SKKN “phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 10 – chuyên đề các cuộc kháng chiến, khởi nghĩa của nhân dân ta từ thế kỉ x đến thế kỉ XIX” - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG THPT NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN LỊCH SỬ LỚP 10
CHUYÊN ĐỀ: CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ
KHỞI NGHĨA CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA NHÂN
DÂN TA TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XIX

Người thực hiện: Nguyễn Thanh Tuyền
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục



Phương pháp dạy học bộ môn: Lịch sử



Lĩnh vực khác: ......................................................... 
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình

 Đĩa CD (DVD)

 Phim ảnh

Năm học: 2014-2015


- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Lịch sử địa phương: Nhơn Trạch vùng đất anh hùng.
+ Tăng cường đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử lớp (phần lịch sử thế
giới Cổ, trung đại).
+ Tăng cường đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử lớp (phần lịch sử thế
giới Cận đại).
+ Tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12.


ĐỀ TÀI:
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN LỊCH SỬ LỚP 10
CHUYÊN ĐỀ: CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN VÀ KHỞI NGHĨA
CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA NHÂN DÂN TA TỪ
THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XIX
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thời học sinh, tôi có một mơ ước cháy bỏng đó là trở thành người giáo viên
dạy Văn. Thế rồi, tôi đã từ bỏ ước mơ cháy bỏng của mình mà không một lần hối
tiếc, để rồi hôm nay tôi trở thành một giáo viên dạy bộ môn Lịch sử.
“Tại sao thế hệ trẻ hôm nay đang dần đánh mất truyền thống quý báu của
dân tộc; mất đi khí thế hào hùng của cha anh năm xưa…Một phần trách nhiệm lớn
lao thuộc về các giáo viên dạy Lịch sử. Bởi họ quan niệm mình dạy môn phụ nên
dạy theo “kiểu phụ”. Thầy khuyên các em, hãy trở thành những thiên sứ, đảm
đương trách nhiệm nâng cao ý thức, giáo dục lòng yêu quê hương, truyền thống
cách mạng cho thế hệ tương lai. Đó là, hãy trở thành những thầy cô giáo dạy bộ
môn Lịch sử…”. Đó là những lời của Giáo sư, Tiến sĩ Trần Phước Đường (nguyên
Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ) trong buổi tư vấn chuyển giai đoạn niên
khóa 21 (1995-1999) của khoa Văn - Sử.
Từ đó đến nay, tôi chưa bao giờ cho rằng mình dạy môn phụ, tôi sống hết
mình vì điều tôi đã chọn. Với tôi, bộ môn Lịch sử vượt lên trên tất cả những bộ

toàn dân ta vượt qua những thách thức không kém phần cam go, quyết liệt trong
giai đoạn hiện nay.
Để đảm bảo thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến
mạnh trên con đường XHCN, hội nhập quốc tế thì ngành giáo dục Việt Nam phải
đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
năng lực có trí thức.
Để đảm đương được yêu cầu trên, đòi hỏi người giáo viên dạy Lịch sử phải
luôn rèn luyện những “kỹ năng”, tạo nên những “kỹ thuật” để biến Lịch sử không
phải là những gì của quá khứ mà nó luôn hiện hữu, sống và luôn đồng hành cùng
chúng ta trên mõi bước đường.
2/. Cở sở thực tiễn
- Phụ huynh và học sinh luôn coi môn Lịch sử là môn phụ. Học chẳng giúp
được gì (khó chọn ngành nghề, không kiếm được nhiều tiền).
- Một số giáo viên quan niệm chưa đúng về bộ môn khoa học này, chưa có sự
đầu tư cho công tác giảng dạy làm cho giờ học Lịch sử trở nên nặng nề, dẫn đến
tâm lý học sinh sợ hãi khi đến giờ học Lịch sử.
- Một số giáo viên chưa biết cách giúp học sinh vận dụng kiến dụng kiến thức
lịch sử vào cuộc sống. Phương pháp kiểm tra nặng về trình bày, chưa vận dụng tư
duy.
- Một số giáo viên (đã dạy lâu năm) những gặp nhiều khó khăn, lúng túng khi
đảm nhận nhiệm vụ ôn thi học sinh giỏi do chưa biết cách thiết kế bài giảng, biên
soạn tài liệu,…
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi quyết định viết chuyên đề này là nhằm
để chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ thêm một phần giải pháp đã có ở các đơn vị bạn và
cũng là giải pháp lần đầu tiên được áp dụng ở đơn vị mình đã thực hiện và có hiệu
quả.


III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1/. Những công việc giáo viên cần chuẩn bị

sinh trình bày quan điểm riêng của mình.
+ Sử dụng phương pháp sánh vai, đặt tình huống và yêu cầu học sinh xử lý
tình huống (thông thường tình huống giáo viên đặt ra sẽ trái ngược lại với diễn
biến lịch sử đã diễn ra). Phương pháp này thường giúp học sinh đánh giá được
nghệ thuật quân sự, vai trò của các nhân vật lịch sử.


+ Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi bài tập (trong khuôn khổ từng cuộc
kháng chiến, khởi nghĩa) yêu cầu học sinh giải đáp. Sau đó, giáo viên nhận xét và
cung cấp lời giải để học sinh kiểm chứng và bổ sung kiến thức.
- Bước 5: Sau khi giáo viên và học sinh cùng trao đổi hết kiến thức của các
cuộc kháng chiến, khởi nghĩa. Bước quan trọng nhất trong công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi đó là giáo viên giúp học sinh vận dụng được những kiến thức đã học để
giải đáp hệ thống câu hỏi mang tính vận dụng (so sánh, phân tích, đánh giá, nhận
định, rút ra bài học kinh nghiệm, vận dụng kiến thức liên môn,…) cũng bằng hệ
thống các câu hỏi và kỹ thuật khai thác kiến thức của giáo viên.
- Bước 6: Giáo viên cần quan sát học sinh thông qua cách trả lời các câu hỏi.
Từ đó, giáo viên có thể đánh được khả năng tiếp nhận và vận dụng kiến thức của
học sinh, để áp dụng phương pháp dạy học phù hợp.
3/. Nội dung chi tiết
3.1 Cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê
3.1.1 Hoàn cảnh lịch sử
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ám hại. Theo luật lệ phong kiến, Đinh
Toàn mới có 6 tuổi lên ngôi vua, triều đình suy yếu. Nhà Tống quyết định xuất
quân xâm lược nước ta. Vua Tống Thái Tông điều động quân tướng ở Quảng
Đông, Quảng Tây và vùng Kinh Hồ, chia làm ba đạo quân tiến đánh nước ta. Một
đạo do Hầu Nhân Bảo chỉ huy từ Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây) vào châu
Ngân Sơn (Cao Bằng, Bắc Kạn); một đạo do Tôn Toàn Hưng và Trần Khâm Tộ
chỉ huy từ vùng Kinh Hồ vào Lạng Sơn; một đạo thủy quân do Lưu Trừng chỉ huy
từ Quảng Đông theo đường biển qua vịnh Hạ Long, rồi vào sông Bạch Đằng. Kế

cọc ngầm đã chặn đánh quyết liệt. Thủy quân Tống bị đánh thiệt hại nặng, phải lui
quân. Đây là chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai trong lịch sử chiến tranh Việt
Nam.
Hầu Nhân Bảo không nhận được tin tức của hai đạo quân kia, lại tổ chức đánh
xuống Bình Lỗ. Lê Hoàn đã bố trí trận địa mai phục lớn đợi giặc. Trận đánh diễn
ra quyết liệt với thế chủ động của ta tại vùng Phù Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội). Quân
Tống đại bại, bị tiêu diệt phần lớn, Hầu Nhân bảo cũng bị chết trận.
Đạo quân Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ nghe được tin hai đạo quân bên
phải, bên trái đều bị đánh bại, hoảng sợ vội rút chạy. Quân ta truy kích tiêu diệt
phần lớn đạo quân này.
Cả ba đạo quân đều đại bại, vua Tống phải hạ lệnh bãi binh. Cuộc kháng
chiến chống Tống lần thứ nhất thắng lợi góp phần củng cố nền độc lập dân tộc. Đất
nước được yên hàn trong suốt gần một thế kỷ.
Hầu Nhân Bảo tiến đến Ngân Sơn, vào sông Cầu, chờ quân phối hợp. Tôn
Toàn Hưng lại chủ trương chờ cho được tin đạo quân của Lưu Trừng mới hành
động. Nghe ngóng tin tức của Lưu Trừng không có gì tiến triển nên hắn nhất định
án binh bất động để chờ đợi. Mãi cho đến khi Lưu Trừng phá được vòng vây, kéo


lên Lạng Sơn, lúc đó hai đội quân Tống mới hội được với nhau. Chúng đi tìm đại
quân Việt để giao chiến thì tìm không thấy, cuối cùng chỉ có cách, cùng nhau quay
về chỗ Tôn Toàn Hưng đang đóng. Ý đồ chiến lược bị bẻ gãy, thế trận liên kết
không thành, chúng không có cách gì thay đổi được tình thế. Hầu Nhân Bảo không
nhận được tin tức của hai đạo quân kia, lại tổ chức đánh xuống Bình Lỗ. Tại đây
Lê Hoàn đã bố trí trận địa mai phục lớn đợi giặc. Trận đánh diễn ra quyết liệt với
thế chủ động của ta tại vùng Phù Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội). Quân Tống đại bại, bị tiêu
diệt phần lớn, Hầu Nhân Bảo cũng bị chém chết tại trận. Đạo quân của Tôn Toàn
Hưng và Trần Khâm Tộ nghe được tin hai đạo quân bên phải, bên trái đều bị đánh
bại, quân giặc hoảng sợ rút chạy về nước, quá nửa cánh quân do Trần Khâm Tộ chỉ
huy chết tại trận. Vua Tống trút tất cả mọi tội lỗi lên đầu bọn tướng tá: Lưu Trừng,

đình khi suy tôn Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn (Tổng chỉ huy quân đội) lên làm


vua. Với quyết định này, cho thấy Thái hậu Dương Vân Nga đã đặt quyền lợi của
quốc gia dân tộc lên hàng đầu, hy sinh quyền lợi của dòng tộc.
Câu hỏi: Phân tích nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống
Tống lần thứ nhất (981) của Lê Hoàn.
Trả lời:
Trong cuộc kháng chiên chống Tống lần thứ nhất (981) cho thấy trình độ nghệ
thuật quân sự của dân tộc Đại Cồ Việt lúc này đã có sự phát triển mới, từ nghệ
thuật quân sự của chiến tranh giải phóng sang chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thể hiện
qua các mặt sau: Nghệ thuật chủ động bố trí thế trận; Khéo lợi dụng địa hình, địa
thế; Chọn đúng đối tượng tác chiến; Biết dùng mưu kế và sự phối hợp tác chiến
giữa quân chủ lực và dân binh ở các địa phương.
* Chủ động bố trí thế trận
Biết trước âm mưu của nhà Tống sang xâm lược, và mục tiêu là cố chiếm cho
kỳ được thành Hoa Lư, Lê Hoàn đã nhanh chóng xác định đúng phương hướng
chống phá, không bị động ngồi chờ đánh giặc. Từ tháng 11 năm 980, nhà vua trực
tiếp dẫn đại quân ra miền địa đầu đất nước bố phòng, sẵn sàng đón đánh các đạo
quân giặc ngay khi chúng vừa xâm phạm lãnh thổ nhằm "lấy quân nhàn đợi quân
mệt”. Chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của quân Tống bị phá sản. Chính lúc
đó Lê Hoàn chủ động mở cuộc phản công chiến lược, đánh trận quyết chiến Bạch
Đằng và giành được thắng lợi.
* Lợi dụng địa hình, địa thế
Biết rõ âm mưu của quân Tống, Lê Hoàn đã dựa vào hình sông thế núi hiểm
trở của đất nước mà bố phòng các đồn lũy, đắp xây thành Bình Lỗ, đặc biệt là đóng
cọc ngăn sông Bạch Đằng. Với vị trí hiểm yếu tự nhiên của sông Bạch Đằng, binh
lực của Đại Cồ Việt ở đây bố trí không cần quá nhiều mà vẫn có thể cầm giữ, ngăn
cản bước tiến quân địch.
* Chọn đúng đối tượng tác chiến

mọi miền đất nước đã thực sự phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu chống giặc
ngoại xâm của quân dân Đại Cồ Việt. Những trận đánh lớn, ngoài quân chủ lực của
triều đình còn có sự tham gia rất tích cực của các đội dân binh địa phương. Dân
binh các làng xã còn thường xuyên tập kích, quấy rối những lúc quân địch đang
dẫm chân tại chỗ, chưa tiến được khiến cho quân Tống bị tiêu hao lực lượng, tinh
thần hoang mang.
3.2 Cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý
3.2.1 Nguyên nhân
Dưới triều Lý, đất nước ta có một bước phát triển vượt bậc. Kinh tế phát triển
mạnh, quốc phòng được tăng cường, đặc biệt quân đội đời Lý đã đạt đến trình độ
tổ chức, huấn luyện và trang bị khá cao. Quốc gia thống nhất được củng cố; quan
hệ với các nước trong khu vực mở rộng và được các nước nể trọng. Thế, lực nước
ta lúc đó đang vững mạnh.
Nhà Tống là quốc gia lớn mạnh nhưng đang gặp nhiều khó khăn. Phía Bắc và
Tây Bắc bị các nước Liêu, Hạ uy hiếp. Trong nước thì mâu thuẫn giai cấp gay gắt,
các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng lên. Triều đình chia bè chia cánh tranh giành
quyền lực. Tống Thần Tông và Tể tướng Vương An Thạch chủ trương xâm lược
nước ta, vừa thỏa mộng bành trướng từ lâu, vừa nhằm hướng mâu thuẫn ra bên
ngoài và nếu thắng, với oai thắng trận đó, vừa giải quyết được mâu thuẫn nội bộ,
vừa chế áp được các nước Liêu, Hạ. Với ý nghĩa chiến lược như vậy nên nhà Tống
chuẩn bị cho cuộc xâm lược khá cẩn thận. Ở gần biên giới phía Bắc nước ta, chúng
chuẩn bị những căn cứ xâm lược ở các thành trì lớn như Ung Châu, Khâm Châu,
Liêm Châu, lấy đây làm nơi xuất phát và dự trữ hậu cần trong chiến tranh. Ở phía
Nam, chúng còn xúi giục Chiêm Thành quấy phá biên giới, âm mưu đánh nước ta
từ hai phía Bắc, Nam.
3.2.2 Diễn biến
Đánh nước ta, nhà Tống tuy lực có mạnh nhưng thế không mạnh. Triều đình
nhà Lý, đặc biệt là Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt đã theo dõi và nắm tình hình
chặt chẽ. Sự chuẩn bị kháng chiến cũng rất chủ động. Nhà Lý vừa lo ổn định vững


công để tự vệ của Lý Thường Kiệt. Đây là cuộc tập kích chiến lược đầu tiên và
cũng là duy nhất trong lịch sử chống xâm lược phương Bắc.
Cuộc tập kích đã kích thích sĩ khí quân dân ta, chủ động chuẩn bị cuộc kháng
chiến. Trái lại, lực lượng xâm lược Tống đã bị tiêu hao suy yếu một phần do thất
trận, mâu thuẫn nội bộ bị khoét sâu, do đó mất thế chủ động trong chiến tranh.
Sau khi rút quân về nước, Lý Thường Kiệt dàn thế trận kháng chiến. Qua cuộc
tập kích sang đất Tống và các tin tức do thám, Lý Thường Kiệt biết chắc quân xâm
lược sẽ vào theo hướng Bắc và Đông Bắc rồi tiến đến mục tiêu chính là chiếm kinh
thành Thăng Long.
Trên những con đường tiến quân của địch, ông bố trí các lực lượng quân địa
phương cùng dân binh làm nhiệm vụ kiềm chế và tiêu hao địch. Tại bờ Nam sông
Như Nguyệt (Bắc Ninh) đến Phả Lại (Chí Linh, Hải Dương), ông cho xây một
phòng tuyến vững chắc, chặn đứng mọi đường tiến quân của địch xuống Thăng


Long. Phía trước là dòng sông rộng, ven bờ có nhiều tầng cọc tre, rào tre tạo thành
bãi chướng ngại, quân thủy quân bộ đều khó vượt qua; bên bờ dựng lũy đất cao có
binh lính với vũ khí trang bị đánh quân đổ bộ túc trực ngày đêm. Trên hướng
đường thủy Đông Bắc, một đạo thủy quân trấn giữ vùng duyên hải để ngăn chặn
thủy binh địch, còn đại bộ phần thủy binh đóng ở Vạn Xuân (Phả Lại) cơ động
đánh địch trên các hướng. Đại quân do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy đóng phía
sau chiến lũy, vùng Từ Sơn (Bắc Ninh) chỉ huy, tiếp ứng và công, thủ trên cả hai
hướng thủy, bộ.
Cuối năm 1076, Tống Thần Tông và Tể tướng Vương An Thạch hạ lệnh điều
30 vạn bộ binh và kỵ binh, trong đó có 1 vạn kỵ binh và một đạo thủy quân do
Quách Quỳ làm chánh tướng và Triệu Tiết làm phó tướng xuất quân đánh nước ta.
Với lực lượng mạnh, các mũi tấn công tập trung nên quân Tống đã vượt qua các
lực lượng đánh ngăn chặn của quân ta ở vùng biên giới, nhanh chóng tiến đến bờ
Bắc như sông Như Nguyệt. Bị phòng tuyến Như Nguyệt chặn lại, quân Tống rải
quân đóng trên trận tuyến dài 30 km từ bến đò Như Nguyệt đến chân núi Nham

chiến chống Tống lần thứ hai thắng lợi hoàn toàn. Đập tan ý chí xâm lược của nhà
Tống, 200 năm sau nhà Tống còn tồn tại nhưng không dám nói đến việc xâm lược
nước ta một lần nào nữa.
Cuộc kháng chiến chống Tống đời Lý có vị trí đặc biệt trong lịch sử chiến
tranh chống giặc ngoại xâm cũng như lịch sử phát triển của dân tộc ta. Dựa vào sự
đánh giá đúng đắn tương quan thế và lực giữa ta với địch, tạo thời cơ chủ động
sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh kết hợp với tính chất chính nghĩa của
cuộc chiến tranh tự vệ, lòng nhân ái khoan dung của dân tộc ta thể hiện rõ rệt trong
giải quyết giữa đánh và đàm. Đánh cho quân địch thiệt hại nặng, đè bẹp ý chí xâm
lược của chúng thì chủ động thương lượng đuổi quân địch khỏi đất nước ta, kết
thúc chiến tranh, khôi phục nền độc lập. Truyền thống vừa đánh vừa đàm trong
chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta bắt đầu từ đây.
Cuộc kháng chiến chống Tống đời Lý còn có bước phát triển mới về ý chí độc
lập tự chủ, quyền bình đẳng và bất khả xâm phạm của dân tộc ta qua bài thơ bất hủ
như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, tương truyền của Lý Thường Kiệt:


“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phậm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Được dịch là:
“Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”
3.2.4 Vận dụng kiến thức để làm bài tập
Câu hỏi: Những nét cơ bản của cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý
(1075-1077)
Trả lời:

nhà Tống.
- Sự đồng long đánh giặc của quân dân nhà Lý dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài
giỏi của Lý Thường Kiệt.
- Là cuộc chiến tranh nhân dân để lại nhiều bài học quý báu cho lịch sử đấu
tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Câu hỏi: Tư tưởng chủ động của nhà Lý trong cuộc kháng chiến chống
Tống (1075-1077) được thể hiện như thế nào?
Trả lời:
- Chủ động giải quyết mâu thuẫn nội bộ trong chính quyền trung ương, đoàn
kết nhân dân chống giặc: mời Tể tướng Lý Đạo Thành về triều cùng lo việc nước.
- Chủ động tấn công sang đất Tống, chủ trương “Tiên phát chế nhân”: năm
1075, Lý Thường Kiệt đã chỉ huy 10 vạn quân vượt biên giới đánh sang đất Tống,
tân công châu Khâm, châu Liêm, bao vậy thành Ung Châu, đánh tan toàn bộ sự
chuẩn bị của nhà Tống rồi chủ động rút lui về nước.
- Chủ động rút lui, xây dựng phòng tuyến chặn giặc: sau khi rút về nước, Lý
Thường Kiệt đã cho chuẩn bị sẵn thế trận đánh giặc, quan trọng nhất là tuyến
phòng thủ trên sông Như Nguyệt.
- Chủ động trong tiến công: Năm 1077, Quách Quỳ chỉ huy 30 vạn quân sang
xâm lược nước ta và vấp phải phòng tuyến kiên cố của nhà Lý. Lý Thường Kiệt đã
chỉ huy quân dân chủ động kết hợp những cuộc công kích nhỏ với những trận
quyết chiến, đẩy địch vào thế bị động,…
- Chủ động kết thúc chiến tranh: Khi quân Tống ở vào thế “tiến thoái lưỡng
nan”, ý chí xâm lược bị đè bẹp thì Lý Thường Kiệt đã chủ động đề nghị giảng hòa
để kết thúc chiến tranh, “Dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tổn
xương máu mà bảo tồn được tôn miếu,…”, xây dựng quan hệ hòa hiếu với nhà
Tống, mở ra thời kì hòa bình, tránh tổn thất.
Câu hỏi: Bối cảnh và ý nghĩa của bài thơ “Thơ thần” của Lý Thường Kiệt?
Trả lời:
* Bối cảnh
Vào năm 1077, quân Tống kéo đến bên kia bờ sông Như Nguyệt, Lý Thường

muốn đánh chiếm Đại Việt để tạo thế "gọng kìm" bao vây Nam Tống. Các đoàn
ngoại giao của Mông Cổ được phái sang Đại Việt đề nghị mở đường cho quân đội
Mông Cổ đi qua để lên đất Tống. Nhưng các vua Trần không những từ chối lại còn
cho bắt giam các nhà ngoại giao Mông Cổ.
3.3.2 Diễn biến
* Lần thứ nhất: tháng Giêng nǎm 1258. Bấy giờ, vua chúa Mông Cổ đang
tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm Trung Quốc. Bên cạnh những đạo quân ồ ạt
đánh vào đất Tống, một đạo quân khoảng bốn vạn người, gồm kỵ binh Mông Cổ
và binh lính người Thoán Vân Nam, do tướng Ngột Lương Hợp Thai
(Uryangquadai) chỉ huy, từ Vân Nam đánh xuống Đại Việt. Vua Trần là Thái Tông
đã đem quân lên chặn giặc ở Bình Lệ Nguyên, bên sông Cà Lồ. Nhưng sau đó,
quân ta rút lui để bảo toàn lực lượng trước thế mạnh ban đầu của giặc.
Quân ta rút lui, bỏ Thǎng Long lại phía sau, nhưng Triều đình nhà Trần và
quân dân vẫn không nao núng. Vua tôi nhà Trần đã bàn phương lược đánh giặc
trên những con thuyền xuôi sông Hồng. Khi được Thái Tông hỏi ý kiến, Thái sư
Trần Thủ Độ đã trả lời: ''Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo".
Giặc đóng ở Thǎng Long, trong một toà thành trống, đã khốn đốn vì thiếu
lương thực. Chúng cố đánh ra xung quanh để cướp lương thực, nhưng ở đâu cũng
gặp sức chống trả mãnh liệt của nhân dân. Vì vậy mà chỉ sau 9 ngày, chúng đã vô
cùng hốt hoảng. Đó chính là thời cơ để quân ta phản công. Ngày 29/l/1258, Vua
Trần Thái Tông đã đem binh thuyền ngược sông Hồng tiến về Thǎng Long. Quân


địch bị đánh bật khỏi Kinh thành, theo đường cũ, chạy về Vân Nam. Trên đường
tháo chạy, chúng còn bị quân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi tập kích, đánh
cho tan tác.

* Lần thứ hai: Sau thất bại lần thứ nhất, bọn vua chúa Mông Cổ vướng vào
cuộc nội chiến (1259 -1264) và cuộc chiến tranh với Tống (1267-1279) nên chưa
thể tiếp tục ngay cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mãi đến nǎm 1279, nhà

quân tiến về Thǎng Long.
Lần thứ ba, quân dân nhà Trần lại bỏ ngỏ Thǎng Long. Quân Nguyên vào
Thǎng Long ngày 2/2/1288. Ngay sau đó, Thoát Hoan vội sai ô Mã Nhi đem chiến
thuyền ra biển đón thuyền lương của Trương Vǎn Hổ. Nhưng thuyền còn đâu nữa.
Không có lương thực, đạo quân Thoát Hoan đóng ở Thǎng Long lâm vào tình thế
khốn quẫn.Thoát Hoan phải ra lệnh rút quân về Vạn Kiếp. Trên đường rút về Vạn
Kiếp, giặc bị quân ta chặn đánh ở cửa Ba Sông, vùng Phả Lại. Kéo về đóng ở Vạn
Kiếp, đạo quân xâm lược vẫn bị quân ta tập kích ngày đêm. Trước nguy cơ bị tiêu
diệt, bọn tướng Nguyên đã nói với Thoát Hoan: ''ở Giao Chỉ, không có thành trì để
giữ, không có lương thực đủ ǎn, mà thuyền lương của bọn Trương Vǎn Hổ lại
không đến. Vả lại khí trời đã nóng nực, lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống
đỡ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên bảo toàn quân mà về thì hơn”. Trước
tình hình đó, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường: cánh quân
bộ rút qua vùng Lạng Sơn, còn cánh quân thuỷ sẽ rút ra biển theo sông Bạch Đằng.
Kế hoạch rút lui của giặc không nằm ngoài dự liệu của Trần Hưng Đạo. ông
đã bố trí chặn giặc ở vùng biên giới và chuẩn bị cho một trận quyết chiến lớn trên
sông Bạch Đằng. Từ tháng 3, quân sĩ và nhân dân đã đẵn gỗ lim, gỗ táu ở rừng về
đẽo nhọn, đóng xuống lòng sông, làm thành những bãi cọc lớn. Thuỷ quân và bộ
binh ta đã phục sẵn trong các nhánh sông và các khu rừng rậm ven sông Bạch
Đằng, chờ ngày tiêu diệt địch.


3.3.3 Kết quả
Sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch
Đằng. Khi đoàn thuyền giặc lọt vào trận địa mai phục của ta thì từ các nhánh sông,
các thuyền nhẹ của ta lao ra, đánh tạt vào sườn giặc, dồn chúng vào các bãi cọc.
Giặc định áp thuyền sát bờ, đổ quân chiếm lấy núi cao để yểm hộ cho đoàn thuyền
rút, nhưng bị bộ binh ta đánh hắt xuống. Một trận kịch chiến ác liệt đã xảy ra.
Nước triều xuống gấp, thuyền giặc to nặng, lao nhanh theo dòng nước, vướng cọc,
tan vỡ rất nhiều. Cho đến giờ dậu (5-7 giờ tối), toàn bộ đạo quân thuỷ của giặc bị

xâm lược của đế chế Mông – Nguyên, đánh bại một kẻ thù hùng mạnh và tàn bạo
nhất thế giới lúc bấy giờ, bảo vệ nền độc lập dân tộc.
- Thắng lợi này đã khẳng định sức mạnh của dân tộc ta, nâng cao lòng tự hào
dân tộc.
- Góp phần vun đắp them truyền thống chiến đấu chống kẻ thù, làm phong
phú kho tang quân sự chiến đấu chống ngoại xâm.
- Góp phần ngăn chặn cuộc xâm lược của quân Mông – Nguyên vào các nước
phương Nam.
Câu hỏi: Diễn biến của chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Ý nghĩa của
chiến thắng này?
Trả lời:
* Tóm tắt diễn biến:
- Tháng 1/1288, Thoát Hoan chia làm ba đạo quân tiến vào Thăng Long. Tại
đây, ta thực hiện “vườn không, nhà trống”. Quân Mông – Nguyên ngày càng rơi
vào tình thế lung túng, khó khăn. Thoát Hoan quyết định rút quân về nước.
- Nhân cơ hội này, vua Trần và Trần Quốc Tuấn mở cuộc phản côn và tiến
hành bố trí quân mai phục ở sông Bạch Đằng.
- Tháng 4/1288, đoàn quân Ô Mã Nhi rút theo đường thủy trên sông Bạch
Đằng. Khi quân Ô Mã Nhi tiến đến bãi cọc, quân Trần khiêu khích rồi bỏ chạy,
chờ nước triều xuống, tổ chức phản công. Quân Ô Mã Nhi bị tiêu diệt.
- Cách quân của Thoát Hoan từ Vạn Kiếp đến Lạng Sơn rút qua Quãng Tây
(Trung Quốc) cũng bị truy kích và tiêu diệt. Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi.
* Ý nghĩa:
- Chiến thắng Bạch Đằng 1288 mãi mãi đi vào lịch sử như một biểu tượng của
truyền thống yêu nước, bất khuất, quật cường của dân tộc ta.
- Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đã làm cho kẻ thù khiếp sợ, từ bỏ ý đồ xâm
lược nước ta.


Câu hỏi: Phân tích những nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến

long tự hào, tự cường chính đáng của dân tộc ta, củng cố niềm tin cho nhân dân.
- Thắng lợi đó đã góp phần xây dựng nên truyền thống quân sự Việt Nam,
truyền thống chiến đấu của một nước nhỏ nhưng luôn luôn phải chống lại kẻ thù
mạnh hơn nhiều đến xâm lược.
- Thắng lợi trong ba lần kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên không
những bảo vệ được độc lập của Tổ quốc mà còn góp phần ngăn chặn những cuộc
xâm lược của quân Nguyên đối với Nhật bản và các nước phương Nam, làm thất
bại mưu đồ thôn tính miền đất còn lại ở châu Á của Hốt Tất Liệt.


Câu hỏi: Lòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của toàn quân, toàn
dân ta thể hiện như thế nào qua các cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông –
Nguyên (thế kỉ XIII)?
Trả lời:
* Hoàn cảnh lịch sử
- Thế kỉ XIII, trên bước đường ổn định và phát triển đất nước dưới thời Trần,
nhân dân Đại Việt lại phải đương đầu với một cuộc thử lửa lớn lao kéo dài 30 năm.
Quân Mông – Nguyên đã 3 lần đánh xuống nước ta (các năm 1258, 1285, 1288).
- Dưới sự chỉ huy của vị thống soái, nhà quân sự thiên tài Trần Hưng Đạo, “cả
nước đứng dậy” cầm vũ khí, gậy gộc chiến đấu dũng cảm, quyết bảo vệ Tổ quốc.
* Lòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của toàn quân, toàn dân
- Năm 1282, nhà Trần triệu tập hội nghị Bình Than, hội nghị của những ngời
trong bộ máy triều đình, thiết lập khối đoàn kết của quý tộc và tướng lĩnh.
- Năm 1285, Hội nghị Diên Hồng đặt được cơ sở vững chắc để xây dựng khối
đoàn kết nhất trí to lớn của nhân dân, biến quyết tâm của triều đình thành quyết
tâm của cả dân tộc, là một trong những đỉnh cao của nghệ thuật tập hợp lực lượng
toàn dân.
- Bài Hịch của Trần Hưng Đạo có đoạn “Ta thường tới bữa quên ăn… nghìn
thay ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm”, đã thổi bùng ngọn lửa căm thù,
lòn quyết tân giết giặc, tự thích vào tay hai chữ “Sát Thát” của quân dân ta.

trong vấn đề bảo vệ Biển Đông hiện nay?
Trả lời:
* Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Nguyên – Mông thế kỉ XIII
- Sự đoàn kết nhất trí, đồng lòng của nhân quân dân nhà Trần, cùng với truyền
thống chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta đã làm nên mọi thắng lợi.
- Có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh, quá trình chuẩn bị chu đáo của
quân dân nhà Trần cho các cuộc kháng chiến.
- Có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của các vua Trần yêu nước và nhà quân sự
thiên tài Trần Hưng Đạo cùng hàng loạt tướng lĩnh tài năng.
- Nhà Trần đặt quyền lợi dân tộc lên trến tất cả mọi quyền lợi cá nhân, giải
quyết những bất hòa nội bộ để đoàn kết chống quân xâm lược.
* Bài học kinh nghiệm cho quá trình đấu tranh chống ngoại xâm của dân
tộc ta
- Xây dựng tình đoàn kết quân dân.
- Huy động sức dân, phát huy nội lực từ nhân dân.
- Xây dựng kinh tế đi đôi với quân sự vững mạnh để đảm bảo sức chiến đấu.
- Trọng dụng nhân tài.
* Đảng và Nhà nước ta ứng dụng bài học kinh nghiệm trong vấn đề bảo vệ
Biển Đông hiện nay
- Xây dựng tình đoàn kết quân dân: đưa dân ra các hải đảo sinh sống, tạo điều
kiện và hỗ trợ cho nhân dân phát triển kinh tế trên đảo...
- Huy động sức dân, phát huy nội lực từ nhân dân: bằng việc vận động nhân
dân xây dựng các nguồn quỹ như “vì Trường Sa thân yêu”, “vì nghĩa tình biên
giới hải đảo”...
- Phát triển kinh tế đất nước, tập trung huấn luyện quân sự...
- Chính sách đãi ngộ cho những quân nhân đang làm nhiệm vụ ngày đêm bám
biển...



Trước tình thế hiểm nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm
1422. Đến năm 1423, khi thực lực được củng cố, lại thấy quân Minh bắt giữ sứ giả,
Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà.
* Tiến vào Nam (1424-1425)
Theo kế của Nguyễn Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng
bằng Nghệ An. Tiến vào Nghệ An là một bước ngoặt về chiến thuật trong cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn.
Chiến dịch giải phóng Nghệ An là một chiến dịch lớn của nghĩa quân Lam
Sơn thực hiện trong các năm 1424-1425 nhằm giải phóng lãnh thổ, thành lập chiến



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status