Đề tài nghiên cứu : Huế với vấn đề Quản lý di sản thế
giới.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu
Trên thực tế, hiện nay công tác quản lý những di sản thế giới ở Việt
Nam đang có nhiều vấn đề bất cập. Vì vậy cần có những nghiên cứu đánh giá
tổng quát và toàn diện về di sản thế giới ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra
những giải pháp và mô hình quản lý phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy giá
trị của di sản thế giới ở Việt Nam một cách có hiệu quả.
Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá, thể hiện bản sắc của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Di sản văn hoá có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
của nhân dân ta, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam. Chính vì vậy cần được bảo tồn và phát huy.
Vừa qua, chúng tôi đến Thành phố Huế, tôi được nghe, được trải
nghiệm về lịch sử Cố đô Huế, nét đặc sắc của di sản văn hóa Huế, đặc biệt là
Quần thể di tích Cố đô Huế. Hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại và thiên
tai tàn phá làm cho nhiều di tích văn hóa ở Thành phố Huế vẫn thường xuyên
bị đe dọa, trong khi những nỗ lực trong công tác trùng tu, bảo vệ Di sản văn
hóa vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của một quần thể di tích có quy mô lớn,
đa dạng, phức tạp. Làm thế nào để gìn giữ được những di sản văn hóa Huế, để
các giá trị Di sản văn hóa Huế tiếp tục được phát huy có hiệu quả? Câu hỏi đó
đã thôi thúc tôi đi sâu tìm hiểu Di sản văn hóa Huế và vấn đề bảo tồn, phát
huy giá trị Di sản văn hóa ở Thành phố Huế hiện nay, với mong muốn được
đóng góp ý kiến và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ
gìn và phát huy các Di sản văn hóa ở Thành phố Huế trong thời gian tới, góp
1
phần xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành một tỉnh vững về chính trị, giàu về
khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội. Những hình thức quản lý có ý thức
luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn
hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt.
Mục đích, nội dung, cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tuỳ thuộc vào chế
độ chính trị - xã hội.
- Di sản thế giới
+ Các di chỉ: Các công trình của con người hoặc công trình kết hợp
giữa con người và thiên nhiên, và các khu vực gồm có các di chỉ khảo cổ có
giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hay
nhân học.
+ Các di tích: Các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội
3
hoạ, các yếu tố hoặc các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các dấu khắc, các
nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét
theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học;
+ Các nhóm công trình xây dựng: Các nhóm công trình riêng lẻ hoặc
liên hoàn mà do kiến trúc, tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh
quan có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay
khoa học;
b. Cơ sở lý luận về quản lý di sản
Giữ gìn di sản văn hóa là nhiệm vụ quan trọng, bởi vì xã hội của chúng
ta có trách nhiệm đối với thế hệ hiện tại và tương lai để quản lý tốt nhất tài
sản, di sản đó. Quản lý di sản văn hóa cũng ngày càng trở nên gắn bó với các
mục tiêu chủ yếu khác của phát triển bền vững, một khuôn khổ sinh thái xem
các nguồn lực quý giá như vốn văn hóa quan trọng.
Thời gian qua, các tổ chức văn hóa thế giới như UNESCO và các tổ
chức quốc tế khác có liên quan đã nỗ lực thiết lập nên hệ thống các nguyên
tắc căn bản hoặc đề xuất các thực hành tốt nhất hỗ trợ các quốc gia trên toàn
tàng là “di sản” chính là các ý nghĩa và giá trị mà chúng ta trao cho nó đó
chính là chất liệu của di sản. Vì vậy, cho dù là tính vật thể hay phi vật thể của
di sản thì thực chất chúng ta cũng đang bàn về một tập hợp các ý nghĩa và giá
trị. Chính giá trị và ý nghĩa là đối tượng thực sự của việc quản lý và bảo tồn di
sản, như vậy thì mọi di sản là “phi vật thể” cho dù những giá trị hay ý nghĩa
này được biểu trưng bởi một địa điểm, một di tích, một cảnh quan hay một
đại diện vật chất nào đó, hoặc được tái hiện trong các thực hành ngôn ngữ,
các điệu múa, lịch sử truyền miệng hay các hình thức di sản phi vật thể khác
như định nghĩa của UNESCO.
Từ những trình bày về các quan điểm lý thuyết trên đây, bài thu hoạch
sẽ xem xét việc quản lý di sản văn hóa nói chung và di sản thế giới nói riêng
theo quan điểm quản lý di sản bảo tồn, phát triển để di sản sống, phát huy
được các giá trị của nó trong đời sống văn hóa - xã hội đương đại, cần thiết
cho cuộc sống hôm nay và mai sau, coi quá trình quản lý di sản văn hóa là
quá trình tham gia vào xây dựng và phát triển văn hóa và xã hội, quá trình
sáng tạo văn hóa của các chủ thể hiện tại.
5
2. Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế
a. Đặc điểm tình hình
Quần thể di tích Cố đô Huế là những di tích lịch sử - văn hoá do triều
Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa
đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành
phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, Việt Nam.
Phần lớn các di tích này nay thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích
Cố đô Huế và được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào
ngày 11 tháng 12 năm 1993. Di sản văn hóa Huế bao gồm quần thể di tích Cố
đô, với thành quách, cung điện, lăng tẩm, đàn miếu, chùa quán, cầu cống, phủ
đệ, hệ thống kiến trúc cộng đồng, tôn giáo và kiến trúc dân gian; các di sản
đã được thiết lập và được đệ trình lên Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO.
Dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa - Thông tin và Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân
tỉnh Thừa Thiên - Huế công cuộc bảo tồn di tích Cố đô Huế đã được triển khai
và đạt kết quả rất quan trọng: Di sản văn hoá Huế đã vượt qua giai đoạn cứu
nguy khẩn cấp và từng bước hồi sinh diện mạo ban đầu của một cố đô lịch sử.
Công cuộc bảo tồn di tích Huế chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển
bền vững trên các mặt:
- Bảo quản cấp thiết hầu hết các di tích bằng các biện pháp chống dột,
chống sập, chống mối mọt, chống cây, cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ
phận bị lão hóa..., nhờ vậy mà trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, các di tích
vẫn được bảo tồn và kéo dài tuổi thọ.
- Trùng tu, phục hồi một số công trình tiêu biểu, như Ngọ Môn, điện
Thái Hòa, Hiển Lâm các, cụm di tích Thế miếu, cung Diên Thọ, Duyệt Thị
đường, cung Trường Sanh, hệ thống Trường lang (Tử cấm thành), Minh Lâu,
điện Sùng Ân, Hữu Tùng Tự, Bi Đình (lăng Minh Mạng), điện Hòa Khiêm,
Minh Khiêm Đường, Ôn Khiêm Điện (lăng Tự Đức), Thiên Định Cung, Bi
Đình (lăng Khải Định), chùa Thiên Mụ, cung An Định, các cổng Kinh thành...
Tháng 11 năm 2003, UNESCO đã chính thức ghi danh Nhã nhạc Cung
đình Huế là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại
(di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại). Đây là một sự kiện có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tầm vóc và sự phong phú, toàn diện của di
sản văn hóa Huế trên cả hai lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể.
7
Đặc biệt, trong lĩnh vực đối ngoại, các giá trị di sản văn hóa Huế còn
được giới thiệu ở các nước, như Lào, Pháp, Bỉ, Áo, Nhật, Hàn Quốc thông
qua các đợt trưng bày triển lãm của Bảo tàng cổ vật Cung đình Huế; các giá
trị văn hóa phi vật thể được giới thiệu ở các nước, như Hàn Quốc, Philippin,
Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, Italia, Nhật Bản, Thụy Sĩ... thông qua các đợt lưu
quản lý đồ sộ lên tới hơn 700 người với đầy đủ các phòng ban chức năng,
nghiệp vụ với 17 chức năng nhiệm vụ. Từ thực tế đó Trung tâm Bảo tồn di
tích Cố đô Huế cần phải kiện toàn, sắp xếp lại bộ máy quản lý, đội ngũ cán bộ
công nhân viên hiện nay theo hướng gọn nhẹ nhưng hiệu quả hơn, cần thường
xuyên đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ
hiện có của Trung tâm.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo tồn và phát huy
giá trị của di sản thế giới
a. Giải pháp về mở rộng mô hình xã hội hóa, đẩy mạnh tuyên truyền,
giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn và
phát huy giá trị Di sản văn hóa
Mở rộng mô hình xã hội hóa hoạt động bảo tồn, tôn tạo Di sản văn hóa để
huy động mọi nguồn lực từ người dân trong nước và nước ngoài, để họ có thể
tham gia vào công tác này dưới nhiều hình thức. Theo quan niệm của
UNESCO, di sản được bảo tồn tốt nhất là trong lòng cộng đồng và bảo tồn di
sản phải gắn liền với lợi ích của người dân. Người dân với vai trò là chủ thể
sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, họ có đủ năng lực và thẩm quyền để đánh giá
các giá trị của Di sản văn hóa phi vật thể, quyết định lựa chọn các hiện tượng
văn hóa phi vật thể nào là cần thiết để bảo tồn. Tăng cường công tác tuyên
truyền trong và ngoài nước về giá trị Di sản văn hóa Huế. Tập huấn cho cán
bộ, các tình nguyện viên kiến thức và kỹ năng, thông qua đội ngũ này để
tuyên truyền cho mọi người thực hiện bảo vệ, gìn giữ di sản, nhất là sự tham
gia của lớp trẻ. Các cơ quan chức năng chỉ có thể làm tốt trách nhiệm của
mình khi mọi người nhận thức đúng và cùng tham gia một cách đầy đủ, tích
cực vào sự nghiệp phát triển văn hóa du lịch.
b. Giải pháp về huy động nguồn lực cho việc bảo tồn và phát huy giá trị
Di sản văn hóa
9
10
tích vật thể; Nghiên cứu, lập hồ sơ, tư liệu và phục hồi các Di sản văn hóa phi
vật thể quan trọng tại các khu Di sản văn hóa. Kết hợp đồng bộ giữa trùng tu
di tích, với xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Tiến hành sưu tầm, tổ chức trưng
bày các hiện vật độc đáo vào những không gian mà nó đã tồn tại; sớm xây
dựng kế hoạch sưu tầm tư liệu, bảo quản cất giữ để khi có kinh phí và điều
kiện khác, có thể triển khai kịp thời. Nâng cao chất lượng trưng bày ở các khu
di tích và ở Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, tạo sự hợp lý giữa tính biên
niên và tính chủ đề, giữa nghệ thuật và lịch sử để đáp ứng yêu cầu của công
chúng và của du khách về mặt hưởng thụ các giá trị văn hóa.
Ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào quản lý, bảo quản công
trình, hiện vật, các tư liệu văn hóa lịch sử. Thiết lập hệ thống tư liệu thông tin
về Di sản văn hóa động sản nhằm phục vụ công tác quản lý cũng như hợp tác
nghiên cứu giữa các khu di sản, các bảo tàng trong nước cũng như quốc tế,
nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xâm hại và tra cứu tìm kiếm khi hiện vật bị
mất mát. Tuyên truyền và phổ biến các quy định, kiến thức bảo quản để các tổ
chức, nhân dân biết và tiến hành giữ gìn những giá trị mà họ đang sở hữu.
d. Giải pháp về hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăng
cường đổi mới công tác quản lý nhà nước
Ngành văn hóa và chính quyền địa phương Thành phố cần tập trung hoàn
thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Chấp hành nghiêm túc Luật Di
sản văn hóa trong quá trình xây dựng và thực hiện các dự án: chỉnh trang cảnh
quan đô thị; giải tỏa dân cư ở các khu di tích đã được khoanh vùng bảo vệ...
Tiếp tục ban hành các quyết định, quy chế quản lý cải tạo, xây dựng các công
trình kiến trúc trong khu Kinh thành và các lăng tẩm. Xây dựng các thiết chế
phục vụ cho các hoạt động chuyên môn tiến tới xây dựng Huế thành một
Trung tâm chuẩn mực về lĩnh vực bảo tồn.
Từng bước kiện toàn bộ máy nghiệp vụ bảo tồn tương xứng với quy mô
Thành phố cần đẩy mạnh quan hệ hợp tác đối ngoại để tìm kiếm thêm
sự hỗ trợ của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ kể cả về nguồn vốn,
chuyên gia, kỹ thuật và đào tạo nhân lực. Thực hiện có hiệu quả các dự án đã
cam kết với UNESCO và các tổ chức quốc tế. Tăng cường liên kết để mở
rộng các đề tài khoa học, các chương trình hợp tác để khẳng định vị trí của
khu di sản Huế.
12
III. KẾT LUẬN
Các di sản thế giới đã thể hiện được vai trò là nhân tố thúc đẩy phát
triển kinh tế, văn hóa và du lịch một cách bền vững. Việc bảo tồn các di sản
thế giới trong thời gian qua Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn trong việc
ban hành một hệ thống văn bản pháp lý về quản lý, bảo tồn di tích nói chung
và di sản thế giới nói riêng từ Trung ương đến địa phương ngày một hoàn
thiện hơn.
Những di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới là kết tinh hàng nghìn
năm và là trí tuệ của dân tộc Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử, là những giá
trị đặc sắc của thiên nhiên ban tặng mà nhiều thế hệ người Việt Nam đã dày
công gìn giữ. Quản lý, bảo tồn các di sản thế giới chính là vun đắp tình yêu
quê hương, đất nước, là niềm tự hào dân tộc trong mỗi người Việt Nam; đồng
thời còn xây dựng "nhịp cầu" văn hóa, hòa bình, hữu nghị nối dân tộc Việt
Nam với bạn bè quốc tế.
Kể từ năm 1993, khi di sản đầu tiên của Việt Nam là Cố đô Huế được
ghi danh là di sản thế giới đến nay, nhận thức của cả hệ thống chính trị và
người dân về giá trị và tầm quan trọng của di sản thế giới đã ngày càng được
nâng lên. Các cấp các ngành và các địa phương có di sản đã có nhiều chính
sách quản lý, bảo vệ, đầu tư và phát huy giá trị của di sản, góp phần vào công
cuộc phát triển kinh tế xã hội, trên thực tế nhiều di sản thế giới đã trở thành
nguồn lực đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển kinh tế, tạo công việc