SKKN : Một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử ở trường THCS - Pdf 56

Một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở
trường THCS
MỤC LỤC

MỤC LỤC
Danh mục các từ đã viết tắt
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích, dối tượng nghiên cứu
3. Nội dung, ý nghĩa của việc nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lí luận
1.2. Cơ sở thực tiễn
2. Các biện pháp tiến hành, thời gian nghiên cứu
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.2. Thời gian tiến hành
3. Mô tả phân tích cụ thể các giải pháp
3.1. Yêu cầu của một học sinh giỏi
3.2. Cách chọn học sinh giỏi
3.3. Yêu cầu một bài Lịch sử đạt hiệu quả
4. Xây dựng chương trình giảng dạy
5. Tiến hành bồi dưỡng
5.1. Cung cấp kiến thức
5.2. Rèn luyện kĩ năng
6. Khả năng áp dụng
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận chung
2. Khuyến nghị

19
25
1


DANH MỤC CÁC TỪ ĐÃ VIẾT TẮT

STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Các từ được
viết tắt
THCS
SGK
HSG
VN
BCHTW
CNXH
XHCN
TBCN


thịnh đòi hỏi phải có những nhân tố, có những người tài để giúp nước. Hiện
nay, chúng ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia nhập WTO
thì nhân tài là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự tiến
bộ của khoa học công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới đồng
thời giúp chúng ta thành công trong phát triển đất nước.
Thực hiện mục tiêu đó, ngành giáo dục của chúng ta đang cố gắng
hướng đến sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh.
Ở các trường Trung học cơ sở hiện nay, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo
dục, nâng cao chất lượng đại trà, việc chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi đang
được nhiều cấp bộ chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm nhưng
nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và
Nhà nước đã đề ra.
Thực tế hiện nay ở các trường Trung học cơ sở công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi, trong đó có việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã được chú
trọng, song vẫn còn những bất cập nhất định như: cách tuyển chọn, phương
pháp giảng dạy còn yếu kém, chưa tìm ra được hướng đi cụ thể cho công tác
này, phần lớn chỉ làm theo kinh nghiệm. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu
quả bồi dưỡng không đạt như mong muốn.
Mặt khác, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử
trong đời sống xã hội. Không ít học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường
bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm
bài tập, không cần đầu tư phí công vô ích. Dẫn đến hậu quả học sinh không
nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là
hiện tượng khá phổ biến trong thực tế.
Là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường THCS, học sinh của
trường phần lớn là con em nông dân, đời sống kinh tế còn khó khăn, học sinh
ít được tiếp cận với các vấn đề lịch sử, văn hóa chuyên sâu từ các kênh thông
tin.
Băn khoăn trước thực trạng đó, tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để nâng cao kiến

Đề tài được xây dựng từ việc tích lũy những kinh nghiệm trong quá
trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trường ở Trung học cơ sở trên địa
4


bàn huyện thuộc thành phố TP.HCM.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Cơ sở lý luận:
Dân tộc Việt Nam có lịch sử từ lâu đời, với quá trình hàng nghìn năm
dựng nước và giữ nước. Nhân dân ta không chỉ có truyền thống dân tộc anh
hùng mà còn có kinh nghiệm phong phú, quý báu về việc giáo dục lịch sử cho
thế hệ trẻ, về việc rút bài học quá khứ cho cuộc đấu tranh và lao động trong
hiện tại. Kiến thức lịch sử góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính
sách, trở thành vũ khí sắc bén trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Ngày
nay, “cùng với quá trình quốc tế hóa ngày càng mở rộng thì trở về nguồn
cũng là một trong những xu thế chung của các dân tộc trên thế giới. Với
chúng ta, đó chính là sự tìm tòi, phát hiện ngày càng sâu sắc hơn những
đặc điểm của xã hội Việt Nam, những phẩm chất cao quý, những giá trị
truyền thống và những bài học lịch sử giúp chúng ta lựa chọn và tiến hành
bước đi thích hợp, hướng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh”(theo nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười) .
Chất lượng bộ môn Lịch sử được đánh giá không phải bằng việc ghi
nhớ nhiều sự kiện mà cần hiểu đúng lịch sử. Như cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã từng viết: “Lịch sử đâu phải là một chuỗi sự kiện để người viết sử
ghi lại, rồi người giảng sử đọc lại, người học sử học thuộc lòng”. Điều
quan trọng là qua học tập, “chúng ta thấy được cái gì qua các thời đại lịch
sử và từ đó chúng ta rút ra được kết luận gì, bài học gì. C. Mác- một nhà
sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đã vũ trang cho chúng ta một phương
pháp luận đúng đắn để nghiên cứu lịch sử, để rút ra những kết luận có ý

- Vận dụng các kiến thức vào thực tiễn của cuộc sống.
- Biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập và cuộc
sống hàng ngày.
1.2. Cơ sở thực tiễn
*Thuận lợi:
- Trong hệ thống các môn học ở trường Trung học cơ sở, trong đó có
6


môn lịch sử cũng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, giáo dưỡng học
sinh lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc… là hành trang quan
trọng cho học sinh tiếp tục ở những bậc học tiếp theo.
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu và các đoàn thể trong nhà
trường và sự quan tâm của đa số các bậc phụ huynh và học sinh.
- Thầy, cô giáo cùng bộ môn ở các trường trong huyện đều nhiệt tình
tích cực, trao đổi phương pháp, kinh nghiệm chuyên môn, thông qua hội thảo,
chuyên đề, thao giảng, sử dụng công nghệ thông tin…góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học môn Lịch sử.
- Được một số học sinh yêu thích và quyết tâm học tập môn lịch sử,
tham gia ôn tập dự thi học sinh giỏi cấp huyện.
* Khó khăn:
- Quan niệm xã hội về vị trí môn Lịch sử là môn phụ.
- Quan niệm chưa đầy đủ của một số nhà quản lý giáo dục, phụ huynh
học sinh và cả giáo viên.
- Học sinh chưa dành thời gian thường xuyên cho việc học môn tập bộ
môn Lịch sử.
- Khối lượng kiến thức môn Lịch sử ở một số bài còn dàn trải khá nặng,
một số giáo viên còn bị động trong khai thác kiến thức, chưa mạnh dạn để
học sinh tự tìm hiểu một phần kiến thức nào đó trong bài dưới sự hướng dẫn
của giáo viên.

2. Các phương pháp tiến hành, thời gian nghiên cứu.
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Tôi tiến hành nghiên cứu các sách giáo trình lịch sử và những tư liệu có
liên quan phục vụ cho việc giảng dạy môn Lịch sử để biên soạn giáo án bồi
dưỡng cho học sinh giỏi.
Qua các kênh thông tin, qua chương trình dạy học, qua chương trình
tập huấn thay sách, chương trình bồi dưỡng thương xuyên, qua cách ra đề thi
học sinh giỏi những năm gần đây…, tôi nhận thấy sự chuyển biến rõ nét trong
cấu tạo đề kiểm tra, đề thi đại học, cao đẳng – đặc biệt là đề thi học sinh giỏi.
2.2. Thời gian tiến hành
8


Qua 10 năm học (2006-2007 đến năm học 2015-2016) đảm nhận việc
dạy bồi dưỡng cho đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử của ở Trung học cơ sở,
tôi đúc kết được những kinh nghiệm ôn luyện học sinh giỏi môn Lịch sử, tôi
đã rút ra được cần phải (chọn sát đối tượng học sinh, phương pháp ôn luyện
…).
3. Mô tả, phân tích cụ thể các giải pháp:
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
- Làm rõ lý luận và thực trạng trong công tác dạy - học và bồi dưỡng
học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở.
- Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở
trường Trung học cơ sở .
MÔ TẢ GIẢI PHÁP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Yêu cầu chung:
3.1 Yêu cầu một học sinh giỏi
- Nhiều người thường nghĩ Lịch sử là môn học thuộc lòng nhưng thật ra
muốn học giỏi thì phải đọc và hiểu sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử theo kiểu
“mưa dầm thấm lâu”. Nhưng quan trọng nhất, người học giỏi lịch sử phải

theo yêu cầu của đề bài. Hơn nữa, học sinh ấy phải biết trình bày một bài làm
Lịch sử có hệ thống, logic,…
3.2. Cách chọn học sinh giỏi.
- Lâu nay tôi thường chọn học sinh giỏi theo quy trình: Tuyển chọn đội
tuyển vào cuối mỗi năm học để bồi dưỡng, động viên trong thời gian hè. Vào
đầu mỗi năm học mới tiếp tục chọn lần hai và tăng cường bồi dưỡng để tham
gia ôn tập dự thi cấp huyện. Việc chuyển chọn như vậy tôi thấy hiệu quả. Mặt
khác đối với bộ môn Lịch sử tôi thấy việc tuyển lựa rất khó, do học sinh cứ
xem thường môn học cho đó là môn học phụ. Nên giáo viên dạy môn lịch sử
phải lựa chọn đối tượng sau cùng. Những em có năng khiếu đặc biệt thường
thích ôn luyện các môn học tự nhiên. Vì có kiến thức cơ bản, vững vàng các
em cần nắm rõ các công thức, quy tắc, định nghĩa, định lí rồi linh hoạt nhạy
bén, áp dụng để làm bài. Còn các môn học ít tiết như Lịch sử, Địa lí cần học
bài dài và nhiều nên phần đông các em rất chán.
10


- Kết hợp khi dạy trên lớp tôi thường ra đề kiểm tra theo hướng mở
hoặc đưa ra những câu hỏi, bài tập nhận thức để khuyến khích học sinh có sự
đầu tư, sáng tạo khi trả lời trước tập thể lớp hay viết trong làm bài và thưởng
điểm cho những học sinh biết cách làm bài đúng theo yêu cầu và có sáng tạo.
- Tôi tiến hành chọn những học sinh có khả năng phát hiện và giải
quyết vấn đề nhanh, đúng bản chất sự kiện, vấn đề lịch sử. Trong bài viết, tôi
đặc biệt chú ý những bài học sinh trả lời đúng yêu cầu thể hiện nắm vững
kiến thức, trình bày, lập luận logic, kết hợp chữ viết rõ ràng, nếu viết đẹp
càng tốt.
- Trong những năm gần đây, việc lựa chọn học sinh giỏi môn Lịch sử
vào đội tuyển của trường, qua các bài kiểm tra phát hiện học sinh có năng
khiếu, có sự yêu thích học Lịch sử tôi trực tiếp gặp các em để tìm hiểu tâm lý,
khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các em tham gia vào đội tuyển

- Phải biết suy luận: Bài làm môn Lịch sử cần đi thẳng vào vấn đề,
không viết rườm rà, dẫn đến lạc đề. Hãy đọc kỹ đề bài, hiểu rõ câu hỏi và
thiết kế những kiến thức đã học theo ý đồ của câu hỏi, đừng bắt câu hỏi phải
đi theo kiến thức có sẵn của mình. Học sinh phải biết chọn ra những chi tiết,
sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài.
- Không được phép làm bài theo kiểu nhớ mang máng. Môn Lịch sử là
một môn học tuyệt đối kỵ với các khái niệm mù mờ.
Ví dụ không được nhớ nhầm “Mặt trận dân tộc thống nhất” thành “Mặt
trận thống nhất dân tộc”. Không được viết lẫn lộn giữa những chữ “đấu
tranh”,“chiến đấu”, “khởi nghĩa”…
- Một bài viết Lịch sử hay là bài viết của học sinh đó biết thổi hồn vào
những con số, phải tái hiện được sự kiện, hiện trượng, vấn đề lịch sử.
4. Xây dựng chương trình giảng dạy
Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường. Vì ở
lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng (khá- giỏi, trung bình và
yếu kém). Song dạy cho học sinh giỏi là ta dạy để đưa các em đi dự thi. Đối
tượng dự thi đều ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức. Vì vậy, việc xây
dựng nội dung chương trình là hết sức cần thiết. Đây là công việc quan trọng
12


đầu tiên sau khi thành lập đội tuyển. Tôi xây dựng chương trình – kế hoạch
bồi dưỡng theo tiến trình phát triển của Lịch sử gồm 2 phần như sau:
1) PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI:
Lịch sử thế giới hiện đại (Từ 1945 đến nay)
2) PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM:
- Lịch sử Việt Nam từ 1858-1918.
- Lịch sử Việt Nam từ 1919- 1954:
* Giai đoạn Việt Nam từ (1919-1930).
* Giai đoạn Việt Nam từ (1930-1945).

không phải nhồi nhét kiến thức cho học sinh.
Từ các chuyên đề là công cụ giúp học sinh giải quyết tốt các loại đề thi.
Tôi tiến hành dạy từng chuyên đề phù hợp với khả năng và chương trình cho
học sinh bồi dưỡng.
Sau khi dạy xong một chuyên đề, một bài lịch sử, tôi yêu cầu học sinh
phải dành một khoảng thời gian để suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề đó, đặc biệt là
ý nghĩa của sự kiện đó với giai đoạn trước và sau nó.
Ví dụ: như khi học về phong trào Cần Vương thì hãy đối chiếu nó
với phong trào chống Pháp trong những năm 1858 - 1884 hay Phong trào
dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX ...hay như khi học về Cuộc vận động dân chủ
1936-1939 thì phải tìm hiểu xem nó giống và khác gì so với phong trào
1930-1931 hay về sau là với Cuộc vận động giải phóng dân tộc 19391945 ... Làm như vậy sẽ giúp học sinh nhớ được kiến thức và nếu gặp các
dạng bài hệ thống, so sánh ... học sinh làm bài đạt hiệu quả cao hơn.
Theo tôi, để một học sinh được tham gia dự thi môn Lịch sử các cấp
học sinh đó phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Lịch sử – Kiến thức
cơ bản ở đây không chỉ là những sự kiện đơn lẻ mà phải bao gồm hệ thống
những hiểu biết cần thiết về những sự kiện, niên đại, nhân vật, địa danh, các
nguyên lý, quy luật, những kết luận khái quát, phương pháp, kỹ năng. Vì vậy,
khi nắm vững kiến thức học sinh mới có khả năng ứng phó được với các loại
14


câu hỏi, bài tập.
5.2. Rèn luyện kỹ năng
* Kỹ năng tìm hiểu tài liệu
Nội dung chương trình lịch sử quá rộng, tôi không đủ thời gian để dạy
từng bài trong sách giáo khoa, nên việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu trước bài
trong sách giáo khoa là rất quan trọng. Sách giáo khoa Lịch sử Trung học cơ
sở được biên soạn – trình bày theo bài, theo tiến trình thời gian. Tôi đã hướng
dẫn học sinh nắm được mục đích – yêu cầu, những sự kiện quan trọng và

* Kỹ năng phân tích đề
Về các Đề thi học sinh giỏi thường có mấy loại sau đây:
Loại đề hệ thống hóa kiến thức lịch sử: nhằm nêu một số kiến thức cơ
bản nhất để qua đó phác họa bức tranh chung về một thời kỳ, một sự kiện lịch
sử. Song đây không phải là liệt kê kiến thức đơn thuần mà yêu cầu học sinh
biết lựa chọn một số sự kiện chủ yếu, tiêu biểu, được hệ thống hóa để làm toát
lên một chủ đề nhất định.
Ví dụ: Lập bảng kê các các nước tham gia khối ASEAN theo nội
dung sau:
STT Tên nước

Thủ đô

Ngày giành

Nét nổi bật trong tình

độc lập

hình hiện nay

Khi lập bảng hệ thống hóa kiến thức, học sinh phải đọc kỹ đề, hiểu rõ vấn đề
được đặt ra để lựa chọn những kiến thức phù hợp.Lập bảng hệ thống hóa kiến
thức cần phải chia ra các cột, nội dung mỗi cột là một đề mục các cột hợp
thành hệ thống, giải quyết chủ đề được đặt ra.Một số học sinh không được
hướng dẫn kỹ thường viết thành bài tự luận.
- Loại đề thi tự luận: Có nhiều dạng yêu cầu theo mẫu tự luận.
Ví dụ 1: Vì sao Hội nghị BCH TW Đảng (11/1939) chủ trương chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược? Trình bày nội dung và ý nghĩa của Hội nghị này.
Ví dụ 2: Vì sao ta mở chiến dịch Biên giới thu - đông 1950? Chiến

thời kì lịch sử: Đề yêu cầu học sinh phải hiểu rõ quá trình phát triển liên tục,
thống nhất, tính phong phú, đa dạng, cụ thể của các sự kiện, giai đoạn, thời kì
lịch sử. Khi làm loại đề này, học sinh phải nắm vững một vấn đề có tính quy
17


luật trong sự phát triển của lịch sử.Sự kiện xảy ra trước tác động đến sự ra đời
và phát triển của sự kiện tiếp sau, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau.
+ Đề thi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện trong quá trình lịch sử cũng
như loại đề thi vềmối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, song nó tập trung
hơn vào một sự kiện chính; nó nâng cao hơn về mặt khái quát – lý luận.
Ví dụ: Trên cơ sở trình bày mục đích của Hội Duy tân và Việt Nam Quang
phục hội, anh (chị) hiểu gì về tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu?
- Loại bài thi thực hành lịch sử: Yêu cầu học sinh không chỉ có biểu
tượng lịch sử chính xác, giàu hình ảnh mà còn biết vận dụng những kiến thức
đã học vào cuộc sống, lao động và công tác xã hội. Vì vậy, nội dung bài thi
thực hành lịch sử giúp học sinh rèn luyện kỹ năng bộ môn. Những số liệu, câu
hỏi đưa ra trong bài làm cần ngắn gọn, rõ ràng, đầy đủ, dễ hiểu và giải quyết
được vấn đề đặt ra. Đề thi thường gặp vẽ bản đồ, lược đồ gồm sử dụng bản đồ
câm đến vẽ và trình bày theo bản đồ.
Ví dụ 1: Dùng bản đồ câm các nước Đông Nam Á vào nửa sau thế kỉ
XX, ghi tên nước, ngày giành độc lập và tên thủ đô.
Ví dụ 2: Vẽ biểu đồ và tường thuật (viết) diễn biến cuộc Tổng khởi
nghĩa tháng Tám năm 1945.
Để giải quyết được những dạng đề như trên khâu quan trọng là việc
phân tích đề, bởi vì phân tích đề tốt sẽ giúp học sinh xác định, lựa chọn đúng
kiến thức, lập dàn ý dễ dàng.Phân tích đề đúng sẽ tránh trường hợp lạc đề,
lệch đề.
Cấu tạo đề thi học sinh giỏi hiện nay rất nhiều câu, nhiều dạng đề, đòi
hỏi học sinh phải tư duy và xử lý nhanh các kỹ năng phân tích đề, phân bố

2. Dựng khung: Dù thuộc đến mấy cũng không viết ngay vào giấy thi.
Hãy viết dàn ý vào giấy nháp sao cho thật đầy đủ và có hệ thống, đáp ứng yêu
cầu của câu hỏi.
3. Cắm chốt: Ở mỗi phần của dàn ý ấy, ghi những chốt, nghĩa là sự
kiện quan trọng cùng với thời điểm của nó. Như vậy bài làm sẽ không bỏ sót
những sự kiện quan trọng.
4. Viết sạch: Viết vào giấy thi một cách sáng sủa, dễ đọc. Hết mỗi ý
19


chính, mỗi sự kiện nên xuống dòng. Thấy cần thiết để làm nổi bật từng giai
đoạn, từng sự kiện, từng ý nghĩa có thể ghi 1, 2, 3 hoặc a, b, c hoặc gạch đầu
dòng, vì Lịch sử là một môn khoa học xã hội, có thể trình bày một cách có hệ
thống. Như vậy cũng dễ cho người chấm.Bài thi lịch sử trong những năm gần
đây nhiều câu nên học sinh không được chủ quan, viết quá dài - rườm rà.
Chữ nào sai thì dung thước gạch đi, không nên xoá lem nhem, không
đưa vào ngoặc đơn. Nếu trót thiếu cả một đoạn dài, có thể ghi bổ sung xuống
cuối bài. Phải chia thời gian để trả lời đủ các câu hỏi, tránh đầu voi đuôi
chuột, nghĩa là làm bài đầu tiên thì viết bài cẩn thận, đầy dủ, chi tiết, rõ ràng,
mạch lạc, sạch, đẹp, nhưng sau đó thì viết cẩu thả, thiếu ý, tùy tiện thiếu nội
dung hoặc mập mờ không rõ nội dung..
5. Đọc lại: Phải tính toán thời gian, để khi viết bài xong, vẫn còn độ 10,
15 phút. Nhất thiết phải đọc lại bài để sửa chữa những chỗ sai sót nhầm lẫn
rồi mới nộp bài.Đọc lại là khâu rất quan trọng để bài thi được điểm cao hơn.
* Chấm và sửa bài
Một học sinh giỏi không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, vững kỹ năng
mà còn có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh tôi
thường xuyên quan tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh. Bài viết cần
phải được sửa chữa, chỉ bảo cụ thể, để phát huy những cái hay, sửa sai kịp
thời những cái dở, để có sự nhìn nhận đánh giá một cách công bằng, khách

Tỉ lệ %

HS giỏi cấp thành phố
Số lượng
Tỉ lệ %

2016-2017

1/2

50

0

0

2017-2018
2018-2019

2/2
1/2

100
50

1/1
0

100
0

2/2
2/2
2/2

100
100
100

1/1
2/2
2/2

100
100
100

Kết luận: Từ kết quả ở bảng 1 và bảng 2 trên cho thấy kết quả thi học sinh
giỏi bộ môn Lịch sử của nhà trường từ khi áp dụng SKKN đã tăng lên rõ ràng
không những ở cấp huyện mà cả cấp thành phố, góp phần vào bảng thành tích
chung của nhà trường hàng năm.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ:
1. Kết luận chung:
Qua nghiên cứu trình bày ở trên tôi khẳng định mục đích nghiên cứu đặt ra đã
được hoàn tất. Trong quá trình nghiên cứu tôi xin rút ra một số kết luận sau:
- Để bồi dưỡng học sinh giỏi Lịch sử đạt hiệu quả trước hết phải có
những giáo viên vững vàng về kiến thức, kỹ năng thực hành lịch sử.
- Thực sự yêu nghề, tâm huyết với công việc bồi dưỡng học sinh
giỏi.Niềm đam mê là yếu tố rất cần thiết khi bạn muốn dạy tốt và có học sinh
học tốt môn Lịch sử.
- Thường xuyên học hỏi trau dồi kiến thức, đọc sách báo để ngày càng


PHỤ LỤC
MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP LỊCH SỬ
A. PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI:
Câu 1: Hội nghị Ianta (2/1945) diễn ra trong hoàn cảnh nào? Hội nghị đã có
những quyết định quan trọng nào?
Câu 2: Liên Hợp Quốc: Hoàn cảnh ra đời, mục đích, nguyên tắt hoạt động và
vai trò của Liên hợp quốc.
Câu 3: Sự đối lập về chính trị và kinh tế giữa hai khối nước: Tây Âu TBCN
và Đông Âu XHCN như thế nào?
23


Câu 4: Trình bày những thành tựu chủ yếu trong công cuộc xây dựng CNXH
của Liên Xô từ năm 1945 đến giữa những năm 70.Những thành tựu đó có ý
nghĩa gì?.
Câu 5: Trình bày những thành tựu chính các nước Đông Âu đạt được trong
công cuộc xây dựng CNXH từ năm 1950 đến giữa những năm 70. Những
thành tựu đó có ý nghĩa gì?.
Câu 6: Phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của chế độ
XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu.
Câu 7: Sự thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa và ý nghĩa của sự
thành lập nhà nước này? Hãy cho biết đường lối và thành tựu cải cách và mở
cửa của Trung Quốc?.
Câu 8: Trình bày những nét chính về phong trào đấu tranh giành độc lập ở
Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai?.
Câu 9: Qúa trình thành lập, mục tiêu, nguyên tắc và sự phát triển của Hiệp
hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Cơ hội và thách thức của Việt Nam khi
gia nhập tổ chức này?.
Câu 10: Những biến đổi của các nước Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới

nhập quốc tế như thế nào?.
B. PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM:
Câu 20: Nguyên nhân và hoạt động khai thác thuộc địa lần thứ hai
của Pháp ở Việt Nam? Cuộc khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt
Nam làm cho xã hội Việt Nam biến đổi như thế nào?Phân tích khả năng cách
mạng của từng tầng lớp giai cấp xã hội Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới
thứ nhất.
Câu 21: Trình bày những hoạt động yêu nước của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
từ 1919 đến năm 1925.
- Quá trình chuyển biến của Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước trở
thành một người cộng sản đã diễn ra như thế nào?(Gợi ý: trình bày tóm tắt
tiểu sử, những hoạt động yêu nước từ 1911 đến 1925)
Câu 22: Sự ra đời của ba tổ chức Cộng sản trong năm 1929: Hoàn cảnh ra
đời, quá trình hình thành và ý nghĩa lịch sử.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status