Muc lục
1
1. Mở đầu.
1.1.Lí do chọn đề tài.
Hiện nay, việc dạy và học lịch sử trong các nhà trường phổ thông đang là
một trong những vấn đề khó khăn đối với các nhà trường đặc biệt là đối với giáo
viên giảng dạy lịch sử.Thực tế cho thấy, cùng với sự phát triển của xã hội và sự
bùng nổ của công nghệ thông tin, hầu như học sinh không còn ham thích học tập
bộ môn lịch sử . Điều này có rất nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản
làm cho các em nhàm chán đó là do đặc trưng bộ môn quá nhiều sự kiện lịch sử,
nhân vật lịch sử mà yêu cầu các em phải nhớ.
Bên cạnh đó phương pháp dạy học của giáo viên chưa thật sự gây hứng
thú học tập cho học sinh trong giờ học bộ môn lịch sử .
Trong giảng dạy một số thầy cô vẫn còn lúng túng trong việc truyền thụ kiến
thức cơ bản cho các em, các em ghi quá nhiều sự kiện lịch sử ,làm cho học sinh
phải tiếp nhận một khối lượng thông tin quá lớn, học sinh không nhớ nỗi rồi dẫn
đến chán học .
Khi vận dụng phương pháp dạy và học lịch sử, giáo viên ít chú ý đến
kênh hình. Vì vậy khi giới thiệu nhân vật lịch sử,giáo viên thường giới thiệu qua
loa, chỉ cho học sinh thấy chân dung nhân vật lịch sử mà không giới thiệu về
đặc điểm, tính cách, hình dáng , quan điểm của nhân vật lịch sử, từ đó không
những không khắc sâu kiến thức cho học sinh, mà không gây cho các em có
những xúc cảm đối với nhân vật lịch sử đó . Hơn nữa, việc kiểm tra đánh giá học
sinh của giáo viên cũng ít chú ý đến nội dung kiểm tra về các nhân vật lịch sử
mặc dù có một số tiết học vai trò các nhân vật lịch sử đó rất quan trọng, đóng vai
trò trung tâm về nội dung bài giảng trong suốt một tiết học .
Hơn nữa, thời gian dành cho bộ môn lịch sử còn ít, phương pháp giảng
dạy chưa đáp ứng được yêu cầu đặc trưng của bộ môn, trong bài giảng lịch sử
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Nhìn chung vấn đề học tập của các em học sinh ở trường THCS về bộ
môn lịch sử còn rất nhiều hạn chế, nhiều vấn đề cần để đưa ra bàn luận. Như
việc giảng dạy của giáo viên đối với học sinh và ngược lại việc học tập của các
em đối với bộ môn lịch sử thì như thế nào?Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
trong nhà trường ở nước ta đang được xã hội quan tâm. Bên cạnh việc đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay, việc đổi mới dạy học môn Lịch sử trong trường
THCS là một nhiệm vụ quan trọng đối với ngành giáo dục trong đó giúp học
sinh hứng thú học tập. Chúng ta thấy có một thực trạng phổ biến nhất đối với
các em học sinh là việc học bài cũ một cách thụ động, học vẹt, khi ngồi học trên
lớp với một tình trạng gò bó, o ép nhận kiến thức cho nên dẫn đến tình trạng các
em không nắm được kiến thức lịch sử, khi giáo viên kiểm tra bài cũ thì đa số các
em không nhớ, hay quyên mất một từ đầu câu thì sẽ quên hết nội dung kiến thức
đã học. Vậy làm thế nào các em học sinh không thụ động, có say mê hứng thú
học, nắm được kiến thức lịch sử.
Việc quan tâm bồi dưỡng thay đổi phương pháp dạy học hàng năm vận
được tiến hành đồng bộ, thường xuyên cũng đã góp phần làm cho cách học và
cách dạy của giáo viên, học sinh có phần khởi sắc. Bản thân không ngừng tìm
tòi sáng tạo cách dạy, cách truyền đạt mới với phương châm lấy học sinh làm
trung tâm và giáo viên là người hướng dẫn cho học sinh giải quyết vấn đề.
Như chúng ta đã biết, nhân vật lịch sử có vai trò vô cùng quan trọng.
Nhân vật lịch sử là bằng chứng cho sự hình thành và phát triển cho một quá
trình lịch sử. Nếu không có nhân vật lịch sử thì các sự kiện lịch sử trở nên nhà
chán thiếu sinh động, thiếu tính trung thực.Do đó phương pháp: Khắc họa nhân
vật trong dạy học lịch sử lớp 7 đóng một vai trò quan trọng đối với việc giúp học
sinh hứng thú học tập bộ môn này.
Trong chương trình lịch sử lớp 7 cả phần lịch sử thế giới và phần lịch sử
Việt Nam có nhiều nhân vật lịch sử vì vậy khi lên lớp giáo viên cần chú ý khắc
sâu các nhân vật lịch sử đó trong giờ dạy nhằm gây sự hứng thú cho học sinh,
đồng thời giúp các em khắc sâu kiến thức cụ thể các sự kiện quan trọng trong
chế. Sử dụng sự kiện, tiến trình lịch sử khô khan làm cho tiết dạy đôi lúc còn
nặng nề.
- Tài liệu nghiên cứu chưa đầy đủ.
- Hiện vật khó sưu tầm.
- Khả năng vẽ còn hạn chế.
- Trang thiết bị cho bộ môn còn thiếu, cho nên rất tốn thời gian chuẩn bị.
- Các tài liệu, hiện vật địa phựơng rất ít.
2.2.2 Về phía học sinh:
*Thuận lợi:
Thứ nhất, đa số các em học sinh trong trường THCS Thọ Thế có tinh thần
cố gắng trong học tập, nghe lời thầy cô.
Thứ hai, đối tượng học sinh từ 12 tuổi đến 15 tuổi ở bậc THCS – tuổi hiếu
động ưa thích điều mới, ham khám phá học hỏi, thích độc lập.
Thứ ba, các em được sự quan tâm động viên của toàn thể xã hội, được nhà
trường tạo mọi điều kiện tốt nhất để các em học tốt như: trang bị máy chiếu ở
hầu khắp các phòng học, kết nối internet để các em dễ dàng tìm kiếm thông tin
phục vụ cho việc học tập.
* Khó khăn:
Thứ nhất, thực tế cho thấy trong những năm gần đây, học sinh các trường
trung học cơ sở hiện tượng học sinh hổng kiến thức lịch sử. Tình trạng học sinh
4
“học vẹt,” “học tủ” bằng những sự kiện lịch sử khô khan cũng diễn ra rất phổ
biến.Trong đó việc học sinh nhận thức về các nhân vật lịch sử tỏ ra rất mơ hồ.
Ngay cả nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng vĩ đại như Nguyễn Huệ một số học
sinh vẫn còn rất mơ hồ: có học sinh lớp 9 còn cho rằng Quang Trung và Nguyễn
Huệ là hai người khác nhau,hai anh em.
Thứ hai, đối với học sinh trường THCS , đa số các em là con em gia đình
Vì vậy khi xây dựng biểu tượng nhân vật lịch sử thường gắn với cống hiến của
họ đối với giai đoạn lịch sử, điều đó sẽ giúp học sinh nắm chắc các giai đoạn
lịch sử và tiến trình lịch sử hơn.
* NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN TRONG VIỆC KHẮC HỌA
BIỂU TƯỢNG NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG BÀI GIẢNG.
- Trước tiên tư liệu chúng ta tiếp cận phải có tính tin cậy cao, đầy đủ và
cùng một tính chất, chúng ta không được“ tô hồng”hay“bôi đen” nhân vật lịch
5
sử. Khi nhận định về nhân vật lịch sử cần có tính khách quan, công bằng để cho
học sinh có cách nhìn đúng đắn.
Tính đầy đủ ở đây là chọn lựa một số sự kiện điển hình nhất vừa sức tiếp
thu của học sinh làm nổi bật được bản chất của nhân vật .
Truyền thống quê hương gia đình dòng họ là quan trọng nhưng không phải
là bất biến, càng không thể phủ nhận ý trí vươn lên của những người từ tầng lớp
cần lao.
Ví dụ: Yết Kiêu sinh ra trong một gia đình nghèo, cha mất sớm. Từ nhỏ,
ông đã phải lăn lộn trên sông nước để kiếm sống và nuôi mẹ. Ông là gia nô của
Trần Hưng Đạo và ông đã trở thành vị tướng giỏi cận vệ trung thành của Trần
Hưng Đạo
Trái lại cũng không hiếm trường hợp cha ông là anh hùng tái thế nhưng
con chỉ là lũ hư đốn như Lê Uy Mục. Lê Uy Mục vị vua thứ 8 của nhà Hậu Lê dòng tộc Hậu Lê có nhiều vị vua sáng nhất của chế độ phong kiến Việt Nam
nhưng Uy Mục lại là một vị Hoàng đế tàn bạo, hoang dâm, và "điềm loạn đã
xuất hiện từ đấy"[10].
Như vậy trong việc khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử thì yếu tố chính
xác,đầy đủ và khoa học đóng một vai trò rất quan trọng, bên cạnh nhân vật chính
diện, giáo viên có thể trình bày cả nhân vật phản diện nhưng phải thật khéo léo
để giáo dục nhân cách cho học sinh.
Nguyên lần 2 và 3 là Tiết chế Hưng Đạo Vương -Trần Quốc Tuấn –không chỉ
sống mãi trong lòng mọi người dân đất Việt mà còn vang danh khắp năm châu
bốn biển, sau này được thế giới công nhận là một trong mười vị tướng tài nhất
thế giới.
Ví dụ: Khi nói đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thì chúng ta phải gợi mở cho
học sinh lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa đó là Lê Lợi và nêu những công lao
to lớn của ông đối với cuộc khởi nghĩa và với lịch sử dân tộc.
Thông qua cách giới thiệu gợi mở và hấp dẫn về các nhân vật lịch sử sẽ
kích thích học sinh chuẩn bị bài ở nhà và đó là cơ sở để tiết học tiếp theo sinh
động, hấpdẫn.
Từ kết quả thực trạng điều tra cho thấy, ta có thể khắc phục nâng cao độ
hiểu biết bài, sự sinh động trong tiết học Lịch sử . Làm cho học sinh thấy được
sự sinh động, trổi dậy giữa các sự kiện, nhân vật, hình ảnh lịch sử một cách sôi
động, hưng phấn của một tiết dạy trước tạo tâm lí phấn khởi chờ đợi một tiết học
tiếp theo đối với môn lịch sử.
Việc đầu tiên là phải phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác tìm tòi
của học sinh đối với sự kiện lịch sử và biết cách trình bày một sự kiện đó sinh
động. Muốn như vậy thì người giáo viên phải có sự đầu tư vào xây dựng một hệ
thống câu hỏi từ gởi mở đến tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp phù hợp với mức
hiểu biết của các em học sinh ở tùng vùng miền. Không nên đánh đồng học sinh
vùng sâu, xa với các tiểu vùng phát triển hơn.
7
Đặc biệt khi có một cá thể trình bày xong một sự kiện người giáo viên
phải cho lớp tuyên dương một tràng pháo tay để kích lệ động viên, từ đó tạo cho
các em niềm tin và sự phấn chấn trong tiết học.
Từ đó nội dung kiến thức, hình ảnh nhân vật sẽ được toát lên một cách
sinh động. Câu thơ sẽ đi theo năm tháng cùng với các em về cuộc khởi nghĩa,
mà còn có “chức năng điều chỉnh hành động”[7].
Điều này đòi hỏi người giáo viên luôn biết tìm tòi, khám phá để có kiến
thức về xã hội, đặc biệt những bài văn thơ liên quan đến bài học lịch sử nói
chung và nhân vật lịch sử nói riêng. Hơn nữa giáo viên cũng cần biết sử dụng
kiến thức đúng lúc, đúng chỗ, biết vận dụng và kết hợp một cách nhuần nhuyễn,
tạo cho học sinh có cái nhìn tổng quát nhiều chiều trên phương diện lịch sử. Một
điều tôi nhận thấy rằng: thường các nhân vật lịch sử lại chính là đề tài cảm hứng
để các nhà văn, nhà thơ sáng tác.
8
Ví dụ : Khi dạy bài Quang Trung xây dựng đất nước ( Lịch sử 7) ,khi đánh
giá vai trò của vua Quang Trung, giáo viên mượn lời thơ của công chúa Lê Ngọc
Hân và phân tích cho học sinh biết về công lao to lớn của ông:
“Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước, xiết bao công trình”
Chính những vần thơ này cùng với việc giáo viên cho học sinh xem hình
ảnh sẽ tạo ra ấn tượng cho học sinh, giúp các em hứng thú say mê lĩnh hội kiến
thức sâu sắc hơn về nhân vật lịch sử.
2.3.3. Thông qua việc khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử giúp học sinh
hiểu sâu sắc hơn về cả một thời kỳ lịch sử.
Thông qua những biểu tượng lịch sử chân thật và sinh động giúp học sinh
nhận thức đúng vai trò của cá nhân trong lịch sử và mối quan hệ của cá nhân với
quần chúng nhân dân. Không chỉ có một nhân vật lịch sử mà có thể có nhiều
nhân vật lịch sử tiêu biểu cho thời đại. Những hoạt động của họ tạo nên bức
tranh toàn diện của lịch sử.
Ở đây chúng ta không phải đề cao cá nhân lịch sử mà quên đi vai trò của
quần chúng nhân dân, chính nhân dân là người làm nên lịch sử. Đồng thời thông
9
Từ đó, góp phần bồi dưỡng, hoàn thiện nhân cách, đem lại cho mỗi người
niềm tin chính đáng về truyền thống vẻ vang, về những trang sử hào hùng của
cha ông. Như vậy thông qua việc hiểu biết về nhân vật lịch sử giúp học sinh
hiểu sâu sắc hơn về một thời đại lịch sử.
2.3.4. Khắc họa nhân vật lịch sử làm tăng thêm lòng tự hào dân tộc.
Thông qua khắc họa nhân vật lịch sử giúp học sinh hiểu đất nước ta có
nhiều nhân tài, làm tăng niềm tự hào dân tộc.
Ví dụ : Khi dạy bài, Nước ta buổi đầu độc lập mục 2. Tình hình chính trị cuối
thời Ngô. Giáo viên nói về công lao của Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân như
sau:
Tượng đài Đinh Tiên Hoàng Đế ở thành phố Ninh Bình
11
Đinh Bộ Lĩnh là con nhà quan. Cha mất sớm, ông theo mẹ về quê sinh
sống nương nhờ người chú ruột. Lớn lên, Đinh Bộ Lĩnh cũng tập hợp dân chúng
ở vùng Hoa Lư chờ thời cơ đến. Đầu tiên ông mở rộng căn cứ của mình từ vùng
rừng núi Hoa Lư ra vùng đồng bằng ven biển sông Hồng, bằng cách cùng con
trai là Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Minh Công, tức
Trần Lãm, ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Sau đó ông được Trần Minh Công trao
binh quyền, đưa quân về Hoa Lư, chiêu mộ binh lính, chống nhà Ngô và các sứ
quân khác.
Loạn 12 sứ quân là một giai đoạn loạn lạc của lịch sử Việt Nam, xen giữa
nhà Ngô và nhà Đinh. Giai đoạn này hình thành và phát triển kể từ khi Dương
Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi
lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài
hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra
nhà nước Đại Cồ Việt - nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử.
Tướng giỏi của nhà Đinh mở đầu triều đại Tiền Lê.
Đại Hành Hoàng đế húy là Lê Hoàn, sinh ngày 15 tháng 7, nhằm ngày
rằm Tân Sửu năm 941, cha là Lê Mịch , mẹ là Đặng thị. Có nhiều thảo luận về
quê hương của ông, tuy nhiên kết luận cuối cùng chưa được đưa ra. Theo Đại
Việt sử ký toàn thư, Lê Hoàn người Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay).Câu chuyện
ông được sinh ra có nhuốm màu truyền thuyết. Khi mới có thai, Đặng thị chiêm
bao thấy trong bụng nở hoa sen, chỉ chốc lát đã kết hạt, bèn lấy chia cho mọi
người, còn mình thì không ăn, tỉnh dậy không hiểu nguyên do thế nào.Đến khi
sinh ra Lê Hoàn bà hiểu ra, bèn nói với mọi người rằng: “ Thằng bé này lớn lên
ta sợ không kịp hưởng lộc của nó”. Được vài năm cha mẹ qua đời, Lê Hoàn một
mình sống trong cảnh nghèo khổ [12], ông được một người họ Lê ở làng Mía
(nay thuộc xã Xuân Tân, Thọ Xuân) nhận làm con nuôi. Khi đó, người này đã
nhận xét Lê Hoàn "Tư cách đứa trẻ này, người thường không sánh được".
Đến tuổi trưởng thành, Lê Hoàn theo giúp Nam Việt vương Đinh Liễn.
Tính tình phóng khoáng lại có chí lớn, ông được Đinh Bộ Lĩnh khen là "người
trí dũng, chắc thế nào cũng làm được việc, bèn giao cho cai quản một nghìn
quân sĩ".
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, tức Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc
hiệu là Đại Cồ Việt. Đến năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng bắt đầu quy định cấp
bậc văn võ, tăng đạo. Lúc này, Lê Hoàn được làm Thập đạo tướng quân.
Tượng vua Lê Đại Hành. Ảnh: Youtube
Tượng Vua Lê Đại Hành
Năm 979, vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát
hại, Đinh Toàn khi đó mới 6 tuổi lên nối ngôi. Theo Lịch sử Việt Nam, Thập đạo
tướng quân Lê Hoàn được cử làm nhiếp chính đảm đương việc nước, xưng là
Phó Vương và trực tiếp dẹp tan những lực lượng chống đối trong nội bộ triều
đình.
công lao và con người của Lê Hoàn.
Lê Đại Hành nổi tiếng là vua coi trọng phát triển nông nghiệp. Năm 987,
vua tổ chức cày tịch điền để làm gương, khuyến khích nhân dân chăm lo sản
xuất nông nghiệp. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Đinh Hợi, mùa xuân, vua bắt
đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn
Hải, được một chĩnh nhỏ bạc, vì thế đặt tên ruộng là Kim Ngân".
14
Người dân tái hiện hình ảnh vua Lê Đại Hành cày tịch điền. Ảnh P.H
Như vậy có thể thấy những biểu tượng sinh động về sự kiện, nhân vật
được hình thành trong học tập bộ môn thực sự là những minh chứng cụ thể
về người thực, việc thực, tiêu biểu cho những giá trị truyền thống, tinh thần
của con người Việt Nam.
Hay khi dạy bài 16 – Sự suy sụp của nhà Trần cuối thế kỉ XIV, ở mục II,
giáo viên có thể kể về Hồ Nguyên Trừng cho học sinh thấy được tài năng của
ông, và từ đó tăng thêm lòng tự hào dân tộc.
Hồ Nguyên Trừng con cả của Hồ Quý Ly không chỉ là vị tướng có tài mà
còn là một công trình sư lỗi lạc được coi là ông tổ của nghề đúc súng thần công
Việt Nam.Thời ấy do yêu cầu chống giặc ngoại xâm , muốn có nhiều súng trang
bị cho các thành trì và các hạm đội, Hồ Nguyên Trừng đã phải gấp rút tổ chức
những xưởng đúc súng lớn, nhờ thông minh tuyệt vời cùng khả năng suy nghĩ
phi thường ,ông đã đúc kết những kinh nghiệm cổ truyền từ đó phát minh ra loại
súng có sức công phá khủng khiếp. Ông phát minh ra phương pháp đúc súng
mới gọi là súng “thần cơ”. Súng thần cơ có nhiều loại, sau này ông cho đúc
nhiều súng thần cơ cỡ lớn, gọi là “ thần cơ pháo”. Thần cơ pháo thực chất là
thần cơ cỡ lớn được đặt trên thành hoặc trên xe kéo cơ động. Quân Minh bao
phen kinh hoàng khiếp vía vì loại súng này.
hỏi để học sinh xác đinh tượng trong hình là ai? triều đại nào ?có công lao gì?
Từ những hình ảnh trên giúp các em hiểu rõ và sâu sắc hơn, tác động trực
tiếp đến tâm tư, tình cảm của các em. Giúp học sinh ghi nhớ được sự kiện , nhân
vật lịch sử. Từ nhớ nhân vật lịch sử có thể hình dung ra được nội dung kiến
thức, nội dung bài học. Ví dụ : Học sinh có thể hình dung trong đầu nhân vật đó
liên quan đến sự kiện gì? có công lao gì? Và kiến thức đó thuộc bài mấy của
chương trình Lịch sử 7. Phương pháp này giúp bài học không nhàm chán, kích
thích sự tò mò của các em muốn tìm hiểu , khám phá.
2.3.6. Khắc họa biểu tượng các nhân vật lịch sử thông qua việc cho học sinh
tự mình trình bày các hiểu biết lịch sử.
Theo quan điểm của dạy học hiện đại, học sinh trở thành chủ thể của sự tự
nhận thức . Vì vậy, việc học sinh tự trình bày hiểu biết lịch sử (qua sử dụng sách
giáo khoa, đọc thêm tài liệu, hiểu biêt từ cuộc sống) để các bạn nghe và tranh
luận sẽ góp phần không nhỏ vào sự hình thành biểu tượng trong mỗi bài lịch sử.
Khi tham gia vào quá trình trình bày học sinh sẽ trình bày theo hai loại : Trình
bày theo nội dung sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo, trình bày kiến thức
thu được trong cuộc sống. Trình bày theo nội dung sách giáo khoa và các tài liệu
tham khảo nhằm giải quyết các nhiệm vụ nhận thức do giáo viên đặt ra theo bài
học,giúp cho học sinh biết khai thác nội dung sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,
tiếp nhận, sàng lọc thông tin lịch sử để biến nó thành nhận thức.
Yêu cầu của việc trình bày này là :
- Học sinh phải biết nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo.
- Khi báo cáo tranh luận với bạn học sinh phải biết diễn đạt ngắn gọn, rõ
ràng, chủ yếu nêu được ý, có thái độ khiêm tốn, tiếp thu.
- Học sinh trình bày những hiểu biết của mình thu được trong cuộc sống
như nghe đài, xem tivi, nghe người khác kể ...
- Nắm vững kiến thức tiếp thu từ cuộc sống dưới dạng thông báo, thông
tin rồi kể tóm tắt có tác dụng bổ trợ cho bài học.
17
Cổng vào Khu di tích Lam Kinh cổ kính bên cây đa già hàng trăm tuổi.
18
Giáo viên hỏi : Hình dáng sông Chu có tác dụng như thế nào đối với việc bảo
vệ căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn? Học sinh vừa nghe, quan sát, các em có
thể tưởng tượng, hình dung trong đầu sau đó phán đoán, suy luận và tìm phương
án trả lời nhanh. Như vậy sẽ làm cho tiết học thêm sôi nổi khi các em có thể
cùng nhau tranh luận tìm câu trả lời, điều này vừa gây hứng thú cho các em vừa
giúp các em ghi nhớ kiến thức.
Sau khi tổ chức cho học sinh học tập tại thực địa tôi rút ra kết luận sau:
- Học sinh chăm chú, say sưa hứng thú học hơn vì nội dung học tập phong
phú, hấp dẫn, hình thức sinh động. Các em không phải tiếp thu những kiến thức,
sự kiện “ khô khan nặng nề” của một bài dạy kiểu “thông báo”, trái lại tại giờ
học thực địa học sinh tìm hiểu các sự kiện lịch sử qua quan sát các hiện vật, địa
hình, tranh ảnh về di tích. Ví dụ, cuộc chiến đấu ác liệt và anh dũng của nghĩa
quân Lam Sơn trong những năm tháng ở miền Tây Thanh Hóa được học sinh
hình dung lại bằng các biểu tượng cụ thể về các sự kiện ở Núi Mục, sông Chu,
rừng Chí Linh…Những biểu tượng đó hình thành nhanh chóng khi các em “trực
quan sinh động” những hiện vật và được khắc sâu vào trí nhớ các sự kiện, nhân
vật đạt hiệu quả cao.
- Tác dụng giáo dục tư tưởng, lòng yêu nước, truyền thống dân tộc qua bài
học tại thực địa đạt hiệu quả cao. Đặc biệt hiểu rõ ý nghĩa của khu di tích, học
sinh được bồi dưỡng ý thức tôn trọng, gìn giữ những di sản lịch sử, văn hóa của
ông cha để lại.
- Học tại thực địa học sinh phải huy động các thao tác tư duy nhiều hơn, liên
tục hơn so với học tập trên lớp .
- Phương pháp dạy học của giáo viên tại thực địa cũng được cải tiến, đổi mới
so với bài học trên lớp. Trên lớp giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp giảng
giải, ghi bảng, phát vấn...Ở lớp thực nghiệm giáo viên chủ yếu giới thiệu, hướng
61,5 2
7.7
0
0
7B 25
0
0
2
8,0
15
60,0 5
20,0 3
12,0
19
Sau khi thực hiện phương pháp :
Lớp Sỉ số
Giỏi
Kết quả kiểm định
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
SL %
học sinh, tạo hứng thú và kích thích khả năng tìm tòi ham khám phá của các em.
Việc áp dụng phương pháp này theo tôi là rất phù hợp với đối tượng học
sinh ở độ tuổi THCS và trên địa bàn toàn huyện, điều này sẽ giúp các em tiếp
cận tốt nhất, hiệu quả nhất bài học Lịch sử, các em sẽ nắm rõ nhân vật Lịch sử
kích thích tối đa khả năng khám phá của các em và từ đó sẽ giúp các em hiểu rõ
tiến trình lịch sử của dân tộc . Vì vậy việc khắc họa biểu tượng nhân vật Lịch sử
có vai trò to lớn trong dạy học Lịch sử là con đường ngắn nhất giúp học sinh
không quay lưng lại với môn học có sứ mệnh cao quý này.
Việc xây dựng nhân vật Lịch sử trong bài giảng chỉ là một khía cạnh trong
toàn bộ nội dung bài giảng Lịch sử, góp phần kích thích tạo nên sự tích cực, chủ
động sáng tạo trong hoạt động dạy- học thông qua đó hình thành cho các em thái
độ, tư tưởng tình cảm đóng góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện nhân
cách.
Việc dạy tốt, dạy hay để các em có hứng thú say mê học tập, nâng cao hiểu
biết phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Nhưng quan trọng nhất là trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và tâm huyết nghề nghiệp. Người thầy giáo cần nêu tấm gương sáng
về tinh thần tự học và sáng tạo cho học sinh noi theo bằng việc nâng cao chất
lượng giảng dạy, kết hợp với việc giáo dục nhân cách, lòng tự hào dân tộc cho
học sinh thông qua các nhân vật lịch sử tiêu biểu trong bài giảng lịch sử.
3.2.Kiến nghị.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật cho môn lịch sử.
- Giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, cần phải học tập nắm vững kiến thức để tránh tình trạng nhầm lẫn
trong dạy học lịch sử. Đồng thời cần có sự hiểu biết sâu rộng các lĩnh vực có
liên quan, đặc biệt là môn khoa học xã hội . Giáo viên cần cung cấp những kiến
thức mới mẽ, hấp dẫn gây ấn tượng để giúp các em tích cực và chủ động hơn
trong giờ học lịch sử khiến giờ học trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả.
- Biết kết hợp nhuần nhuyễn các phương tiện và hình thức tổ chức dạy
học phù hợp với yêu cầu của nội dung bài học, từng nhân vật Lịch sử. Không
nên gò bó áp đặt, giáo viên đặt những câu hỏi có tình huống để học sinh phát
6. Phương pháp dạy học theo hướng tích cực . NXB Đại học sư phạm.
7. P.A.Rudich: Tâm lý học, bản dịch. Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 1986,
tr.184-185.
8. Sách giáo khoa, sách giáo viên lịch sử lớp 7 chương trình chuẩn NXB
giáo dục.
9. Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử THCS. Bộ giáo dục và
đào tạo.
10. Vua chúa Việt Nam qua các triều đại. NXB giáo dục.
11. Việt sử giai thoại . NXB Giáo dục năm 2008.
12 .Việt sử tiêu án: Nhà xuất bản Văn Sử, 1991; Chương nhà Lê-
Đại Hành Hoàng Đế.
22