Sáng kiến kinh nghiệm PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ LỚP 10 CHUYÊN ĐỀ: CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ KHỞI NGHĨA CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA NHÂN DÂN TA TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XIX - Pdf 29

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG THPT NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN LỊCH SỬ LỚP 10
CHUYÊN ĐỀ: CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ
KHỞI NGHĨA CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA NHÂN
DÂN TA TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XIX
Người thực hiện: Nguyễn Thanh Tuyền
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục 
Phương pháp dạy học bộ môn: Lịch sử 
Lĩnh vực khác: 
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học: 2014-2015
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Thanh Tuyền
2. Ngày tháng năm sinh: 27/6/1977
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Ấp 3, xã Phú Thạnh, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
5. Điện thoại: 01273925688 (CQ)/ (NR); ĐTDĐ:
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Tổ trưởng
8. Nhiệm vụ được giao: Tổ trưởng tổ Sử - Địa; Phó Ban thường trực Ban
HĐNGLL, Phó chủ tịch Công đoàn trường; Trưởng ban nữ công; cán bộ Tuyên
huấn của Chi bộ; giáo viên giảng dạy môn Lịch sử.
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ) trong buổi tư vấn chuyển giai đoạn niên
khóa 21 (1995-1999) của khoa Văn - Sử.
Từ đó đến nay, tôi chưa bao giờ cho rằng mình dạy môn phụ, tôi sống hết
mình vì điều tôi đã chọn. Với tôi, bộ môn Lịch sử vượt lên trên tất cả những bộ
môn khoa học khác, vì nó góp phần hình thành nên nhân cách của con người, giáo
dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, Lịch sử dân tộc ta được viết
bằng máu.
Thực tế những năm gần đây, việc dạy và học Lịch sử đang được dư luận cả
nước rất quan tâm, bởi đa phần học sinh đã quay lưng lại với bộ môn này. Bản thân
tôi cũng như những giáo viên dạy Lịch sử rất đau lòng trước thực trạng đó. Tuy
nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số em học sinh đam mê môn Lịch sử, tích cực
tham gia các kì thi tuyển chọn học sinh giỏi. Vậy, bằng cách nào để học sinh học
giỏi và trở thành học sinh giỏi môn Lịch sử. Biện pháp, phương pháp nào giúp các
em đạt được điều mong ước đó?
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:
“Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 10 – Chuyên đề: Các
cuộc kháng chiến, khởi nghĩa của nhân dân ta từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX”.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1/. Cơ sở lý luận
Từ trong Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trong
những sinh hoạt đời thường đã hình thành tạo nên những nét văn hóa truyền thống
tốt đẹp. Trong hàng loạt các nét văn hóa truyền thống ấy, ông cha ta luôn coi trọng
việc giữ gìn và phát huy các giá trị chuẩn mực đạo đức tốt đẹp là một trong những
một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu. Bởi đó là những nét đẹp của con
người Việt Nam ta về tình yêu quê hương đất nước, tính cộng đồng, tinh thần đoàn
kết, thuỷ chung, sự kiên cường dũng cảm, hiếu học, sự cần cù, sáng tạo và vươn
lên…
Không chỉ trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc thì dân tộc ra
mới quan tâm, giữ gìn và phát huy những truyền thống cao đẹp ấy mà hôm nay,
trong công cuộc và xây dựng xã hội mới, Đảng ta vẫn luôn chăm lo, giữ gìn và

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một công tác rất vất vã, đòi hỏi giáo viên
phải đầu tư rất lớn vào những việc sau:
- Xây dựng chương trình bồi dưỡng (dựa theo cấu trúc đề thi Sở giáo dục qui
định).
- Tăng cường nghiên cứu khoa học: để tổng hợp kiến thức. Vì nếu đơn thuần
dạy những kiến thức ghi trong sách giáo khoa sẽ thể giúp học sinh có cái nhìn tổng
quát, đánh giá, so sánh được các sự kiện.
- Thay đổi phương pháp dạy và học:
+ Dạy học sinh phương pháp học tập tích cực.
+ Phát huy tư duy, sáng tạo và tính chủ động của học sinh.
+ Phát triển khả năng thực hành lịch sử của học sinh.
2/. Một số phương pháp trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
- Bước 1: Giáo viên chia cấu trúc chương trình thành các chuyên đề. Khi bắt
đầu vào một chuyên đề mới, giáo viên nêu tên chuyên đề cho học sinh. Ví dụ như
tên chuyên đề này là: Các cuộc kháng chiến, khởi nghĩa chống ngoại xâm của
nhân dân ta từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX.
+ Giáo viên yêu cầu học sinh liệt kê các kiến thức cơ bản (theo khả năng hiểu
biết của học sinh) của chuyên đề.
+ Giáo viên đề ra nội dung cần tìm hiểu của chuyên đề này: bối cảnh, diễn
biến, kết quả, ý nghĩa, nhân vật lịch sử, nghệ thuật quân sự,…
- Bước 2: Sau khi học sinh tự tìm hiểu về những nội dung mà giáo viên đã
yêu cầu ở bước 1, giáo viên cùng trao đổi kiến thức với học sinh bằng cách giáo
viên cung cấp gói kiến thức (khá chi tiết) cho học sinh. Qua đó, cả giáo viên và học
sinh cùng kiểm chứng được khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh.
- Bước 3: Nhằm phát triển khả năng tư duy cho học sinh, giáo viên nên chọn
phương pháp đàm thoại trực tiếp với học sinh (giáo viên và học sinh cùng khai
thác gói kiến thức).
- Bước 4: Giáo viên định hướng cho học sinh hướng khai thác kiến thức của
từng cuộc kháng chiến, khởi nghĩa.
+ Khai thác khả năng tư duy độc lập của học sinh bằng cách cho phép học

vua Tống gửi thư đe dọa đòi phải thuần phục.
Trước nguy cơ của đất nước, vua Đinh còn nhỏ không thể lãnh đạo tổ chức
cuộc kháng chiến, triều đình và quân sĩ được sự sáng suốt đồng tình của Thái hậu
Dương Vân Nga đã suy tôn Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn (Tổng chỉ huy quân
đội) lên làm vua.
3.1.2 Diễn biến
Lê Hoàn lên ngôi năm 980, lập ra triều Tiền Lê thay triều Đinh và gấp rút
chuẩn bị kháng chiến. Lê Hoàn cho xây dựng trận địa kiên cố ở Bình Lỗ (bên bờ
sông Cà Lồ) nhằm chặn cánh quân lớn do Hầu Nhân Bảo chỉ huy từ hướng Cao
Bằng, Thái Nguyên xuống. Trên hướng Lạng Sơn - Bắc Ninh, ông cũng cho quân
chủ lực phối hợp với dân binh chuẩn bị chặn đánh địch. Hướng Đông Bắc, ông bố
trí trận địa cọc ngầm ở cửa sông Bạch Đằng để chặn đánh đoàn thủy quân Tống
tương tự như trận địa cọc của Ngô Quyền gần nửa thế kỷ trước đây.
Kế hoạch của Lê Hoàn là kiên quyết đánh chặn, tiêu hao, tiêu diệt địch trên
các hướng, không cho chúng hợp quân đánh chiếm Đại La và Bắc Bộ là vùng đất
căn bản của cả nước. Bảo vệ được vùng Bắc Bộ là bảo đảm an toàn cho kinh đô.
Khoảng đầu năm 981, trên các hướng, quân Tống tiến vào nước ta, đạo quân
Hầu Nhân Bảo tiến khá nhanh nhưng đến Bình Lỗ bị một lực lượng mạnh quân
Đại Cồ Việt do Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy đánh cho thiệt hại nặng phải lui quân
đóng trại.
Đạo quân Tôn Toàn Quân và Trần Khâm Tộ tiến được xuống Hoa Đô (Bắc
Giang, Bắc Ninh) bị chặn đánh cũng phải dừng lại không tiến được.
Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (năm 981)
Đạo thủy quân tiến vào sông Bạch Đằng bị quân ta có trận địa hiểm yếu là bãi
cọc ngầm đã chặn đánh quyết liệt. Thủy quân Tống bị đánh thiệt hại nặng, phải lui
quân. Đây là chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai trong lịch sử chiến tranh Việt
Nam.
Hầu Nhân Bảo không nhận được tin tức của hai đạo quân kia, lại tổ chức đánh
xuống Bình Lỗ. Lê Hoàn đã bố trí trận địa mai phục lớn đợi giặc. Trận đánh diễn
ra quyết liệt với thế chủ động của ta tại vùng Phù Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội). Quân

cực, bình đẳng, kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, kể cả vùng biên
cương. Nhà Tống buộc phải kiêng nể. Đất nước ta được thanh bình trong gần một
thế kỷ.Tên tuổi Lê Hoàn và quân tướng nhà Tiền Lê mãi khắc sâu vào lịch sử
kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta.
3.1.4 Vận dụng kiến thức để làm bài tập
Câu hỏi: Cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê (981) diễn ra như thế
nào? Vai trò của Thái hậu Dương Vân Nga trong cuộc kháng chiến chống
Tống lần thứ nhất.
Trả lời:
* Cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê (981)
Năm 981, lợi dụng Đinh Tiên Hoàng bị ám hại, triều đình Đại Cồ Việt gặp
nhiều khó khăn, vua Tống sai quân sang xâm lược nước ta. Trước tình hình đó,
Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được Thái hậu Dương Vân Nga và các tướng lĩnh
suy tôn làm vua, lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Với truyền thống yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, quân và dân
Đại Cồ Việt đã chiến đấu dũng cảm, đầy mưu trí, đánh tan các đạo quân xâm lược
ngay vùng Đông – Bắc. Cuộc kháng chiến thắng lợi. Quan hệ Việt – Tống trở lại
ổn định.
* Vai trò của Thái hậu Dương Vân Nga
Thái hậu Dương Vân Nga có vai trò rất quan trọng trong quyết định sự thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (981). Vì bà đã đưa ra quyết
định rất kịp thời, chính xác, vượt qua sự phản đối của nhiều quan lại trong triều
đình khi suy tôn Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn (Tổng chỉ huy quân đội) lên làm
vua. Với quyết định này, cho thấy Thái hậu Dương Vân Nga đã đặt quyền lợi của
quốc gia dân tộc lên hàng đầu, hy sinh quyền lợi của dòng tộc.
Câu hỏi: Phân tích nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống
Tống lần thứ nhất (981) của Lê Hoàn.
Trả lời:
Trong cuộc kháng chiên chống Tống lần thứ nhất (981) cho thấy trình độ nghệ
thuật quân sự của dân tộc Đại Cồ Việt lúc này đã có sự phát triển mới, từ nghệ

đã bị chia tách khỏi thế trận liên kết của toàn quân Tống. Tôn Toàn Hưng và Lưu
Trừng đang co cụm chiến lược ở vùng Hoa Bộ để tránh bị quân Lê tiêu diệt. Trần
Khâm Tộ và đạo quân bộ lẻ loi còn đang sa lầy trên cánh đồng Tây Kết. Chính vì
thế khi Lê Hoàn tổ chức phản công, Hầu Nhân Bảo không có quân ứng cứu, bị
quân Đại Cồ Việt giết chết tại trận.
* Dùng mưu kế đánh địch
Diễn biến chiến sự cho thấy giết Hầu Nhân Bảo không mấy dễ dàng. Bởi
vậy Lê Hoàn mưu tính dùng kế trá hàng hy vọng giết đúng tên chủ tướng theo
cách:
- Bên trong bí mật củng cố lực lượng, bài binh bố trận, phòng bị cẩn mật
- Bên ngoài thì giấu binh, nới vây hãm, giảm canh phòng
- Đồng thời thư từ sang Tống tỏ vẻ run sợ, dùng lời lẽ nhún nhường, ngỏ lời
cầu xin quy phục để bảo toàn tính mạng.
Kết quả, Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng mắc lừa mưu kế của Lê Hoàn mà
lơ là không phòng bị. Do đó khi bị quân Đại Cồ Việt tập kích, Hầu Nhân Bảo hoàn
toàn bất ngờ, không kịp chống đỡ và bị giết chết.
* Phối hợp tác chiến giữa quân và dân
Việc Lê Hoàn truyền hịch cầu tài, xuống chiếu tuyển quân, thu lương ở khắp
mọi miền đất nước đã thực sự phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu chống giặc
ngoại xâm của quân dân Đại Cồ Việt. Những trận đánh lớn, ngoài quân chủ lực của
triều đình còn có sự tham gia rất tích cực của các đội dân binh địa phương. Dân
binh các làng xã còn thường xuyên tập kích, quấy rối những lúc quân địch đang
dẫm chân tại chỗ, chưa tiến được khiến cho quân Tống bị tiêu hao lực lượng, tinh
thần hoang mang.
3.2 Cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý
3.2.1 Nguyên nhân
Dưới triều Lý, đất nước ta có một bước phát triển vượt bậc. Kinh tế phát triển
mạnh, quốc phòng được tăng cường, đặc biệt quân đội đời Lý đã đạt đến trình độ
tổ chức, huấn luyện và trang bị khá cao. Quốc gia thống nhất được củng cố; quan
hệ với các nước trong khu vực mở rộng và được các nước nể trọng. Thế, lực nước

Đạo quân chủ lực do Lý Thường Kiệt chỉ huy tập trung ở Vĩnh An (Móng
Cái, Quảng Ninh) dùng thuyền vượt biển đánh chiếm Khâm Châu, Liêm Châu tiến
đến hợp quân với đạo quân đi đường bộ vây đánh thành Ung Châu. Trên đường
tiến quân, Lý Thường Kiệt cho quân phát các bản Lộ bố nói rõ mục đích của quân
ta là đánh bọn thống trị tàn ác, giải phóng dân khỏi cực khổ, lầm than nên không
những không bị dân Tống chống lại mà còn được hoan nghênh ủng hộ. Đến lúc
này triều Tống mới được tin báo, vội cho 1 vạn quân xuống ứng cứu nhưng đến
cửa ải Côn Lôn (phía Bắc Ung Châu) đã bị quân Đại Việt do Lý Thường Kiệt mai
phục sẵn ở đây tiêu diệt.
Sau 42 ngày vây hãm, chiến đấu gan dạ, mưu trí, ngày 1/3/1076, quân ta đã
chiếm được Ung Châu, căn cứ chính rất kiên cố của quân Tống. Quân ta đã đốt phá
kho tàng, phá hủy thành lũy, lấy đá lấp sông để ngăn chặn đường thủy của địch.
Mục tiêu cuộc tiến công đã hoàn thành thắng lợi. Trong khi triều Tống đang lúng
túng chứ kịp phản ứng thì tháng 4/1076, quân ta đã chủ động nhanh chóng rút quân
về nước.
Cuộc tập kích chiến lược này thể hiện tư tưởng “tiên phát chế nhân”, lấy tiến
công để tự vệ của Lý Thường Kiệt. Đây là cuộc tập kích chiến lược đầu tiên và
cũng là duy nhất trong lịch sử chống xâm lược phương Bắc.
Cuộc tập kích đã kích thích sĩ khí quân dân ta, chủ động chuẩn bị cuộc kháng
chiến. Trái lại, lực lượng xâm lược Tống đã bị tiêu hao suy yếu một phần do thất
trận, mâu thuẫn nội bộ bị khoét sâu, do đó mất thế chủ động trong chiến tranh.
Sau khi rút quân về nước, Lý Thường Kiệt dàn thế trận kháng chiến. Qua cuộc
tập kích sang đất Tống và các tin tức do thám, Lý Thường Kiệt biết chắc quân xâm
lược sẽ vào theo hướng Bắc và Đông Bắc rồi tiến đến mục tiêu chính là chiếm kinh
thành Thăng Long.
Trên những con đường tiến quân của địch, ông bố trí các lực lượng quân địa
phương cùng dân binh làm nhiệm vụ kiềm chế và tiêu hao địch. Tại bờ Nam sông
Như Nguyệt (Bắc Ninh) đến Phả Lại (Chí Linh, Hải Dương), ông cho xây một
phòng tuyến vững chắc, chặn đứng mọi đường tiến quân của địch xuống Thăng
Long. Phía trước là dòng sông rộng, ven bờ có nhiều tầng cọc tre, rào tre tạo thành

Tháng 2/1077, Lý Thường Kiệt chủ trương phản công chiến lược. Thủy quân
ta vượt sông đánh mạnh vào trận địa ở Nham Biền, vừa tiêu diệt một bộ phận quân
địch vừa nghi binh thu hút địch chú ý vào hướng này, sau đó rút lui. Đồng thời, đại
quân ta do Lý Thường Kiệt chỉ huy vượt sông bất ngờ đánh vào cánh quân Triệu
Tiết, tiêu diệt quá nửa số quân Tống ở đây ước tính vài vạn tên.
3.2.3 Kết quả - ý nghĩa lịch sử
Sau trận này, quân Tống lâm vào tình trạng quẫn bách, quân tướng đều mệt
mỏi, tinh thần sa sút. Nắm tình hình đó, Lý Thường Kiệt chủ trương kết thúc chiến
tranh để “không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”.
Ông chủ động điều đình mở lối thoát cho địch. Cuộc thương lượng “giảng hòa” để
quân Tống rút về nước nhanh chóng được hai bên thỏa thuận.
Tháng 3/1077, quân Tống rút chạy về nước trong cảnh hỗn loạn. Cuộc kháng
chiến chống Tống lần thứ hai thắng lợi hoàn toàn. Đập tan ý chí xâm lược của nhà
Tống, 200 năm sau nhà Tống còn tồn tại nhưng không dám nói đến việc xâm lược
nước ta một lần nào nữa.
Cuộc kháng chiến chống Tống đời Lý có vị trí đặc biệt trong lịch sử chiến
tranh chống giặc ngoại xâm cũng như lịch sử phát triển của dân tộc ta. Dựa vào sự
đánh giá đúng đắn tương quan thế và lực giữa ta với địch, tạo thời cơ chủ động
sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh kết hợp với tính chất chính nghĩa của
cuộc chiến tranh tự vệ, lòng nhân ái khoan dung của dân tộc ta thể hiện rõ rệt trong
giải quyết giữa đánh và đàm. Đánh cho quân địch thiệt hại nặng, đè bẹp ý chí xâm
lược của chúng thì chủ động thương lượng đuổi quân địch khỏi đất nước ta, kết
thúc chiến tranh, khôi phục nền độc lập. Truyền thống vừa đánh vừa đàm trong
chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta bắt đầu từ đây.
Cuộc kháng chiến chống Tống đời Lý còn có bước phát triển mới về ý chí độc
lập tự chủ, quyền bình đẳng và bất khả xâm phạm của dân tộc ta qua bài thơ bất hủ
như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, tương truyền của Lý Thường Kiệt:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phậm

kết nhân dân chống giặc (mời Tể tướng Lý Đạo Thành về triều cùng lo việc nước).
+ Chủ động tấn công sang đất Tống, chủ trương “Tiên phát chế nhân”.
+ Chủ động rút lui, xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt để đợi giặc và
đánh giặc.
+ Chủ động trong tiến công, kết hợp những cuộc công kích nhỏ với những
trận quyết chiến.
+ Chủ động kết thúc chiến tranh “Dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng tá,
khỏi tổn xương máu mà bảo tồn được tôn miếu,…”, xây dựng quan hệ hòa hiếu với
nhà Tống.
- Sự đồng long đánh giặc của quân dân nhà Lý dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài
giỏi của Lý Thường Kiệt.
- Là cuộc chiến tranh nhân dân để lại nhiều bài học quý báu cho lịch sử đấu
tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Câu hỏi: Tư tưởng chủ động của nhà Lý trong cuộc kháng chiến chống
Tống (1075-1077) được thể hiện như thế nào?
Trả lời:
- Chủ động giải quyết mâu thuẫn nội bộ trong chính quyền trung ương, đoàn
kết nhân dân chống giặc: mời Tể tướng Lý Đạo Thành về triều cùng lo việc nước.
- Chủ động tấn công sang đất Tống, chủ trương “Tiên phát chế nhân”: năm
1075, Lý Thường Kiệt đã chỉ huy 10 vạn quân vượt biên giới đánh sang đất Tống,
tân công châu Khâm, châu Liêm, bao vậy thành Ung Châu, đánh tan toàn bộ sự
chuẩn bị của nhà Tống rồi chủ động rút lui về nước.
- Chủ động rút lui, xây dựng phòng tuyến chặn giặc: sau khi rút về nước, Lý
Thường Kiệt đã cho chuẩn bị sẵn thế trận đánh giặc, quan trọng nhất là tuyến
phòng thủ trên sông Như Nguyệt.
- Chủ động trong tiến công: Năm 1077, Quách Quỳ chỉ huy 30 vạn quân sang
xâm lược nước ta và vấp phải phòng tuyến kiên cố của nhà Lý. Lý Thường Kiệt đã
chỉ huy quân dân chủ động kết hợp những cuộc công kích nhỏ với những trận
quyết chiến, đẩy địch vào thế bị động,…
- Chủ động kết thúc chiến tranh: Khi quân Tống ở vào thế “tiến thoái lưỡng

Phía tây bị nước Tây Hạ chia cắt. Tới đầu thế kỷ 13, người Mông Cổ ở phía
bắc nước Kim thống nhất dưới quyền Thành Cát Tư Hãn, trở nên lớn mạnh. Mông
Cổ đánh xuống phía Nam, tiêu diệt Tây Hạ (1227) và Kim (1234). Mặc dù đã mở
rộng bờ cõi bao la sang phía tây, diệt nhiều nướcTây Á và đánh sang châu Âu,
người Mông Cổ tiếp tục tiến xuống phía Nam để tiêu diệt Nam Tống.
Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam ngày nay),
muốn đánh chiếm Đại Việt để tạo thế "gọng kìm" bao vây Nam Tống. Các đoàn
ngoại giao của Mông Cổ được phái sang Đại Việt đề nghị mở đường cho quân đội
Mông Cổ đi qua để lên đất Tống. Nhưng các vua Trần không những từ chối lại còn
cho bắt giam các nhà ngoại giao Mông Cổ.
3.3.2 Diễn biến
* Lần thứ nhất: tháng Giêng nǎm 1258. Bấy giờ, vua chúa Mông Cổ đang
tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm Trung Quốc. Bên cạnh những đạo quân ồ ạt
đánh vào đất Tống, một đạo quân khoảng bốn vạn người, gồm kỵ binh Mông Cổ
và binh lính người Thoán Vân Nam, do tướng Ngột Lương Hợp Thai
(Uryangquadai) chỉ huy, từ Vân Nam đánh xuống Đại Việt. Vua Trần là Thái Tông
đã đem quân lên chặn giặc ở Bình Lệ Nguyên, bên sông Cà Lồ. Nhưng sau đó,
quân ta rút lui để bảo toàn lực lượng trước thế mạnh ban đầu của giặc.
Quân ta rút lui, bỏ Thǎng Long lại phía sau, nhưng Triều đình nhà Trần và
quân dân vẫn không nao núng. Vua tôi nhà Trần đã bàn phương lược đánh giặc
trên những con thuyền xuôi sông Hồng. Khi được Thái Tông hỏi ý kiến, Thái sư
Trần Thủ Độ đã trả lời: ''Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo".
Giặc đóng ở Thǎng Long, trong một toà thành trống, đã khốn đốn vì thiếu
lương thực. Chúng cố đánh ra xung quanh để cướp lương thực, nhưng ở đâu cũng
gặp sức chống trả mãnh liệt của nhân dân. Vì vậy mà chỉ sau 9 ngày, chúng đã vô
cùng hốt hoảng. Đó chính là thời cơ để quân ta phản công. Ngày 29/l/1258, Vua
Trần Thái Tông đã đem binh thuyền ngược sông Hồng tiến về Thǎng Long. Quân
địch bị đánh bật khỏi Kinh thành, theo đường cũ, chạy về Vân Nam. Trên đường
tháo chạy, chúng còn bị quân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi tập kích, đánh
cho tan tác.

Thoát Hoan hoảng hốt, rút khỏi Thǎng Long, chạy về phía Vạn Kiếp. Đến đây, bọn
giặc lọt vào trận địa mai phục của Trần Hưng Đạo, chúng bị thương vong rất
nhiều. Đám tàn quân hoảng loạn cố mở đường máu tháo chạy. Nhưng đến biên
giới Lạng Sơn, chúng lại bị quân ta chặn đánh. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng
rồi bắt quân lính khiêng chạy về nước. Viên đại tướng Lý Hằng đi đoạn hậu, bị tên
độc trúng đầu gối, về đến Tư Minh thì chết.
Trong khi cánh quân Thoát Hoan chạy về phía Lạng Sơn thì cánh quân Nạp
Tốc Lạt Đinh tìm đường tẩu thoát về Vân Nam, cũng bị quân dân ta tập kích, đánh
cho tơi bời. Không biết Thoát Hoan đã bỏ chạy, Toa Đô kéo ra Bắc, theo sông
Hồng định về Thǎng Long, nhưng đến Tây Kết thì bị quân ta chặn đánh. Toa Đô bị
chém. Thế là cuộc chiến tranh xâm lược của Nguyên Mông lần thứ hai hoàn toàn
thất bại.
* Lần thứ ba: Ngay sau thất bại năm 1258, Hốt Tất Liệt đǎ ra lệnh chuẩn bị
một cuộc chiến tranh xâm lược mới. Nhưng phải đến cuối nǎm 1287, các đạo quân
viễn chinh mới có thể lên đường. Một đạo do Thoát Hoan và Ái Lỗ Xích (chỉ huy
tiến vào Lạng Sơn). Một đạo khác, do Ái Lỗ cầm đầu, từ Vân Nam đánh vào
Tuyên Quang. Lần này, không còn cánh quân phía Nam, nhưng vua Nguyên lại
phái thêm một cánh thuỷ quân, sai ô Mã Nhi chỉ huy, hộ tống đoàn thuyền tải
lương của Trương Vǎn Hổ vào Đại Việt theo đường biển.
Tháng 12/1287, khi đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào vùng biển An
Bang (Quảng Ninh), Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đem thuỷ quân chặn đánh,
nhưng không cản được giặc. Ô Mã Nhi cho binh thuyền tiến thẳng vào cửa sông
Bạch Đằng, không chú ý đến đoàn thuyền lương nặng nề chậm chạp ở sau. Mãi
đến tháng 1/1288, đoàn thuyền lương của giặc mới tiến đến vùng đảo Vân Đồn.
Trần Khánh Dư lại đem quân tập kích. Trương Vǎn Hổ chống đỡ không nổi, đổ cả
lương thực xuống biển, trèo lên một chiếc thuyền nhỏ, trốn về Quỳnh Châu (Hải
Nam). Bấy giờ, Thoát Hoan cũng đã tiến vào Lạng Sơn, hội quân với cánh quân
thủy của Ô Mã Nhi ở Vạn Kiếp. Thoát Hoan dừng lại ở đây gần một tháng, xây
dựng Vạn Kiếp thành một cǎn cứ vững chắc, mãi đến cuối tháng 1/1288 mới chia
quân tiến về Thǎng Long.

một chiến công oanh liệt. Trong khi đó, đạo quân của Thoát Hoan cũng khốn đốn
rút chạy ra biên giới. Sau khi bị phục kích ở cửa ải Nội Bàng, chúng bỏ con đường
ra ải Khâu Cấp, vòng theo đường Đan Ba (Đình Lập), chạy tạt ra biên giới. Nhưng
ở đây, chúng cũng bị quân ta chặn đánh, tướng giặc là A Bát Xích bị trúng tên. Mãi
đến ngày 19/4/1288, đám tàn quân của Thoát Hoan mới về đến Tư Minh.
Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt đã chôn vùi vĩnh viễn mộng xâm lược của
Hốt Tất Liệt.
3.3.4 Vận dụng kiến thức để làm bài tập
Câu hỏi: Nêu tóm tắt cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên
(thế kỉ XIII)? Phân tích ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi.
Trả lời:
* Tóm tắt cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ XIII)
- Thế kỉ XIII, nhân dân Đại Việt phải đương đầu với một cuộc thử thách lớn
lao kéo dài suốt ba mươi năm chống xâm lược Mông - Nguyên
+ Lần 1: năm 1258.
+ Lần 2: năm 1285.
+ Lần 3: năm 1287-1288.
- Dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo và các vua Trần cùng hàng loạt tướng
lĩnh tài năng, cả nước quân dân đồng lòng quyết tâm đánh giặc bảo vệ Tổ quốc.
- Kinh thành Thăng Long 3 lần bị quân Mông – Nguyên xâm chiếm nhưng
với tinh thần “Sát Thát”, quân dân Đại Việt đã đánh bại quân xâm lược, bảo vệ nền
độc lập dân tộc.
- Đặc biệt là chiến thắng trên sông Bạch Đằng (năm 1288) mãi đi vào lịch sử
như một biểu tượng của truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc.
* Ý nghĩa lịch sử
- Thắng lợi của 3 lần kháng chiến chống Mông – Nguyên đã đập tan âm mưu
xâm lược của đế chế Mông – Nguyên, đánh bại một kẻ thù hùng mạnh và tàn bạo
nhất thế giới lúc bấy giờ, bảo vệ nền độc lập dân tộc.
- Thắng lợi này đã khẳng định sức mạnh của dân tộc ta, nâng cao lòng tự hào
dân tộc.

chiến quyết thắng của toàn dân ta mà nồng cốt là quân đội nhà Trần.
- Có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh, quá trình chuẩn bị chu đáo của
quân dân nhà Trần cho các cuộc kháng chiến: Trong cả ba lần chống quân xâm
lược Mông – Nguyên, nhà Trần đã chuẩn bị rất chi đáo về mọi mặt cho mỗi cuộc
kháng chiến. Nhà Trần rất quan tâm chăm sóc sức dân, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân bằng nhiều biện pháp để tạo nên sự gắn bó đoàn kết giữa
triều đình với nhân dân.
- Có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của các vua Trần yêu nước và nhà quân sự
thiên tài: Thắng lợi đó không thể tách rời chiến lược, chiến thuật đúng đắn, sáng
tạo của các vương triều Trần, đặc biệt là vua Trần Nhân Tông và các danh tướng
như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư,
- Nhà Trần đặt quyền lợi dân tộc lên trến tất cả mọi quyền lợi cá nhân, giải
quyết những bất hòa nội bộ để đoàn kết chống quân xâm lược: Trong lúc kháng
chiến, các quý tộc, vương hầu nhà Trần chủ động giải quyết những bất hòa trong
nội bộ vương triều, tạo nên hạt nhân của khối đoàn kết dân tộc mà Trần Quốc Tuấn
là tiêu biểu.
Câu hỏi: Ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông –
Nguyên thế kỉ XIII?
Trả lời:
- Thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên đã đập tan
tham vọng và ý chí xâm lược của đế chế Nguyên, bảo vệ được độc lập toàn vẹn
lãnh thổ về chủ quyền quốc gia của dân tộc, đánh bại một kẻ hùng mạnh và tàn bạo
nhất thế giới lúc bấy giờ.
- Thắng lợi này đã khẳng định sức mạnh của dân tộc ta, có ý nghĩa nâng cao
long tự hào, tự cường chính đáng của dân tộc ta, củng cố niềm tin cho nhân dân.
- Thắng lợi đó đã góp phần xây dựng nên truyền thống quân sự Việt Nam,
truyền thống chiến đấu của một nước nhỏ nhưng luôn luôn phải chống lại kẻ thù
mạnh hơn nhiều đến xâm lược.
- Thắng lợi trong ba lần kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên không
những bảo vệ được độc lập của Tổ quốc mà còn góp phần ngăn chặn những cuộc

(Trần Nhân Tông)
Câu hỏi: Nêu hiểu biết của mình về hội nghị Bình Than và hội nghị Diên
Hồng.
Trả lời:
- Hội nghị Bình Than: Năm 1282, được tin nhà Nguyên mượn cớ đánh Chăm
Pa để xâm lược nước ta, triều Trần triệu tập hội nghị Bình Than (bến Bình Than –
thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Đây là hội nghị của các vương hầu quan lại để bàn
kế đánh giặc. Triều đình đã đề ra chủ trương đánh giặc cứu nước. Chính tại hội
nghị này, do chưa đủ tuổi dể dự bàn nên Trần Quốc Toản đã tức giận bóp nát quả
cam trong tay lúc nào không hay.
- Hội nhị Diên Hồng: Năm 1285, khi quân thù tiến sát biên giới, hội nghị Diên
Hồng được triệu tập (tại thềm điện Diên Hồng). Đây là hội nghị của các phụ lão –
những người đại biểu có uy tín của nhân dân, được vua Trần mời về kinh thành để
hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão đã đồng thanh hô: “Đánh!”.
Hai hội nghị cho thấy từ triều đình đến các tầng lớp nhân dân đều đồng lòng
quyết tâm đánh giặc cứu nước.
Câu hỏi: Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm
lược Nguyên – Mông thế kỉ XIII? Từ những nguyên nhân thắng lợi đó, để lại
bài học kinh nghiệm gì cho quá trình đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc
ta? Bài học kinh nghiệm đó, được Đảng và Nhà nước ta ứng dụng như thế nào
trong vấn đề bảo vệ Biển Đông hiện nay?
Trả lời:
* Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Nguyên – Mông thế kỉ XIII
- Sự đoàn kết nhất trí, đồng lòng của nhân quân dân nhà Trần, cùng với truyền
thống chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta đã làm nên mọi thắng lợi.
- Có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh, quá trình chuẩn bị chu đáo của
quân dân nhà Trần cho các cuộc kháng chiến.
- Có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của các vua Trần yêu nước và nhà quân sự
thiên tài Trần Hưng Đạo cùng hàng loạt tướng lĩnh tài năng.

3.4.2 Diễn biến
* Hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa (1418-1423)
Năm 1416, Lê Lợi và các cộng sự mở Hội thề Lũng Nhai, bắt đầu khởi nghĩa
chống quân Minh xâm lược.

Trích đoạn Diễn biến: Vương Thông chia 10 vạn quân Min hở Đông Quan thành 3 cánh quân lần lượt kéo ra khỏi thành, tiến về hướng Tây Nam hướng tới Ninh Kiều nơ Nghệ thuật quân sự Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước cuối thế kỉ X Cuộc kháng chiến chống quân Xiêm (1784-1785 ). Cuộc kháng chiến chống Thanh (1788-1789 ).
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status