UBND TỈNH QUẢNG NAM
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
BÀI THU HOẠCH
Chương trình Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CÔNG TÁC QUY HOẠCH, ĐÀO
TẠO, BỒI DƯỠNG, ĐÁNH GIÁ, SỬ
DỤNG CÁN BỘ XÃ PHƯỚC
THÀNH, HUYỆN PHƯỚC SƠN
Họ tên học viên: Lê Thanh Hòa.
Đơn vị công tác: xã Phước Thành, Phước Sơn.
Lớp: Trung cấp Chính trị - Hành chính K107 Phước
Sơn.
Quảng Nam, tháng 4 năm 2018
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................
I. Sự cần thiết phải nghiên cứu .........................................................................................
II. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.....................................................................................
III. Nội dung, hình thức nghiên cứu...................................................................................
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN................................................................................................
1. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về vai trò của cán bộ........................
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ....................................................
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ....................................................
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ.................................................................
PHẦN III: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ & ĐỀ XUẤT..........................................................
I. Giải pháp......................................................................................................................
II. Kiến nghị & đề xuất....................................................................................................
PHẦN KẾT LUẬN...........................................................................................................
3
MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU:
Trong suốt quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam, Đảng cộng sản
Việt nam luôn đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, coi đây là lực lượng
quan trọng giúp Đảng hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện. Trong công
tác xây dựng Đảng công tác cán bộ có một vai trò rất quan trọng và là nhân tố
quyết định đến sự thành công của Cách mạng Việt Nam, gắn với vận mệnh
của Đảng, của đất nước và của cả dân tộc. Trong thời kỳ nước ta đẩy mạnh
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là trong thời đại
của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin lần thứ tư, càng phải đòi
hỏi có một đội ngũ cán bộ đủ đức – tài, có đủ bản lĩnh chính trị đáp ứng được
yêu cầu của thời kỳ mới.
Cấp xã là nơi chủ yếu đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân và tổ chức thực hiện, làm
cho đường lối, chủ trương, chính sách thành hiện thực. Đó là nơi kiểm
nghiệm, khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chính sách, đóng góp những
kinh nghiệm để Đảng bổ sung, hoàn chỉnh đưởng lối, chính sách. Cơ sở là nơi
tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng. Những công việc đó đều do
cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở tiến hành. Chất lượng thực hiện các
công việc đó phụ thuộc và được quyết định bởi chất lượng đội ngũ cán bộ cơ
sở. Cấp xã còn là nơi sát dân nhất, đội ngũ cán bộ ở sơ sở là những người
hằng ngày, hằng giờ gắn bó với nhân dân, lăn lộn trong thực tiễn sinh động ở
5
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về vai trò của
cán bộ:
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã khẳng định vai trò đặc biệt của cán
bộ đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và với
thành công của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. C.Mác cho
rằng: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực
lượng thực tiễn”1. V.I.Lênin cũng khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có một
giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong
hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ
khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”2.
Sau 5 năm thực tiếp lãnh đạo xây dựng và bảo vệ Nhà nước Xô viết
non trẻ, V.I.Lênin càng thấy rõ vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ. Người
nhấn mạnh: “Nếu không có đội ngũ cán bộ tốt, thì tất cả mọi mệnh lệnh và
quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”3.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ:
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của cán bộ. Theo người,
vấn đề cán bộ là một ấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp. Vấn đề cán bộ quyết
định mọi việc. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” 4.
“Gốc” là từ đó sinh ra. Cây thì phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Gốc có
vững thì cây mới bền. Như vậy, cây vừa phải có có gốc vừa phải gốc vững.
Công việc cách mạng phải có cán bộ và cán bộ phải tốt. Người khẳng định:
“Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”5.
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, t.2, tr.181.
bộ ngày càng phát triển.
Công tác cán bộ thể hiện sự hiểu biết và đánh giá đúng cán bộ; lựa chọn
cán bộ; huấn luyện cán bộ; biết dùng cán bộ; kết hợp các loại cán bộ, chính
sách cán bộ; trọng dụng người có đức, có tài,v.v..
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr.356.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr.636.
7
Theo Hồ Chí Minh, vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần
kíp. Nói đến vấn đề cán bộ bao gồm cả cán bộ và công tác cán bộ. Khi bàn về
cán bộ Người khẳng định cán bộ là chủ thể, tức là đội ngũ cán bộ phải tự
mình tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày cả phẩm chất đạo đức, năng lực, trí tuệ
và phong cách để đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Còn khi
bàn về công tác cán bộ, Người nhận định cán bộ lúc này là khách thể, tức là
những người chịu đựng cái kết quả của những người làm công tác cán bộ.
Trong trường hợp này, những người làm công tác cán bộ là chủ thể. Cách
mạng có phát triển hay không phụ thuộc rất lớn vào công tác cán bộ, mà trực
tiếp là cấp ủy và những người đứng đầu trong tổ chức đảng, chính quyền,
đoàn thể và tổ chức cán bộ.
Trong thực tế, nhiều khi cán bộ rèn luyện tốt, đủ đức, đủ tài, tận tụy, hết
lòng, hết sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân nhưng công tác cán bộ không
tốt sẽ không phát huy được năng lực của cán bộ. Nhiều cán bộ xứng đáng giữ
các vị trí quản lý, lãnh đạo nhưng vì công tác cán bộ có vấn đề, thiếu khách
quan, dân chủ, không đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của nhân dân lên
trên hết nên tài năng của họ bị mai một. Kết quả Đảng mất nhân tài, mất cán
bộ.
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, có 3 nội dung
xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đặc biệt, tại Hội
nghị Trung ương 6 (khóa X), Đảng ta nhấn mạnh: Thực hiện mạnh mẽ chủ
trương trẻ hóa, thể chế hóa và từng bước nhất thể hóa chức danh cán bộ; tạo
bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở.
3.2. Quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:
Trong Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Đảng ta đưa ra 5 quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ. Kết luận
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính
trị quốc gia, H.1997, tr.66.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, H.1987, tr.132.
9
số 37-KL/TW ngày 02-02-2009 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung
ương khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến
năm 2020 bổ sung, xác định 6 quan điểm (do giới hạn của phạm vi bài viết
nên không nêu cụ thể). Cấp ủy cơ sở cần quán triệt các quan điểm đó vào
công tác cán bộ của mình để xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Tại Đại hội XII, Đảng ta xác định phải đổi mới mạnh mẽ công tác cán
bộ, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất và uy tín,
ngang tầm nhiệm vụ. Theo đó, “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán
bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thể chế hóa
đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại
đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ; quan hệ giưa tiêu chuẩn và cơ cấu;
giữa đức và tài; giữa kế thừa và phát triển; giữa sự quản lý thống nhất của
Đảng với phát huy đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính
trị”1.
2. Dân cư, dân số:
Toàn xã có 06 thôn, với 409 hộ/1.785 nhân khẩu; hộ nghèo 284/1.299
khẩu chiếm tỷ lệ 69,44%; hộ cận nghèo 20/88 khẩu tỷ lệ 4,89%; dân tộc thiểu
số 399 hộ, chiếm tỷ lệ 97,55%. Mật độ dân cư thưa thớt, bình quân 28,7
11
người/Km2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,82%. Các điểm dân cư của xã xây
dựng tập trung tại 06 thôn chủ yếu dọc trên tuyến huyện lộ ĐH01PS, một số
điểm dân cư dân tộc thiểu số sống rải rác bám theo khu vực canh tác.
3. Tình hình kinh tế - xã hội:
3.1. Kinh tế:
Là một xã miền núi vùng cao có nền kinh tế - xã hội kém phát triển,
chủ yếu là nông lâm nghiệp chiếm đến 93%. Thương mại và dịch vụ chiếm
6%; tiểu thủ công nghiệp 1%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2017 đạt
6,1 triệu đồng/người.
Sản xuất nông nhiệp trên địa bàn xã chủ yếu là trồng lúa nước, lúa rẫy,
sắn, bắp, chuối, quế, rau màu… tổng diện tích gieo trồng năm 2017 toàn xã
217ha, nhìn chung tình hình sản xuất đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Về chăn nuôi
tổng đàn gia súc 1.325 con. Trong đó: đàn bò: có 235 con; đàn trâu: 325 con;
đàn lợn: 765, đàn gia cầm các loại có 2.600 con.
Ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã còn hạn chế, sản
phẩm làm ra chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ và theo mùa vụ. Về thương mại
dịch vụ ở xã Phước Thành tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đang trên đà phát
triển và chủ yếu là các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu cuộc sống và cho
sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của nhân dân như: Điện tử, tạp hoá, giải
khát... Toàn xã có 30 hộ kinh doanh thương mại - dịch vụ.
Nhìn chung, về cơ cấu kinh tế xã Phước Thành phát triển kinh tế theo
hướng nông lâm kết hợp: khoanh nuôi chăm sóc bảo vệ rừng kết hợp trồng
cây dược liệu dưới tán rừng, trồng trọt, chăn nuôi, trồng cây công nghiệp, chú
- Hội đồng nhân dân xã hiện có: 20 đại biểu; gồm: Chủ tịch HĐND và
01 Phó Chủ tịch HĐND xã; 02 Ban: Pháp chế, Kinh tế - Xã hội; 04 Tổ đại
biểu tương ứng với 04 đơn vị bầu cử.
- Ủy ban nhân dân có: 04 thành viên, gồm: Chủ tịch UBND; 01 Phó
Chủ tịch UBND xã; 01 Ủy viên UBND phụ trách Quân sự và 01 Ủy viên
UBND phụ trách Công an.
13
- Mặt trận TQVN và các tổ chức Hội đoàn thể như: Nông dân, Thanh
niên, Phụ nữ, Cựu chiến binh, công đoàn, Chữ thập đỏ, Người cao tuổi,
khuyến học, Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin... được tổ chức và hoạt
động đầy đủ theo quy định.
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CÁN BỘ XÃ PHƯỚC THÀNH:
1. Tình hình số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:
Tính đến thời điểm 31/12/2017, xã Phước Thành có tổng số 22 cán bộ,
công chức, gồm: cán bộ là 10 người; công chức là: 12 người.
Trong đó:
- Phân theo cơ cấu: nữ 04 người, tỷ lệ 18,18%; đảng viên 19 người, tỷ
lệ 86,36%; dân tộc thiểu số 18 người, tỷ lệ 81,81%.
- Phân theo trình độ đào tạo: Thạc sĩ: 01 người, tỷ lệ: 4,55%; đại học:
09 người, tỷ lệ 40,9%; trung cấp: 10 người, tỷ lệ: 45,45%; đang theo học đại
học: 01 người; tỷ lệ: 4,55%; chưa qua đào tạo: 01 người; tỷ lệ: 4,55%.
- Phân theo học vấn: Tốt nghiệp THPT: 21 người; tỷ lệ: 95,45; tiểu học:
01 người, tỷ lệ: 4,55%.
- Phân theo trình độ lý luận chính trị: Trung cấp: 13 người; tỷ lệ:
59,1%; sơ cấp: 03 người, tỷ lệ: 23,07%; đang theo học trung cấp chính trị: 03
người, tỷ lệ: 23,07%; chưa qua đào tạo: 03 người, tỷ lệ 23,07%;
- Có chứng chỉ tin học: 20 người, tỷ lệ 90,9%; có chứng chỉ ngoại ngữ:
04 người: 18,18%. Đã qua bồi dưỡng Quản lý nhà nước chuyên viên: 19
Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 30/6/2011 và Nghị quyết 04-NQ/TU ngày
12/8/2016 của Tỉnh ủy Quảng Nam; Đảng ủy xã đã ban hành Kế hoạch chỉ
đạo triển khai thực hiện công tác quy hoạch cán bộ theo đúng quy định, đảm
bảo yêu cầu, nội dung và quy trình hướng dẫn của cấp trên. Trước khi tiến
hành rà soát, bổ sung, xây dựng quy hoạch, Đảng ủy xã đã thực hiện tốt công
tác nhận xét, đánh giá cán bộ; rà soát, đưa ra khỏi danh sách quy hoạch những
trường hợp không đạt chuẩn, đưa ra khỏi danh sách quy hoạch cấp ủy.
15
Số lượng cán bộ được rà soát, bổ sung quy hoạch Ban Chấp hành, Ban
Thường vụ, các chức danh cán bộ chủ chốt và trưởng, phó ban, ngành, đoàn
thể xã đều đảm bảo hệ số từ 1,5-2 lần so với cấp ủy đương nhiệm.
Nhìn chung, hầu hết cán bộ trong danh sách quy hoạch cấp uỷ nhiệm
kỳ 2015-2020 và nhiệm kỳ 2020-2025 các chức danh chủ chốt ở xã đều đảm
bảo các tiêu chuẩn về trình độ, hệ số, cơ cấu ba độ tuổi, tỷ lệ trẻ không dưới
15%, tỷ lệ nữ không dưới 20%, tỷ lệ người dân tộc thiểu số đều đảm bảo theo
quy định; khắc phục dần tình trạng thiếu hụt cán bộ có trình độ năng lực ở các
ban, ngành ở xã.
3. Tình hình công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ:
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ chiến lược quan trọng của Đảng
bộ xã. Năm 2011, Từ thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ ở xã đạt 3 chuẩn
thấp, Trên tinh thần Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 30/6/2011 của Tỉnh ủy
Quảng Nam và chỉ đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy Phước Sơn, Đảng ủy xã
đã chỉ đạo tập trung cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để chuẩn hóa đội
ngũ cán bộ công chức xã theo quy định, Đảng ủy đã tiến hành rà soát xây
dựng quy hoạch lộ trình để đưa đi đào tạo chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công
chức, không chuyên trách xã, chú trọng nâng cao về trình độ chính trị, chuyên
môn nghiệp vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có năng lực, phẩm chất,
bản lĩnh chính trị, gắn bó mật thiết với nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triên
101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về “Trách nhiệm nêu gương của
cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” , Đảng ủy đã có
sự quan tâm chỉ đạo rà soát, đánh giá lại tình hình của toàn bộ đội ngũ cán bộ,
công chức xã. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện việc kiểm điểm tự phê bình
và phê bình một số chi bộ quản lý đảng viên không chặt chẽ, chạy theo thành
tích, che dấu khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên, nên trong những
năm qua cũng không tránh khỏi có một số đảng viên, cán bộ, công chức bị xử
lý kỷ luật.
17
Nhìn chung, việc đánh giá cán bộ ở xã Phước Thành trong những năm
qua được quan tâm chỉ đạo thực hiện đảm bản, đi vào thực chất, dân chủ,
khách quan, công tâm. Qua đó, đã phát hiện cán bộ có triển vọng phát triển bổ
sung vào quy hoạch, cử đi đào tạo, bồi dưỡng làm cơ sở để đề bạt, bổ nhiệm,
bầu cử, sắp xếp lại cho phù hợp với năng lực, sở trường của cán bộ; nhiều cán
bộ trẻ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giữ các chức vụ lãnh đạo xã và trưởng
các ban, ngành của xã.
5. Tình hình bố trí, sử dụng cán bộ:
Về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã
đã được tổ chức kiện toàn, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức xã,
phân công công việc và nhiệm vụ cho từng cán bộ, công chức xã phù hợp với
chuyên môn và năng lực công tác đảm bảo quy định.
Việc thực hiện biên chế hành chính cấp xã đến nay xã đã sắp xếp, bố trí
cơ bản đầy đủ các chức danh cán bộ, công chức xã đúng quy định. Tổng số
biên chế được giao hiện nay là: 23 chức danh (Quyết định số 1961/QĐUBND ngày 18/6/2010 của UBND tỉnh), đã tuyển dụng, bố trí: 22 chức danh
(có 02 Đề án 500 của tỉnh).
Đội ngũ cán bộ, công chức xã được bố trí, phân công công việc phù
hợp với chuyên môn, năng lực công tác của từng người, nhìn chung mỗi cán
Qua nhiều năm thực hiện công tác cán bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng
ủy xã Phước Thành, đặc biệt là từ khi Tỉnh ủy Quảng Nam ban hành Nghị
quyết số 04-NQ/TU ngày 30/6/2011 về công tác cán bộ giai đoạn 2011-2015
và định hướng đến năm 2020 và đến nay là Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày
12/8/2016 về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy
giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025. Công tác cán bộ ở xã
Phước Thành đã đạt được nhiều kết quả tích cực so với năm 2011, tăng cả về
số lượng lẫn chất lượng cán bộ, công chức:
Cụ thể:
- Số lượng cán bộ, công chức 22 người, tăng 41,17%.
19
- Về trình độ chuyên môn: Thạc sĩ tăng 4,55%; đại học tăng 40,9%;
trung cấp tỷ lệ: 45,45% (tăng 4,28%); tỷ lệ chưa qua đào tạo chuyên môn từ
58,82% năm 2011 giảm xuống còn 4,55% năm 2017.
- Về trình độ học vấn: Tốt nghiệp THPT: tỷ lệ: 95,45 (tăng 54,28%).
- Về trình độ chính trị: Trung cấp: tỷ lệ: 59,1% (tăng 0,3%); chưa qua
đào tạo: tỷ lệ 23,07% (giảm 18,1%);
- Số cán bộ công chức đạt 3 chuẩn: 12 người, tỷ lệ 54,54 (tăng 31,02%)
%; đạt 2 chuẩn: 09 người, tỷ lệ 40,9%..
- Về tin học: tỷ lệ 90,9% (tăng 37,98%); về ngoại ngữ: tăng 18,18%.
Được bồi dưỡng Quản lý nhà nước chuyên viên: tăng 86,36%.
- Tuổi của cán bộ cũng được trẻ hóa nhiều hơn trước, số lượng cán bộ
nữ cũng tăng hơn trước, tỷ lệ đảng viên cũng nhiểu hơn...
- Năng lực công tác, chất lượng thực hiện công việc của cán bộ cũng
tăng cao hơn so với trước.
- Xã đã có sự quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ, đã xây dựng quy
hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2015-2020, nhiệm kỳ 2020-2025, hằng hăm đều rà
soát bổ sung quy hoạch
tự học tự nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực công tác góp phần vào đẩy
nhanh tiến độ chuẩn hóa cán bộ.
3. Bài học kinh nghiệm:
- Cần thường xuyên tổ chức cho đội ngũ cán bộ, công chức và đảng
viên học tập, nghiên cứu về các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nội dung công
tác cán bộ nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và Nghị quyết của Tỉnh
ủy về công tác cán bộ. Thường xuyên cập nhật thông tin nâng cao nhận thức
về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý, đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ mới.
21
- Cần nêu cao vai trò, trách nhiệm của Đảng ủy, người đứng đầu cấp ủy,
cơ quan, đơn vị trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, coi trọng công tác quản
lý, giáo dục đối với cán bộ đảng viên. Tiếp tục thực hiện tốt 6 quan điểm của
Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước,
thực hiện chặt chẽ bảo đảm đúng quy trình, đúng nguyên tắc hướng dẫn trong
từng khâu công tác cán bộ.
- Triển khai, thực hiện chặt chẽ, đồng bộ từ Đảng, chính quyền, các
cấp, ngành về công tác đánh giá cán bộ, đảm bảo dân chủ, công khai, khách
quan và thực chất hơn nữa. Việc đánh giá và sử dụng cán bộ phải làm thường
xuyên hằng năm và đồng bộ với đánh giá TCCS Đảng và Đảng viên. Thực
hiện tốt việc nhận xét, đánh giá cán bộ làm cơ sở cho việc thực hiện quy
hoạch, đào tạo, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm, bố trí và sử dụng cán bộ.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, kiểm điểm, tự phê bình và
phê bình trong sinh hoạt đảng nhất là trong công tác cán bộ, làm rõ quyền
hạn, trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính
quyền, cơ quan, đơn vị trong việc nhận xét, đánh giá cán bộ, có lộ trình giải
pháp nhằm khắc phục hạn chế, khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm,
nhận xét, đánh giá cán bộ.
chưa đáp ứng được nhiệm vụ giao.
- Công tác quy hoạch tuy đạt tỷ lệ, nhưng nguồn cán bộ chưa đạt chuẩn
còn nhiều; tỷ lệ cán bộ nữ còn thấp.
- Đánh giá cán bộ, công chức hằng năm còn ngại nể, thiếu thực chất,
chưa phản ánh đúng năng lực, kết quả công tác của cán bộ.
2. Nguyên nhân hạn chế:
- Do điều kiện miền núi xa xôi, khó khăn mức sống của cán bộ và nhân
dân thấp, thiếu điều kiện tham gia học tập nâng cao trình độ.
- Một số cán bộ hoàn cảnh khó khăn muốn đi học các lớp Đại học
chuyên môn để nâng cao trình độ nhưng không được Nhà nước hỗ trợ kinh
phí dẫn đến không dám đi học hoặc đi học rồi bỏ giữa chừng.
23
- Tỷ lệ cán bộ nữ đạt thấp (18,18%) là do thiếu hụt nguồn cán bộ nữ có
trình độ, năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt. Những cán bộ nữ đương nhiệm
hoặc dự nguồn hiện nay có một số chưa đảm bảo về trình độ, năng lực, một
vài người phẩm chất đạo đức lối sống thiếu gương mẫu, còn vi phạm kỷ luật
nên không bố trí được.
- Do từ nhiều năm trước đây khi tuyển dụng, bố trí cán bộ có nhiều
người chưa đạt chuẩn về chuyên môn và chính trị, mặc dù những năm gần đây
có quan tâm đào tạo, nhưng tỷ lệ chuẩn hóa vẫn chưa đạt yêu cầu.
- Công tác đánh giá cán bộ thiếu thực chất do nhiều người nể nang,
ngại góp ý, cục bộ, một số người thiếu chính kiến riêng, bỏ phiếu theo xu
hướng... nên kết quả đánh giá chưa khách quan, công tâm. Xử lý cán bộ
không hoàn thành nhiệm vụ còn thiếu cương quyết.
- Việc tổ chức quán triệt, thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy
và Chương trình hành động số 14-CTr/HU của Huyện ủy còn chưa triệt để.
- Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng ủy xã còn thiếu chủ động quy
hoạch đội ngũ cán bộ có tính chiến lược, thiếu những giải pháp mạnh có tính
cấp, ngành về công tác đánh giá cán bộ, đảm bảo dân chủ, công khai, khách
quan và thực chất hơn nữa. Việc đánh giá và sử dụng cán bộ phải làm thường
xuyên hằng năm và đồng bộ với đánh giá TCCS Đảng và Đảng viên. Thực
hiện tốt việc nhận xét, đánh giá cán bộ làm cơ sở cho việc thực hiện quy
hoạch, đào tạo, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm, bố trí và sử dụng cán bộ.
4. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức, nhất là nguyên tắc tập trung
dân chủ, kiểm điểm, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng nhất là
trong công tác cán bộ, làm rõ quyền hạn, trách nhiệm của tập thể và cá nhân,
nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị trong việc nhận
25