1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong công tác giảng dạy, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ
trọng tâm mà ngành giáo dục đã chỉ đạo thực hiện. Đây là công tác giúp cho nhà trường
và ngành giáo dục phát hiện những nhân tài, bồi dưỡng những nhân tài đó, tạo mầm
giống tương lai cho đất nước. Việc làm đó sẽ thổi một làn gió mới vào tâm hồn các em,
giúp cho các em có phương hướng, ý trí, nghị lực, niềm tin để học tập, rèn luyện bản
thân tốt hơn. Ngoài ra các em cũng định hướng nghề nghiệp cho bản thân trong tương
lai một các phù hợp. Chính vì vậy, nó là thử thách đối với những người làm nghề dạy
học. Trong những năm gần đây công tác ôn luyện và bồi dưỡng học sinh giỏi đang
được các cấp, ban ngành đặc biệt quan tâm, thể hiện qua các kỳ thi học sinh giỏi
được tổ chức thường xuyên hàng năm đối với khối lớp 8 và lớp 9 ở trường trung
học cơ sở. Chất lượng mũi nhọn là một trong những tiêu chí rất quan trọng để đánh
giá chất lượng của mỗi trường, tuy nhiên trong các kỳ thi học kỳ, thi học sinh giỏi
cho thấy kết quả đạt chưa cao và chưa có tính bền vững. Xác định công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chuyên môn nhà
trường, góp phần khẳng định chất lượng giáo dục và uy tín của giáo viên đứng lớp
cũng như uy tín của nhà trường, chính vì thế trong quá trình giảng dạy và ôn luyện
tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu, tự nâng cao kiến thức và phương pháp giảng dạy bộ
môn để gây hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh, nhất là công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi sao cho đạt hiệu quả. Bằng những kinh nghiệm của mình qua quá
trình giảng dạy và những kết quả các em học sinh trường THCS Thiệu Vân đã đạt
được trong các kì thi học sinh giỏi những năm vừa qua, tôi mạnh dạn trình bày sáng
kiến “Một số kinh nghiệm chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 8, lớp 9
ở trường THCS Thiệu Vân, Thành phố Thanh Hóa” nhằm nâng cao chất lượng bồi
dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 8,9 ở trường THCS Thiệu Vân.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra một số biện pháp, giải pháp thích hợp cho
công tác chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử nhằm mang lại kết quả tốt nhất.
Đồng thời còn góp phần khơi dậy ý thức tự giác, lòng say mê và ý trí vươn lên trong
học tập của học sinh, qua đó nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường
bày, cùng trao đổi thêm kinh nghiệm với đồng nghiệp, từ đó tìm ra phương pháp tốt hơn
trong ôn luyện để nâng cao chất lượng bộ môn, thu hút nhiều học sinh yêu thích môn
lịch sử.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Môn lịch sử vốn có vị trí quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, nó không
chỉ cung cấp kiến thức mà còn có tác dụng về tình cảm, phẩm chất đạo đức, quan điểm
chính trị về nhận thức tư tưởng và khả năng hành động. Thế nhưng trong nhiều năm qua
chất lượng học tập môn lịch sử ngày càng giảm sút. Những năm gần đây trên các
phương tiện thông tin đại chúng và trong thực tế ở nhiều trường cho chúng ta thấy trong
các kì thi phổ thông trung học và đại học có rất nhiều điểm 0 môn lịch sử, thậm trí số
lượng học sinh đăng kí tham gia thi môn lịch sử rất ít so với các môn học khác. Đồng
thời do xu thế phát triển của xã hội hiện nay đã tạo tâm lý cho đa phần học sinh và kể cả
phụ huynh thường xem môn lịch sử là môn phụ, môn học thuộc, không phải là môn
tuyển sinh vào lớp 10 nên ít quan tâm đến. Thậm chí có nhiều học sinh rất giỏi về môn
lịch sử nhưng không chọn môn lịch sử là mục tiêu học tập, hoặc khi các em lựa chọn thì
gặp phải sự ngăn cản của cha mẹ. Điều này đã tạo khó khăn lớn đối với quá trình chọn
và ôn đội tuyển học sinh giỏi về môn lịch sử, bởi vì hầu hết các em chọn các môn khoa
học tự nhiên và tiếng Anh, khi nào các môn khác chọn hết thì các em mới đi môn lịch
sử. Chính vì vậy, thầy cô phải lựa chọn những học sinh ôn đội tuyển học sinh giỏi
không theo ý muốn của mình. Đây chính là nguyên nhân chính, dẫn đến kết quả thi của
các em chưa cao, dù cho giáo viên nhiệt tình, tích cực mà không được học sinh ủng hộ
thì tất cả đều không có tác dụng. Qua nhiều năm bản thân tôi được phân công ôn đội
tuyển cho thấy năm nào học sinh phối hợp tốt với giáo viên thì kết quả cao và ngược lại.
Bên cạnh đó, các em trong đội tuyển chưa đầu tư nhiều thời gian cho môn mình được
chọn ôn, bởi vì các em vừa phải đảm bảo chất lượng của các môn học, vừa phải ôn
chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi nên rất hạn chế về thời gian ôn.
2
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
năng như vậy là tiêu chí quan trọng khi chọn HSG cho bộ môn.
Ngoài ra việc lựa chọn và phát hiện HSG bộ môn lịch sử cần phải lựa chọn các em
HS nắm vững được kiến thức cơ bản trong chương trình phổ thông đã học và những
kiến thức mở rộng liên hệ phù hợp với điều kiện thực tế ở quê hương, đất nước. Đây
cũng là một khả năng cần thiết cho việc học tốt môn lịch sử.
2.3.1.2. Qua các tiết kiểm tra viết
Thông qua các tiết kiểm tra viết để phát hiện học sinh có khả năng hiểu lịch sử và
giải quyết vấn đề nhanh, đúng bản chất sự kiện, vấn đề lịch sử của đề ra. Trong bài viết
của các em, tôi đặc biệt chú ý những bài làm có khả năng thể hiện rõ ở việc xác định
3
đúng kiến thức trong đề, biết dùng lời văn, dùng các dạng câu để trình bày, lập luận
logic, có sự sáng tạo kết hợp với chữ viết đẹp, rõ ràng và nghiêm túc khi làm bài. Khi
trả bài kiểm tra tôi thường nêu gương những học sinh đạt điểm cao để khích lệ tinh thần
học tập ở các em.
2.3.1.3. Thông qua kết quả học tập của HS ở các lớp dưới
Trong quá trình dạy đại trà, tôi đã theo dõi các em ngay từ lớp 6, 7. Bản thân tôi là
GV duy nhất giảng dạy bộ môn lịch sử nên 4 năm giảng dạy các em liên tục (từ lớp 6
đến lớp 9) là cơ hội để tôi có thể đánh giá, nắm bắt được khá sát từng đối tượng HS.
Hoặc căn cứ vào điểm số hoặc kết quả thi của năm trước, nhất là điểm thi qua các kì thi
mà các em trải qua, đánh giá một cách nghiêm túc và trung thực, điểm số không phải là
cơ sở và căn cứ chủ yếu càng không phải là điều kiện quyết định để lựa chọn học sinh
có năng khiếu nhưng nó vẫn là kết quả trực quan ban đầu để đánh giá và đưa các em
vào đội tuyển.
2.3.1.4. Tìm hiểu qua giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi, quan tâm sát sao nhất với học sinh của lớp
mình chủ nhiệm, họ có thể hiểu rõ về năng lực học tập, khả năng tiếp thu tri thức, tính
tình, hoàn cảnh... của các em học sinh, vì vậy cho nên khi tham khảo ý kiến của GV chủ
nhiệm, chúng ta sẽ có thêm nhiều thông tin hiểu biết để lựa chọn HS có hiệu quả hơn.
có năng khiếu, có kiến thức về lịch sử thường có hứng thú tham gia hơn những HS
khác, chất lượng thực hiện các hoạt động của những HS này cũng hơn hẳn những HS
khác.
Hoạt động hướng nghiệp, giúp các em HS định hướng tương lai, nghề nghiệp cho
bản thân. Khi thực hiện GV nhắm việc lựa chọn HSG vào những HS có xu hướng nghề
nghiệp sau này gắn bó với các môn xã hội, bởi đây là nền tảng đầu tiên để tạo dựng
lòng đam mê, sự quyết tâm theo đuổi học tập lịch sử của HS.
Những buổi ôn tập hay làm bài tập trên máy chiếu, thời gian còn lại, GV có thể tổ
chức cho HS chơi giải đáp ô chữ, tìm nhân vật lịch sử, hay chiếu các đoạn phim tư liệu
cũng có tác dụng gây hứng thú học tập ở các em.
2.3.1.5. Trực tiếp gặp các em
Mục đích gặp các em là để tìm hiểu tâm lý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, tinh
thần tự giác trong học tập, có cảm giác an tâm, thoải mái, giới thiệu các em tham gia
vào đội tuyển để bồi dưỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, định hướng nghề nghiệp
cho các em trong tương lai.
Trong những năm học gần đây việc lựa chọn học sinh giỏi môn lịch sử được tôi
lựa chọn linh hoạt qua cách đã nêu trên, nhưng dù ở cách nào thì tôi vẫn đặt ra các tiêu
chuẩn cần có ở học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi phải là những học sinh có trí
thông minh, tinh thần tự chủ, tiếp thu nhanh kiến thức, có niềm say mê và yêu thích học
môn lịch sử, có năng lực tư duy tốt ở mọi khía cạnh của kiến thức, có khả năng nhớ lâu,
khả năng suy diễn, giải quyết xử lý tình huống linh hoạt và hiệu quả cao, là những em
có ý thức trong học tập, có ý trí vươn lên để đạt được kết quả cao. Việc phát hiện và
tuyển chọn học sinh vào đội tuyển ôn thi học sinh giỏi môn lịch sử lớp 8 và lớp 9 dự thi
học sinh giỏi cấp thành phố như vậy tôi thấy rất có hiệu quả.
2.3.2. Xây dựng khung chương trình và đề cương bồi dưỡng học sinh giỏi.
Đối với lớp bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử việc giáo viên lựa chọn kiến thức để
xây dựng khung chương trình và lập đề cương ôn tập là công việc bắt buộc, góp phần
quyết đinh chất lượng ôn tập và kết quả thi học sinh giỏi của các em. Để có khung
chương trình và bộ đề ôn tập tốt, đầy đủ tôi đã dựa vào:
- Kế họach, khung chương trình thi học sinh giỏi khối lớp 8 và lớp 9 của phòng
thức, chương trình bộ môn, cấu trúc đề thi các năm học trước mà phòng giáo dục đã tổ
chức, tôi đã xây dựng đề cương ôn tập cho các em ôn khối lớp 8 và lớp 9 cấp thành phố
như sau:
Riêng phần kiến thức lịch sử lớp 6 và lớp 7 tôi hướng dẫn cho các em tự học ở nhà
là chính, để qua đó các em có nền tảng kiến thức trọng tâm để tiếp thu một cách logic
với kiến thức lịch sử lớp 8 và lớp 9. Trong đề cương bồi dưỡng tôi biên soạn chủ yếu là
kiến thức lịch sử lớp 8 và lớp 9 theo chương trình học mà phòng giáo dục đưa ra. Cấu
trúc đề cương gồm: kiến thức trọng tâm - câu hỏi và bài tập nâng cao, cụ thể như sau :
* Lớp 8 : Những kiến thức trọng tâm theo chủ đề mà học sinh cần nắm :
Thứ nhất: Phần lịch sử thế giới cận đại từ giữa TK XVI đến 1917.
Chủ đề 1: Cách mạng tư sản và sự xác lập của chủ nghĩa tư bản (từ giữa TK XVI đến
nửa sau TK XIX).
- Những chuyển biến lớn về kinh tế, chính trị, xã hội châu Âu trong các TK XVI –
XVII.
- Cách mạng Hà Lan: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử.
6
- Cách mạng tư sản Anh TK XVII: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử và
hạn chế của cách mạng tư sản Anh.
- Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ, sự ra đời của Hợp chủng
quốc Hoa Kì.
Chủ đề 2: Các nước Âu - Mĩ cuối TK XIX - đầu TK XX.
- Công xã Pa-ri: Nguyên nhân, diễn biến của công xã, một số chính sách quan trọng
của công xã, ý nghĩa lịch sử của công xã.
- Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ cuối TK XIX - đầu TK XX
+ Sự phát triển về kinh tế.
+ Những đặc điểm về chính trị, xã hội.
+ Chính sách bành trướng, xâm lược và tranh giành thuộc địa của các nước.
- Phong trào độc lập dân tộc ở châu Á (1918 – 1939)
Chủ đề 4 : Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945)
Nguyên nhân, diễn biến, kết cục của cuộc chiến tranh.
Thứ ba, Phần lịch sử Việt Nam từ 1858 đến năm 1918
Chủ đề 1: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1884).
- Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược.
- Âm mưu và quá trình xâm lược của thực dân Pháp.
- Các cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Kì.
- Âm mưu xâm lược Bắc kì của thực dân Pháp.
- Sự chống trả quyết liệt của quân dân Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì.
- Nội dung của các hiệp ước : Nhâm Tuất(1862), Giáp Tuất (1874), Hác – măng
(1883), Pa – tơ – nốt(1884).
- Những đề nghị cải cách duy tân ở Việt Nam nửa cuối TK XIX.
Chủ đề 2: Phong trào kháng Pháp trong những năm cuối TK XIX (từ sau năm 1885).
- Cuộc phản công của phái chủ chiến ở kinh thành Huế (1885).
- Những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cần Vương: cuộc khởi nghĩa
Hương Khê (thời gian, người lãnh đạo, diễn biến, kết quả, ý nghĩa).
- Phong trào nông dân Yên Thế (thời gian, người lãnh đạo, diễn biến, kết quả, nguyên
nhân thất bại, ý nghĩa).
Chủ đề 3: Xã hội Viêt Nam trong những năm cuối TK XIX đầu TK XX.
- Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam: mục đích, kế
hoạch, nội dung, cách tiến hành.
- Những chuyển biến về kinh tế: xuất hiện đồn điền, mỏ, cơ sở sản xuất công nghiệp
nhẹ, đường sắt.
- Những chuyển biến về xã hội, sự ra đời các giai cấp, tầng lớp mới: công nhân, tư
sản, tiểu tư sản.
Chủ đề 4: Phong trào yêu nước chống Pháp trong những năm đầu TK XX đến năm
1918.
- Mục đích, tính chất, hình thức của phong trào yêu nước Việt Nam đầu TK XX.
- Nguyên nhân, diễn biến của phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, cuộc vận
và cuộc cách mạng nhân dân.
Chủ đề 3: Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu từ năm 1945 đến nay
- Nước Mĩ: Sự phát triển của khoa học – kĩ thuật, kinh tế ; chính sách đối nội, đối
ngoại sau chiến tranh.
- Nhật Bản: Sự khôi phục và tăng trưởng nhanh về kinh tế; chính sách đối nội, đối
ngoại sau chiến tranh.
- Tây Âu: Tình hình chung, sự liên kết khu vực.
Thứ hai: Phần lịch sử Việt Nam từ 1919 đến năm 1925
+ Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp trong các lĩnh vực:
nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, tài chính, thuế.
+ Sự biến đổi về mặt kinh tế, xã hội của đất nước ta trong những năm 1919 – 1929
+ Các hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài từ 1919 đến 1925, ý nghĩa và
tác dụng của những hoạt động đó.
* Phần lịch sử địa phương (dùng chung cho cả lớp 8 và lớp 9):
- Lớp 6: + Thanh Hóa thời tiền sử và thời dựng nước.
9
+ Thanh Hóa thời kì chống phương Bắc đô hộ.
- Lớp 7:
+ Thanh Hóa trong thời kì hình thành và phát triển của nhà nước Đại Việt thời
Lý - Trần.
+ Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa (1418 – 1423).
- Lớp 8: Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Thanh Hóa từ cuối TK
XIX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất.
Đề cương phải biên soạn ngắn gọn, súc tích, nêu bật được trọng tâm của vấn đề.
Trong quá trình bồi dưỡng, GV dựa vào đó để mở rộng phân tích, dẫn chứng để làm rõ
bản chất của vấn đề. Cùng với đề cương chi tiết là hệ thống các câu hỏi, bài tập nâng
cao, các dạng đề thường gặp để HS tham khảo và có thể tự kiểm tra kiến thức của mình
Câu 10: Cánh mạng tư sản Pháp có tác dụng tích cực và hạn chế như thế nào đối
với sự phát triển của lịch sử ?
Hoặc trong phần lịch sử lớp 9 mỗi chủ đề giáo viên cũng đưa ra các câu hỏi, bài
tập cho học sinh làm như :
- Phần lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 đến nay
Chủ đề 1: Liên Xô và các nước Đông Âu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Câu hỏi:
- Nêu những thành tựu chính trong công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô từ 1945 đến
nửa đầu TK XX.
- Quá trình khủng hoảng và tan rã của Liên Xô và các nước Đông Âu? Phân tích
nguyên nhân dẫn đến sự tan rã đó?
- Vai trò quốc tế của Liên Xô từ 1945 đến 1991.
- Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu có phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã
hội không? Vì sao?
Chủ đề 2: Các nước Á, Phi, Mĩ la-tinh từ 1945 đến nay
Câu 1: Lập bảng thống kê về các nước Đông Nam Á theo mẫu sau:
STT
Tên nước
Thủ đô
Tªn níc
x©m lîc,
phô thuéc
Thời gian
độc lập
Mức độ giành độc lập
Sự phát triển kinh tế
sau khi giành độc lập
Chủ đề 3: Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu từ năm 1945 đến nay
Câu hỏi: Lập bảng thống kê những nội dung chính theo mẫu sau:
Nội dung
Mĩ
Nhật Bản
Tây Âu
Hoàn cảnh
Kinh tế từ 1945 đến
1950
Kinh tế từ 1950 đến
những năm 70 của
TKXX
Đối nội
Đối ngoại
Chủ đề 4: Quan hệ quốc tế từ 1945 đến nay
Câu hỏi:
- Những nhiệm vụ chính của Liên hợp quốc là gì? Nêu những việc làm của Liên hợp
quốc giúp nhân dân Việt Nam mà em biết.
- Nêu các xu thế phát triển của thế giới ngày nay. Thời cơ, thách thức của các nước khi
bước vào TK XXI. Nhiệm vụ to lớn của nhân dân ta là gì?
Chủ đề 5: Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật từ 1945 đến nay
Câu hỏi: Lập bảng thống kê những nội dung theo mẫu sau :
Nguồn gốc
sử, tùy vào tình hình thực tế cụ thể, GV đưa ra kế hoạch bồi dưỡng cho phù hợp. Ví dụ:
Nội dung ôn
Số tiết
Thời gian ôn
- Các nước Á, Phi, Mĩ la-tinh từ 1945
15
đến nay
Vào các buổi chiều thứ 5, thứ
- Mĩ, Nhật Bản, Tây Âu từ năm 1945
7 theo lịch học của nhà
15
đến nay
trường
- Quan hệ quốc tế từ 1945 đến nay
5
2.3.4. Hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ Lịch sử.
Để ghi nhớ sự kiện, niên đại, nhân vật lịch sử chúng ta có nhiều biện pháp, là giáo
viên giảng dạy môn lịch sử qua quá trình dạy học nhiều năm, bản thân tôi luôn trăn trở
và đã rút ra một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh ghi nhớ lịch sử một cách chắc chắn
và lâu dài nhất, cụ thể như sau :
- Biết xâu chuỗi các sự kiện là cách nhớ lâu môn lịch sử: Khi học môn lịch sử
không ít học sinh cảm thấy chán nản, mệt mỏi vì có quá nhiều sự kiện phải nhớ, rất
nhiều em bị nhầm từ sự kiện này sang sự kiện khác. Chính vì thế khi học đến một sự
kiện lịch sử nào, các em cần đọc hiểu kĩ và nắm rõ về các mốc thời gian, nhân vật. Sau
mỗi sự kiện học được các em nên vẽ một sơ đồ biểu diễn các sự kiện cụ thể. Như vậy
các em sẽ dễ nhớ hơn rất nhiều. Bên cạnh đó học sinh nên tổng kết lại kiến thức mỗi bài
học được theo bảng. Bảng kiến thức ngắn gọn sẽ giúp các em bao quát tất cả các phần
kiến thức quan trọng.
13
sử không bị khô khan thì các em có thể liên hệ với thực tế. Lấy ví dụ minh họa sinh
động, thăm quan di tích lịch sử, xem phim tài liệu... Tất cả những việc này sẽ giúp các
em nhớ kiến thức nhanh hơn rất nhiều.
Ví dụ : Sau khi học xong bài: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa (1418 –
1423) phần lịch sử địa phương, các em có thể đi tham qua khu di tích Lam Kinh (ở
huyện Thọ Xuân), qua đó các em sẽ nhớ nhanh, nhớ lâu hơn các kiến thức lịch sử đồng
thời khơi dậy niềm đam mê, sự tìm tòi các kiến thức lịch sử hơn.
- Học đến đâu ghi lại đến đấy: cách nhớ lâu môn lịch sử chính là học đến đâu ghi
chép đến đấy. Hãy tự chép lại những sự kiện chính sau một bài học. Thường xuyên tổng
hợp lại kiến thức và sắp xếp thời gian ôn luyện, các em sẽ nhớ lâu được kiến thức.
14
- Sử dụng sơ đồ tư duy: Không chỉ hữu ích với môn học khác, sơ đồ tư duy cũng
rất hữu dụng để các em học lịch sử. Sơ đồ tư duy giúp các em hệ thống lại kiến thức
đầy đủ, nhớ được những mốc quan trọng. Với sơ đồ tư duy các em sẽ tóm gọn được
những diễn biến của sự kiện. Để sau đó ôn tập một cách dễ dàng, tiết kiệm được nhiều
thời gian.
- Để tránh nhầm lẫn, các em nên phân bài học của mình ra từng phần, một bài học
dài sẽ rất khó nhớ, nhưng khi chia thành các phần nhỏ thì sẽ nhớ nhanh hơn. Mỗi phần
các em nên viết ra giấy những ý chính, đánh dấu những phần quan trọng bắt buộc phải
nhớ, học đến đâu chắc đến đấy không bỏ sót kiến thức.
- Trao đổi với bạn bè: Nếu việc học một mình khiến em thấy chán nản thì hãy học
nhóm cùng bạn. Các em có thể giúp đỡ bổ sung những phần kiến thức bạn mình còn
thiếu hay chưa hiểu và đặc biệt các em có thể vấn đáp, tranh luận một vấn đề nào đó với
nhau. Hãy đặt mục tiêu cho buổi học. Ví dụ: hôm nay sẽ học một bài, hôm sau học một
bài và cứ như vậy đặt mục tiêu cho các buổi học khác.
- Trong quá trình học bài, học sinh cũng cần nhớ tên đề bài, tên tiểu mục. Nhiều
học sinh học thuộc nội dung nhưng lại không nhớ tên tiểu mục, khi làm bài có thể
Phần mở bài thường trực tiếp đi thẳng vào vấn đề hoặc đề cập chi tiết liên quan sau
đó dẫn dắt vấn đề cần trình bày, đừng mất nhiều thời gian suy nghĩ về “mở bài”. Khi
đã xác định đúng nội dung sẽ biết mở bài thế nào.
Phần thân bài là phần giải quyết những vấn đề đặt ra, chứa đựng những nội dung cơ
bản của bài làm.
Phần kết luận phải chốt lại một vấn đề lịch sử mà đề bài đặt ra.
Khi làm một bài lịch sử cần đòi hỏi lập luận chặt chẽ, logic, các sự kiện lịch sử phải
cụ thể, mốc thời gian phải chính xác, viết đúng chính tả, viết rõ ràng, câu văn trong
sáng, rõ nghĩa, trình bày đẹp, dễ đọc. Hết mỗi ý chính, mỗi sự kiện nên xuống dòng.
Vì Lịch sử là một môn khoa học xã hội nên trong khi làm bài có thể trình bày một cách
có hệ thống, nếu thấy cần thiết để làm nổi bật từng giai đoạn, từng sự kiện, từng ý
nghĩa có thể đánh kí hiệu 1, 2, 3 hoặc a, b, c hoặc gạch đầu dòng.
- Bước 5: Kiểm tra, hoàn thiện lại bài làm: Bước này rất quan trọng, khi làm bài cần
dành ít thời gian để kiểm tra lại toàn bộ bài làm của mình. Rà soát lại xem nội dung
kiến thức, chính tả, cú pháp ...sau đó mới tiến hành nộp bài.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua quá trình áp dụng những biện pháp nêu trên vào đối tượng là các em tham
gia lớp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn lịch sử, tôi đã thu được một số kết quả
trong những lần học sinh tham dự thi cấp thành phố ở các năm học như sau :
THỜI GIAN
Năm học 2012-2013
Năm học 2013-2014
Năm học 2014-2015
Năm học 2015-2016
Năm học 2016-2017
Năm học 2017-2018
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Nhà trường cần lên lịch và có thời gian ôn cụ thể, tăng cường bổ sung cơ sở vật
chất, trang thiết bị, tài liệu hỗ trợ để phục vụ công tác ôn thi HSG.
- Hội cha mẹ HS phải động viên, tạo điều kiện về không gian và thời gian cho các
em học, khen thưởng kịp thời những giáo viên và học sinh có thành tích nổi bật trong
các kỳ thi.
Trên đây là một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG ở trường THCS
Thiệu Vân, thành phố Thanh Hóa nhằm tích cực nâng cao chất lượng mũi nhọn của đơn
vị nhà trường. Trong quá trình thực hiện đề tài chắc không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất
mong sự nhận xét, đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học các cấp để tôi hoàn thành tốt
hơn nữa trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong thời gian tiếp theo.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 16 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
Đỗ Thị Hòa
Nguyễn Thị Hiền
17
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
13
15
16
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
17
17
18
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
1. Giáo viên:
2. Học sinh:
3. Học sinh giỏi:
4. Sách giáo khoa:
5. Nhà xuất bản:
6. Trung học cơ sở :
GV
HS
HSG
SGK
NXB
THCS