinh sẽ phân tích:
+ Từ dùng để so sánh là từ: là
8
+ Vế thứ nhất: dòng sông
+ Vế thứ hai: một đường trăng lung linh dát vàng gồm có: đường trăng
là sự vật, lung linh dát vàng là đặc điểm của sự vật.
Học sinh sẽ tổng hợp hình ảnh so sánh là: dòng sông là một đường trăng
- Trường hợp 1: Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu
thơ dưới đây:
Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao.
Đêm hè, hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.
(Bài tập 3 trang 43, Tiếng Việt 3 - Tập 1)
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tìm ra hai hình ảnh so sánh là:
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao.
9
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.
Đây là trường hợp dùng từ gạch ngang thay thế cho từ dùng để so sánh.
Khi đọc phải ngắt giọng chỗ gạch ngang.
- Trường hợp 2: Ở hai hình ảnh so sánh sau:
Trường Sơn: chí lớn ông cha.
Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào
Đây là trường hợp dùng dấu hai chấm thay thế cho từ dùng để so sánh.
Khi đọc phải ngắt giọng chỗ dấu hai chấm.
- Trường hợp 3: Tay em đánh răng
Răng trắng hoa nhài.
Đây là trường hợp giữa hai vế của hình ảnh so sánh không có bất cứ dấu
hiệu nào (thường dành cho học sinh khá giỏi).
Ở cả ba trường hợp trên, khi tìm hình ảnh so sánh, giáo viên khuyến
khích các em có thể thêm vào những câu chưa có từ so sánh (mà có dấu gạch
nối, dấu hai chấm,..) nhiều từ cùng nghĩa khác: như, như là, như thể, tựa,...mà
không làm nội dung câu đó thay đổi.
Ví dụ: Tàu dừa như chiếc lược chải vào mây xanh.
Giáo viên khuyến khích học sinh có thể tìm thêm từ chỉ đặc điểm và từ
rằng ai cũng nhận ra nó đều cong cong như nhau. Tuy nhiên biện pháp so sánh
vẫn gợi cho các em sự thích thú bởi sự khám phá mới lạ. Cái mới lạ này tồn tại
ngay trong những sự vật vô cùng quen thuộc. Vì thế các rất dễ nhớ, dễ hiểu.
Đối với các bài tập này giáo viên có thể đưa ra các hình ảnh minh họa về dấu
hỏi và vành tai chắc chắn học sinh rất thích thú.
11
Ví dụ 3: Bài tập 2/ 65( Sách nâng cao)
Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu dưới đây. Các sự vật
trong từng cặp so sánh có điểm gì giống nhau (Ghi vào bảng dưới đây)
a. Sương trắng viền quanh núi
Như một chiếc khăn bông.
b. Trăng ơi…từ đâu đến
Hay biển xanh diệu kì
Trăng tròn như mắt cá
Chẳng bao giờ chớp mi.
c. Bà em ở làng quê
Lưng còng như dấu hỏi.
Sự vật 1
Sự vật 2
Dấu hiệu chung
a. Sương trắng viền quanh núi chiếc khăn bông. Thành một dải, có màu
trắng xốp
b. Trăng
Mắt cá
Tròn
c. Lưng
Dấu hỏi
xung quanh.
Ví dụ 1: Tìm những hình ảnh so sánh trong các câu thơ dưới đây:
a. “ Bố là tàu hỏa
Bố là xe hơi
Bố là con thuyền
Con vẽ con chơi
Bố là dòng sông
Cho con gợn sóng
Bố là sông rộng
Cho thuyền con bơi…”
b. Mẹ về như nắng mới
Sáng ấm cả gian nhà
c. Ba là ngọn nến vàng
Mẹ là cây nến xanh
Con là cây nến hồng
Ba ngọn nến lung linh.
Ví dụ 2: Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu thơ dưới đây:
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan
(Hồ Chí Minh)
Bà như quả ngọt chín rồi
Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng
( Võ Thanh An)
13
Với dạng bài tập này học sinh sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con người
nhưng các em chưa giải thích được vì sao lại so sánh như vậy. Chính vì thế, tôi
giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:
Đối với con cái thì cha mẹ thật lớn lao. Cha mẹ luôn luôn che chở cho con
như…………………………………………….
c. Tiếng chân chạy
như……………………………………………………………….
Dạng 4: So sánh các đặc điểm với nhau:
Ví dụ 1: Trong các câu thơ sau các sự vật được so sánh với nhau về đặc điểm
nào?
a. Rồi đến chị rất thương
Rồi đến em rất thảo
Ông hiền như hạt gạo
Bà hiền như suối trong
14
( Trúc Thông)
b. Cam xã đoài mọng nước
c. Giọt vàng như mật ong
( Phạm Tiến Duật)
( TV3, T1, trang 17)
Dạng 5: So sánh hoạt động với hoạt động:
Ví dụ 1: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau:
a. Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đập đất.
( Trần Đăng Khoa)
b. Cau cao cao mãi
Tàu vươn giữa trời
Như tay ai vẫy
Hứng làn mưa rơi
( Ngô Viết Dinh)
Tranh 4: Hình dáng của nước ta cong cong như hình chữ s.
Ví dụ 2: Tìm những từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống:
a. Công cha nghĩa mẹ được so sánh như………………..
b. Trời mưa, đường đất sét trơn như……………………
c. Ở thành phố có nhiều tòa nhà cao như……………….
Ví dụ 3: Hãy so sánh mỗi sự vật sau với mỗi sự vật khác để tăng vẻ đẹp:
a. Đôi mắt bé tròn như………………………….
b. Bốn chân của chú voi to như………………….
c. Trưa hè tiếng ve như………………………….
2.3.4. Hướng dẫn học sinh làm bài tập tìm từ ngữ thích hợp điền vào chỗ
trống hoặc đặt câu để tạo thành hình ảnh so sánh.
* Đặc điểm của dạng bài tập tìm từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống là
cho trước một vế câu và từ chỉ sự so sánh, học sinh cần điền tiếp vào vế thứ hai
các sự vật, âm thanh, đặc điểm hay hoạt động của sự vật để tạo thành hình ảnh
so sánh hoàn chỉnh. Một lỗi khá phổ biến mà học sinh thường gặp phải là các sự
vật, âm thanh, đặc điểm hay hoạt động của sự vật mà học sinh điền thêm không
đúng do các em chưa nắm được đặc điểm của các sự vật được so sánh với nhau
phải có một dấu hiệu chung nào đó.
16
Để khắc phục vấn đề này, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh thực
hiện dạng bài tập theo 4 bước như sau:
- Bước 1: Tìm hiểu xem bài đã cho biết gì, còn thiếu gì?
- Bước 2: Phân tích các yếu tố của những vế đã cho biết: sự vật được so
sánh, âm thanh, đặc điểm hay hoạt động của sự vật và từ chỉ sự so sánh,
- Bước 3:
+ Nếu trong vế đã cho biết được âm thanh, đặc điểm hay hoạt động của sự
vật thì học sinh phải tìm sự vật dùng để so sánh cũng có dấu hiệu chung (âm
Tiếng suối
Tiếng hát
Đôi mắt
Vì sao
Luật chơi: Chia lớp thành 4 hoặc 6 nhóm. Các nhóm đảo lộn, xếp các thẻ từ
màu đỏ một dãy úp xuống hoặc để ngửa, xếp các thẻ chữ màu xanh một dãy để
sấp. Lần lượt các thành viên trong nhóm lật thẻ, một thẻ màu đỏ, một thẻ màu
xanh. Nếu cặp thẻ đó tạo thành một cặp từ so sánh thì thành viên đó nhận được
một cặp thẻ. Hết thời gian ai giành được nhiều thẻ thì thắng cuộc.
Trò chơi: Tiếp sức
17
- Chuẩn bị: Các thẻ hoặc viết bảng phụ các từ như trên.
- Luật chơi: Chia lớp thành hai đội, mỗi đội 4 – 6 thành viên. Các thành viên
trong đội lần lượt lên bảng nối các từ ngữ để tạo thành một hình ảnh so sánh.
Hết thời gian đội nào nối đúng, nhanh thì thắng cuộc.
Trò chơi: Tìm từ cho hình ảnh:
- Chuẩn bị: Các hình ảnh như: Mặt trăng, mặt trời, bông hoa, đôi mắt,…..
- Luật chơi: Chia lớp thành các nhóm, phát cho mỗi nhóm một hình ảnh: Mặt
trăng, mặt trời, bông hoa, đôi mắt,…..Nhiệm vụ của các nhóm là tìm những hình
ảnh so sánh cho những sự vật được phát. Hết thời gian nhóm nào tìm được nhiều
từ thì nhóm đó thắng cuộc.
- Các nhóm có thể trình bày như sau:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa.
Ông hiền như hạt gạo.
Chạy nhanh như gió thổi.
- Luật chơi: GV phát cho mỗi học sinh thẻ có hình ảnh so sánh. Cứ 5 học sinh
mang thẻ có tên 5 nhóm. 5 học sinh giơ cao thẻ có tên nhóm, học sinh trong lớp
phải xem mình ở nhóm nào và phải về vị trí của nhóm đó. Bạn nào sai sẽ bị
phạt.
- Đối với tạo nhóm, các em về nhóm có tên phù hợp với hình ảnh so sánh của
mình.
* ĐỀ KIỂM TRA KHẢO SÁT
(Thời gian 40 phút)
Câu 1 (trang 43 sách giáo khoa Tiếng Việt 3):
Tìm những hình ảnh so sánh trong các khổ thơ sau:
a) Bế cháu ông thủ thỉ:
Cháu khỏe hơn ông nhiều!
Ông là buổi trời chiều
Cháu là ngày rạng sáng.
b) Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
Câu 2 : Ghi lại các từ so sánh trong những khổ thơ trên câu 1:
Câu 3. Chọn từ trong ngoặc đơn điền vào chỗ chấm để câu văn có hình ảnh
so sánh. (cái ô, mái nhà, cái lá)
Tán bàng xòe ra giống như….
Câu 4. Những câu nào dưới đây có hình ảnh so sánh:
A. Những Chú Gà Con chạy như lăn tròn.
B. Những Chú Gà Con chạy rất nhanh.
C. Những chú gà con chạy tung tăng.
sinh
27
Số học sinh có kỹ năng
nhận biết biện pháp so
sánh tốt
Số lượng
8
Tỉ lệ %
29,6
Số học sinh có kỹ năng
nhận biết biện pháp so
sánh đạt yêu cầu
Số lượng
15
Tỉ lệ %
55,6
Số học sinh còn nhầm lẫn
khi nhận biết về biện pháp
so sánh
Số lượng
4
Việc dạy học cho học sinh lớp 3 biết sử dụng câu văn có hình ảnh so sánh
là tạo cho các em có nền móng tốt lên lớp trên. Vì vậy cần chú ý khen thưởng,
động viên kịp thời cho các em tạo điều kiện tốt hơn để các em say mê học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Nga Thủy , ngày 10 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết:
Hàn Thị Thanh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Sách giáo khoa Tiếng việt lớp 3 - Nhà xuất bản giáo dục
Vở bài tập Tiếng việt lớp 3 - Nhà xuất bản giáo dục
Sách giáo viên Tiếng việt lớp 3 - Nhà xuất bản giáo dục
Thiết kế giảng dạy Tiếng việt lớp 3 - Nhà xuất bản giáo dục.
Sách Tiếng việt nâng cao lớp 3 - Nhà xuất bản giáo dục.
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học lớp 3 - Nhà
xuất bản giáo dục
Năm học
đánh giá
xếp loại
2012 -2013
Huyện
B
2014- 2015
2
22
3
Rèn kỹ năng sống
cho HS lớp 3 thông
qua môn Đạo đức
Huyện
C
2015- 2016
23