1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đẻ non là vấn đề quan tâm hàng đầu của gia đình, xã hội và các cơ
quan y tế trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Đẻ non nhìn
chung chiếm khoảng 5 – 15% trường hợp sinh [1]. Theo nghiên cứu của tổ
chức Y tế thế giới, 50% tử vong sơ sinh và 70% tổn thương di chứng thần
kinh là do non tháng [2]. Cũng theo tác giả Monika (2010), đẻ non không
những để lại hậu quả khá nghiêm trọng về sau cho trẻ mà còn gây tốn kém
cho việc chăm sóc đặc biệt một trẻ sơ sinh non tháng [3]. Trẻ sinh non đối
diện với các bệnh lý nghiêm trọng như hội chứng suy hô hấp, xuất huyết não
thất, viêm ruột hoại tử, chậm phát triển tâm thần kinh, bại não, bệnh lý phối
hợp mạn tính, các rối loạn bệnh lý dạ dày ruột, thị lực và điếc bẩm sinh [2].
Việc phát hiện, điều trị chuyển dạ đẻ non nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong, mắc
bệnh ở trẻ sơ sinh, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội [4].
Tại Việt Nam, tỷ lệ đẻ non gia tăng nhanh trong nhiều năm trở lại đây.
Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2011, tỷ lệ trẻ đẻ non / nhẹ cân chiếm 19%
trong mô hình bệnh tật của trẻ sơ sinh; tỷ lệ tử vong sơ sinh chiếm 59% số tử
vong trẻ dưới 5 tuổi và 70,4% tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi, theo Hôi Phụ sản Việt
Nam 2016.
Cơn co tử cung là động lực của cuộc chuyển dạ. Vì vậy, trong điều trị
chuyển dạ đẻ non, việc cắt cơn co tử cung được xem là một biện pháp có thể
giúp kéo dài thai kỳ, nhất là trong vòng 48 giờ đầu tiên [3]. Mục tiêu là để có
thời gian cho mũi tiêm corticoid có tác dụng và / hoặc có đủ thời gian để
chuyển thai phụ đến các cơ sở y tế có các phương tiện hồi sức sơ sinh chuyên
sâu [4], [5]. Việc sử dụng các thuốc giảm co để ức chế sự co bóp của tử cung
là phương pháp được áp dụng rộng rãi hiện nay trong điều trị dọa đẻ non. Các
loại thuốc phổ biến bao gồm: Spasfon, Magnesium sulfate, Béta – mimetics
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm của đẻ non
1.1.1. Định nghĩa đẻ non
Từ trước tới nay đã có nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau về
đẻ non. Đa số các tác giả đều dựa vào ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng và/
hoặc trọng lượng của thai sau khi sinh.
Theo Copper: đẻ non là cuộc đẻ diễn ra từ 20 tuần đến dưới 37 tuần [11].
Theo Cnattingius: đẻ non là cuộc đẻ diễn ra trước khi hết 36 tuần [12].
Năm 1961 WHO định nghĩa: đẻ non là trẻ đẻ ra có trọng lượng dưới
2500 gr và có tuổi thai dưới 37 tuần [13], hiện nay là trẻ đẻ ra có tuổi thai từ
22 đến dưới 37 tuần.
Ở Việt Nam trước đây đẻ non được tính từ 28 đến 37 tuần, hiện nay theo
“Hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc Sức khoẻ Sinh sản” của
Bộ Y tế đẻ non được tính từ tuổi thai từ 22 tuần đến dưới tuần 37 [14].
1.1.2. Tỷ lệ đẻ non ở Việt Nam và một số nước.
Tỷ lệ đẻ non phụ thuộc vào trình độ dân trí, cơ sở vật chất và các trang
thiết bị y tế, trình độ của thầy thuốc của từng vùng, từng quốc gia và tuỳ từng
điều kiện kinh tế xã hội. Nói chung đẻ non vẫn là một vấn đề phức tạp.
Theo tác giả Cnattingius và cộng sự nghiên cứu tại Thụy Điển từ năm
1983 – 1988 tỷ lệ đẻ non là 5,6% [12].
Theo Michael T. Parson và cộng sự thì đẻ non chiếm khoảng 7% - 10%
và chiếm 75% tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trẻ sơ sinh [15].
Theo Ancel P.Y. đẻ non chiếm tỷ lệ khoảng7% trong năm 1998 [16].
Theo Moor và cộng sự nghiên cứu từ năm 1980 - 1984 tỷ lệ đẻ non từ
6,9% - 10,4% [17].
Ở Châu Âu nói chung tỷ lệ đẻ non chiếm khoảng 5,8% [18].
4
Các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính gây sốt như nhiễm vius, vi khuẩn, ký sinh
trùng... dễ gây kích thích tử cung co bóp do sự tăng cao của prostaglandin [20], [25].
Các bệnh nội khoa mãn tính hoặc các bệnh lý do thai nghén gây ra như
tăng huyết áp, bệnh tim, thiếu máu, tiền sản giật... cũng là nguy cơ gây đẻ non
do bất ổn về phía mẹ hoặc về phía thai. Theo nghiên cứu của Gracia tỷ lệ đẻ
non ở thai phụ có tăng huyết áp chiếm tới 59,7% [26]. Ngoài ra tử cung cũng
dễ bị kích thích do những viêm nhiễm tại chỗ như viêm ruột thừa, absces
thành bụng...
Các sang chấn về tinh thần hay cơ học [21], [27], các sang chấn trực
tiếp hay gián tiếp trong phẫu thuật đặc biệt là phẫu thuật tại ổ bụng đều làm
tăng nguy cơ đẻ non [25].
- Nguyên nhân về sản khoa:
Những phụ nữ có tiền sử đẻ non thì nguy cơ đẻ non ở những lần có thai
tiếp theo cao hơn [21]. Có nhiều nguyên nhân để lý giải điều này trong đó có
những bất thường về giải phẫu và chức năng của hệ sinh dục: tử cung nhi tính,
tử cung có u xơ, tử cung dị dạng, hở eo tử cung, rối loạn chức năng buồng
trứng làm giảm tiết progesteron...
Sảy thai muộn hay thai chết lưu cũng là một trong những yếu tố nguy
cơ làm tăng sảy thai và đẻ non cho những lần thai sau [28].
Theo nghiên cứu của Trần Quang Hiệp những phụ nữ có tiền sử ĐN
một lần thì nguy cơ ĐN tăng gấp 2,34 lần so với những người không có tiền sử
ĐN [21]. Còn theo Meis và cộng sự những phụ nữ có tiền sử ĐN thì nguy cơ
ĐN ở lần tiếp theo cao gấp 1,84 lần so với những người không có tiền sử ĐN
[24].
- Tình trạng kinh tế - xã hội: những phụ nữ có điều kiện kinh tế thấp
không được chăm sóc trước sinh đầy đủ, những người có trình độ văn hoá
thấp, hoạt động hoặc làm việc nặng nhọc thường xuyên thì có nguy cơ cao
6
7
với thai nghén thường hay thai nghén do các biện pháp hỗ trợ sinh sản khác
[19], [33].
1.1.3.3. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ về phía phần phụ của thai.
- Đa ối: đa ối làm tử cung căng dãn quá mức làm tăng nguy cơ ĐN
[25]. Đặc biệt là đa ối cấp chiếm 0,4 - 1,6% thai nghén và 1/3 các trường hợp
đa ối cấp có chuyển dạ ĐN.
- Ối vỡ non, ối vỡ sớm, rỉ ối: là nguyên nhân hay được đề cập đến gần
đây. Ối vỡ non chiếm 30% các cuộc chuyển dạ [32], [34]. Ối vỡ non làm tăng
nguy cơ đẻ non gấp 3,46 lần.
- Nhiễm khuẩn ối: tuy chưa biết chính xác được tỷ lệ của nhiễm khuẩn
ối trong các trường hợp phát sinh chuyển dạ đẻ non nhưng khoảng 1/3 các
trường hợp ĐN phối hợp với nhiểm trùng ối mãn tính [13], [34].
- Rau tiền đạo: gây chảy máu trong ba tháng cuối của thai kỳ đặc biệt là
những trường hợp chảy máu nhiều phải chấm dứt thai kỳ sớm [19], [27].
1.1.3.4. Không rõ nguyên nhân.
Có trên 50% các cuộc chuyển dạ ĐN là không tìm thấy nguyên nhân
[32]. Chính vì vậy mà việc phòng và điều trị đẻ non là một việc làm cấp bách
và là vấn đề hết sức nan giải.
1.1.4. Cơ chế bệnh sinh của chuyển dạ đẻ non.
Cơ chế bệnh sinh của chuyển dạ đẻ non rất phức tạp, cho tới nay chưa có
một cơ chế nào có thể giải thích một cách chuẩn xác nhất về ĐN. Có nhiều giả
thuyết được đưa ra và trong số đó có một số giả thuyết thường được đề cập tới là:
1.1.4.1. Thuyết cơ học.
Người ta cho rằng chuyển dạ đẻ xảy ra là do sự căng dãn quá mức của
tử cung. Các trường hợp như đa ối, song thai, tử cung nhi tính đều dễ phát
sinh chuyển dạ ĐN và thực tế cũng đã chứng minh điều này.
9
Theo Reece E.A và cộng sự, truyền oxytocin có thể gây chuyển dạ khi
thai nghén gần đủ tháng. Mức oxytocin trong máu mẹ tăng ít ở trước và trong
giai đoạn I của chuyển dạ, nó chỉ tăng nhiều ở giai đoạn II và sau đẻ.
Oxytocin không có mặt ở những chỗ nối giữa những tế bào cơ TC để gây cơn
co TC, như vậy oxytocin không phải là chất đầu tiên để khởi phát chuyển dạ,
nó có thể là chất tạo lực cơn co tử cung. Mức oxytocin ở động mạch rốn cao
hơn tĩnh mạch rốn và máu mẹ, điều này gợi ý rằng nguồn oxytocin đầu
chuyển dạ có thể có nguồn gốc từ thai. Số các thụ cảm thể oxytocin ở màng tế
bào cơ TC tăng lên theo tuổi thai và tăng nhiều hơn khi chuyển dạ làm cho cơ
tử cung nhạy cảm hơn với oxytocin vì thế làm co cơ TC gây chuyển dạ. Tóm
lại oxytocin không đóng vai trò quan trọng trong gây chuyển dạ đẻ mà chủ
yếu thúc đẩy quá trình chuyển dạ đang diễn ra [36].
1.1.4.5. Thuyết thần kinh.
Tử cung là một cơ quan chịu sự chi phối của hệ thần kinh thực vật.
Người ta cũng cho rằng TC còn có một hệ thần kinh tự động, cơ tử cung
giống cơ tim và nó có thể tự hoạt động để điều khiển cơn co của nó.
Chuyển dạ ĐN có thể phát sinh từ các phản xạ thần kinh sau những
kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp, đặc biệt là các stress về tâm lý,
1.1.4.6. Thuyết nhiễm khuẩn.
Các sản phẩm của nhiễm khuẩn có thể kích thích tế bào sản xuất ra các
PG từ các phospholipid A2 (các chất này có trong lysosom, màng tế bào). Khi
được tổng hợp các PG gây ra cơn co tử cung và gây chuyển dạ [15]. Nói
chung các vi khuẩn gây ra viêm âm đạo, cổ tử cung đều có khả năng sinh ra
phospholipid A2 để tổng hợp ra PG từ màng rau.
Cơ chế chuyển hoá acid amin tổng hợp thàh PGE 2 bởi tế bào ối và
chuyển hoá bạch cầu từ acid amin ở nội sản mạc thành PGE 2ỏ, chất trung gian
cytokin là chất bài tiết từ hệ thống miễn dịch của vật chủ với nhiễm khuẩn. Ở
dịch hồng âm đạo chiếm khoảng 86% [19].
11
Theo tài liệu hướng dẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ sinh sản ban hành năm 2007 [14] chẩn đoán doạ đẻ non dựa vào:
- Tuổi thai từ 22 tuần đến dưới tuần 37.
- Tử cung phù hợp với tuổi thai.
- Có cơn co tử cung gây đau bụng.
- Cổ tử cung còn dài đóng kín.
- Có thể ra máu hay chất nhầy hồng âm đạo.
- Siêu âm thấy rau bám bình thường, tim thai đập đều.
Tình trạng doạ đẻ non xảy ra từ tuần 22 đến dưới 37 tuần, là sự khởi
đầu của chuyển dạ đẻ non và nó sẽ tiến triển tự nhiên theo hướng đẻ non nếu
không được điều trị.
Chẩn đoán tuổi thai dựa vào ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt cuối
cùng, hoặc dựa vào kết quả siêu âm đặc biệt trong những tháng đầu của thời
kỳ thai nghén hoặc dựa vào đặc điểm của trẻ sơ sinh sau khi sinh. Các phương
pháp X-quang, phân tích thành phần nước ối, phân tích thành phần nước
tiểu... để đánh giá tuổi thai ít được áp dụng.
- Dựa vào ngày đầu của kỳ kinh nguyệt cuối cùng [40]: đó là thời điểm
mà các tác giả coi đó là ngày đầu tiên của thai kỳ mặc dù đó không phải là
ngày thụ thai, lý do là vì đặc điểm dễ nhớ của ngày này. Đánh giá tuổi thai
dựa vào ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt cuối cùng chỉ được áp dụng cho
những thai phụ có chu kỳ kinh nguyệt đều và nhớ một cách chắc chắn.
- Dựa vào siêu âm ước lượng tuổi thai [41]: đây là phương pháp cận
lâm sàng đơn giản đang được sử dụng nhiều nhất để xác định tuổi thai. Siêu
âm có ưu điểm là không gây hại cho mẹ và thai, có kết quả ngay và có thể
thực hiện được nhiều lần.
methyl hoá là trimethyl phloroglucinol (trimethoxy benzentrinol 1 - 3 - 5).
Thuốc có tác dụng trực tiếp lên màng tế bào cơ trơn bằng cách ức chế enzym
13
phosphodiesterase trên một trương lực cơ tăng thái quá, do đó làm giảm calci
trong tế bào và gây dãn cơ.
Trong điều trị dọa đẻ non thuốc được dùng với liều uống 80mg 320mg/ngày, đường tiêm dùng 40mg - 12mg/ngày, có thể dùng đường tiêm
tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
1.3.2.2. Các thuốc Betamimetic: là các thuốc hướng giao cảm.
*Ritodrin: có tác dụng ưu thế trên thụ cảm 2 do đó thuốc có tác dụng
trực tiếp làm giãn cơ trơn của tử cung và của phổi.
Cách dùng: dùng đường truyền tĩnh mạch đến khi cắt được cơn co thì
dùng đường uống để duy trì.
*Terbutalin: là dẫn xuất của phenylethylamine có tác dụng chọn lọc
trên thụ cảm 2 nên ức chế cơn co tử cung. Thuốc được dùng bằng đường
truyền tĩnh mạch.
* Các loại Betamimetic khác gồm Orciprenaline, Nylidrine, Fenetrol,
Heroprenaline đang được sử dụng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới.
* Salbutamol [42]:
- Tác dụng: kích thích chọn lọc lên thụ thể 2 (có ở cơ trơn phế quản,
cơ tử cung, cơ trơn mạch máu), tác dụng trên thụ thể 1 (có ở cơ tim) kém hơn
rất nhiều. Do có tính chọn lọc đó mà với liều điều trị thông thường tác dụng
của salbutamol lên tim không nhiều. Với liều điều trị thông thường có tác
dụng kích thích chọn lọc lên thụ thể 2 ở các sợi cơ trơn của tử cung do đó
làm giảm biên độ, tần số và thời gian co cơ tử cung.
- Tác dụng phụ:
+ Tuần hoàn: nhịp xoang nhanh ở mẹ hoặc ở thai, đánh trống ngực.
+ Toàn thân: đổ mồ hôi, chóng mặt, bồn chồn, mất ngủ.
tim mạch (tăng HA, đau thắt ngực đi kèm với bệnh xơ mỡ động mạch...), nó
15
cũng được dùng điều trị hạ áp trong các trường hợp tiền sản giật trong lĩnh
vực sản khoa [46].
Cơ sở hoạt động của các thuốc ức chế calci trong điều trị doạ đẻ non:
Các thuốc dihydropyridin ở đây là Nifedipin (biệt dược là Adalat) làm giảm
dòng ion calci qua màng vào trong tế bào thông qua kênh calci chậm, có tác
dụng duỗi các sợi cơ trơn mạch máu, cơ trơn tử cung và bàng quang. Hiệu
quả dãn mạch của thuốc này đã được chỉ ra ở mức độ tuần hoàn ngoại biên và
tưới máu phổi, người ta thấy có sự giảm rõ rệt ở sức cản động mạch trong khi
hệ thống tĩnh mạch lại không thay đổi [47]. Điều này chứng minh cho việc sử
dụng các thuốc ức chế calci với thể tích máu bình thường thì không làm thay
đổi huyết áp một cách có ý nghĩa [48]. Đây chính là lý do để hiện nay người
ta có thể sử dụng thuốc ức chế calci với liều lượng lớn nhằm giảm co mà
không sợ tụt huyết áp [49].
1.3.2.4. Một số loại thuốc khác
► Ethanol: có tác dụng ức chế sự phóng thích oxytocin từ tuyến yên
nên ức chế cơn co tử cung. Tuy nhiên khi so sánh với thuốc nhóm
Betamimetic thì có hiệu quả kém hơn và lại có nhiều tác dụng phụ trên mẹ và
thai hơn nên ít được sử dụng [43].
► Thuốc ức chế tổng hợp PG: các thuốc ức chế tổng hợp PG ngăn
cản tổng hợp PG bằng cách ức chế enzym cyclooxygenase có tác dụng
chuyển đổi acid arachidonic thành PG do đó làm giảm co tử cung. Đây là
nhóm thuốc họ chống viêm non - steroid bao gồm: Asprin, Indomethacin,
Naproxen. Thuốc có nhiều tác dụng phụ cho mẹ và có thể gây đóng ống
động mạch sớm ở thai [43], [50].
1.3.2.5. Thuốc đối kháng với thụ thể oxytocin.
Ở người khỏe mạnh không mang thai được truyền atosiban (10 đến 300
microgam / phút trong 12 giờ), nồng độ trong huyết tương ở trạng thái ổn
định tăng tỷ lệ thuận với liều dùng.
Độ thanh thải, thể tích phân bố và thời gian bán hủy được thấy là không
phụ thuộc liều dùng.
Ở những phụ nữ chuyển dạ đẻ non được truyền atosiban (300
microgam / phút trong 6 đến 12 giờ), nồng độ trong huyết tương ở trạng thái
ổn định đạt được trong vòng một giờ sau khi bắt đầu truyền (có nghĩa là 438 ±
73 ng / ml, trong khoảng từ 298 đến 533 ng / ml).
Sau khi hoàn thành việc tiêm truyền, nồng độ trong huyết tương giảm
nhanh chóng với thời gian bán hủy ban đầu (t α) và thời gian bán hủy cuối
(t β) lần lượt là 0,21 ± 0,01 và 1,7 ± 0,3 giờ. Trị số trung bình đối với độ
thanh thải là 41,8 ± 8,2 lít / giờ. Trị số trung bình của thể tích phân bố là
18,3 ± 6,8 lít.
Liên kết với protein huyết tương của atosiban ở phụ nữ mang thai là 46 đến
48%. Người ta không biết liệu phần tự do ở cơ thể người mẹ và thai có khác
nhau đáng kể hay không. Atosiban không phân bố vào các tế bào hồng cầu.
Atosiban đi qua rau thai. Sau khi truyền 300 microgam / phút ở phụ nữ
mang thai khỏe mạnh, tỷ lệ nồng độ atosiban của thai nhi / mẹ là 0,12.
Chuyển hóa và thải trừ
Hai chất chuyển hóa được xác định trong huyết tương và nước tiểu từ
những người tình nguyện. Tỷ số của chất chuyển hóa chính M1 (des- (Orn8,
Gly-NH2 9) - [Mpa1, D-Tyr (Et)2 , Thr4] - oxytocin) so với nồng độ atosiban
trong huyết tương là 1,4 sau 2 giờ và 2,8 khi kết thúc truyền. Người ta không
18
biết liệu chất M1 có tích lũy trong các mô hay không. Atosiban chỉ được tìm
thấy với số lượng nhỏ trong nước tiểu, nồng độ nước tiểu của nó thấp hơn
thai là nguy hiểm
19
- Quá mẫn cảm với (các) hoạt chất hoặc với bất kỳ thành phần nào
của tá dược.
Liều lượng và cách dùng
Tractocile được tiêm tĩnh mạch trong ba giai đoạn liên tiếp: liều bolus
ban đầu (6,75 mg), được thực hiện với dung dịch Tractocile 6,75 mg / 0,9 ml
để tiêm, ngay sau đó tiêm truyền liều cao liên tục (truyền liều nạp 300
microgam / phút) Tractocile 37,5 mg / 5 ml đậm đặc để truyền trong ba giờ,
sau đó dùng liều Tractocile thấp hơn 37,5 mg / 5 ml cho dung dịch tiêm
truyền (truyền kế tiếp 100 microgam / phút) cho đến 45 giờ. Thời gian điều trị
không quá 48 giờ. Tổng liều được đưa ra trong suốt quá trình điều trị bằng
Tractocile tốt nhất không được vượt quá 330mg hoạt chất atosiban.
Trong trường hợp cơn co tử cung kéo dài trong khi điều trị bằng
Tractocile, nên xem xét liệu pháp thay thế.
Bảng 1.1: Liều tiêm bolus đầy đủ và liều truyền atosiban
Bước
1
2
3
Liều dùng
Tiêm bolus tĩnh mạch 0,9 ml
Truyền tĩnh mạch liều nạp
Truyền tĩnh mạch liều kế tiêp
Tốc độ tiêm/truyền
theo MedDRA
Rối loạn hệ thống
miễn dịch
Rối loạn chuyển hóa
và dinh dưỡng
Rối loạn tâm thần
Rối loạn hệ thần kinh
Rối loạn tim
Rối loạn mạch máu
Rối loạn tiêu hóa
Rối loạn da và mô
dưới da
Rối loạn hệ sinh dục
và vú
Rối loạn toàn thân và
tại chỗ ùng thuốc
Rất
Hiếm
Không
Rất hiếm
thường Thường gặp
gặp
thường gặp
gặp
gặp
(≥1 -
21
Những trẻ sơ sinh với phổi non yếu có khuynh hướng phát triển hội
chứng suy hô hấp. Bệnh lý này thường gặp ở trẻ thiếu tháng và hầu như hiếm
khi xảy ra ở thai trên 38 tuần. Đây là nguyên nhân tử vong thường gặp nhất
của trẻ thiếu tháng. Nguyên nhân chính gây suy hô hấp là do thiếu chất
surfactant trong phổi làm cho phổi giữ được thể tích khí dự trữ trong kỳ thở
ra, còn được gọi là bệnh màng trong. Thông thường phổi đạt được sự trưởng
thành khi thai được 35 tuần. Sử dụng corticoid giúp cho phổi thai nhi được
trưởng thành tránh được bệnh màng trong, chỉ dùng cho những trường hợp
tuổi thai dưới 35 tuần.
Hiệu quả tối đa của corticoide đạt được trong vòng 24 - 48 giờ, do đó
cần cố gắng trì hoãn cuộc chuyển dạ ít nhất 24 giờ sau khi sử dụng thuốc này.
1.4. Nguy cơ của trẻ sơ sinh non tháng.
- Bệnh lý hô hấp: là bệnh lý hay gặp đối với sơ sinh non tháng gây suy
hô hấp ở trẻ sơ sinh. Nguyên nhân chính gây suy hô hấp là do thiếu chất
surfactant trong phổi nên nhu phổi không giãn nở được, các phế nang tăng
tính thấm, tổ chức kẽ dễ phù, các fibrin huyết tương dễ thoát mạch tràn vào
trong lòng phế nang. Sau khi huyết tương rút đi, hồng cầu và fibrin đọng lại
trong lòng phế nang tạo ra màng trong.
Tổ chức phổi quá non với đặc điểm là thành phế nang hẹp, mao mạch
ít, tổ chức liên kết nhiều cũng là một trong những nguyên nhân chính gây suy
hô hấp sơ sinh. Đặc điểm của cơ quan hô hấp chưa trưởng thành làm cho phổi
khó giãn nở, sự trao đổi khí bị hạn chế.
Ở tuổi thai càng nhỏ, trọng lượng thai càng thấp tỷ lệ mắc bệnh càng
cao. Bệnh thường xuất hiện vài giờ đến vài ngày sau đẻ. Trước đây bệnh
thường gây tử vong 100%, nhưng ngày nay nhờ những tiến bộ về hồi sức sơ
sinh, máy thở giúp thở với áp lực dương tính và surfactant nhân tạo cũng như
việc vận chuyển nhanh chóng đến các trung tâm chuyên khoa nên tỷ lệ tử
triển bởi công ty dược phẩm Ferring ở Thụy Điển và lần đầu tiên được báo
cáo trong tài liệu vào năm 1985 [52]. Atosiban được chấp thuận tại Liên minh
Châu Âu vào tháng 1 năm 2000 và ra mắt tại Liên minh Châu Âu vào tháng 4
23
năm 2000. Tính đến tháng 6 năm 2007, atosiban được chấp thuận ở 67 quốc
gia, ngoại trừ Hoa Kỳ và Nhật Bản [53].
Một đánh giá hệ thống về tác dụng giảm co của atosiban trong chuyển dạ
sinh non bao gồm sáu nghiên cứu lâm sàng: 2 nghiên cứu so sánh atosiban với
giả dược và 4 so sánh atosiban với chất chủ vận β, cho thấy sự gia tăng đáng
kể tỷ lệ phụ nữ không chuyển dạ trong 48 giờ ở nhóm dùng atosiban. Khi so
sánh với chất chủ vận β, atosiban đã tăng tỷ lệ phụ nữ không chuyển dạ trong
48 giờ và an toàn. Do đó, chất đối kháng oxytocin dường như có hiệu quả và
an toàn cho việc giảm co trong sinh non [54]. Một đánh giá hệ thống khác
năm 2014 của Cochrane cho thấy rằng atosiban có ít tác dụng phụ hơn so với
các thuốc thay thế (như ritodrine), các thuốc chẹn beta khác và thuốc chẹn
kênh canxi, nhưng không tốt hơn giả dược trong các kết quả chính là kéo dài
thai kỳ hoặc kết quả sơ sinh. Việc phát hiện sự gia tăng tử vong ở trẻ sơ sinh
trong một thử nghiệm kiểm soát giả dược cảnh báo việc sử dụng thận trọng.
Nghiên cứu sâu hơn được khuyến nghị [8].
Gần đây nghiên cứu hồi cứu của Saleh và cộng sự (2013) so sánh hiệu
quả và độ an toàn của atosiban và nifedipine trong việc ức chế chuyển dạ sinh
non kết luận rằng atosiban và nifedipine có hiệu quả trong việc trì hoãn sinh
non 7 ngày trở lên [55]. Tổng cộng có 68,3% phụ nữ trong nhóm atosiban vẫn
chưa được sinh con sau 7 ngày trở lên, so với 64,7% ở nhóm nifedipine.
Chúng có cùng hiệu quả và liên quan ít tác dụng phụ. Tuy nhiên tác dụng gây
đỏ bừng mặt, đánh trống ngực và hạ huyết áp cao hơn đáng kể trong nhóm
nifedipine.
hiệu quả cắt cơn co tử cung của Atosiban trong điều trị chuyển dạ sinh non tại
bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ Anh cũng nhận thấy tỷ lệ thai phụ không sinh
sau 48 giờ là 93,5% với rất ít tác dụng phụ đối trên mẹ [59].
Tại bệnh viện trung ương Huế, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tiến, Lê
Lam Hương (2017) cho thấy thời gian cắt cơn co tử cung của Atosiban trung
25
bình là 4,2 ± 0,7 giờ và tỷ lệ duy trì thai trong 48 giờ đầu đạt 92,1% [60]. Một
nghiên cứu khác về hiệu quả của Atosiban cũng tại bệnh viện này của tác giả
Lý Thanh Trường Giang và cộng sự đưa ra tỷ lệ duy trì thai ít nhất 48 giờ là
88,6% và tỷ lệ duy trì thai trên 7 ngày là 77,1% [61].