1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư hạ họng là khối u ác tính xuất phát từ niêm mạc che phủ hạ
họng. Trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh ung thư hạ họng tăng đáng kể hàng năm,
ước tính khoảng 14.400 trường hợp mắc mới mỗi năm. Bệnh hầu hết chỉ
phát hiện khi đã ở giai đoạn muộn (III, IV). Kết quả điều trị phụ thuộc vào
giai đoạn bệnh và các phương tiện kỹ thuật trong chẩn đoán và điều trị. Nội
soi đánh giá tổn thương bề mặt hạ họng. Chụp cắt lớp vi tính đánh giá vị
trí, kích thước, sự lan rộng của u, tổn thương lan xa và phát hiện đánh giá
hạch về vị trí, kích thước, số lượng. Chẩn đoán mô bệnh học khẳng định
chẩn đoán có hay không có ung thư, đó là typ bệnh học nào, có hay không
có các biến thể mô học, có xâm nhập hay không và tổn thương ung thư ấy ở
độ mô học nào. Đánh giá tiên lượng bệnh dựa vào: kích thước u, mức độ
lan tràn của mô u, phương pháp điều trị, các yếu tố cá nhân đóng vai trò
quyết định đến thời gian sống thêm và chất lượng cuộc sống của người
bệnh. Xác định các typ và dưới typ mô học, sự bộc lộ một số gen liên quan
đến yếu tố tiên lượng bệnh là vấn đề mang tính cấp thiết thời sự và khoa
học, xuất phát từ thực tiễn này chúng tôi nghiên cứu đề tài với 2 mục tiêu:
1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của
ung thư hạ họng.
2. Xác định tỷ lệ typ mô bệnh học, sự bộc lộ các dấu ấn Ki67, P53,
EGFR và mối liên quan với kết quả điều trị của ung thư hạ họng.
Chương 1
TỔNG QUAN
1.3. Chẩn đoán ung thư hạ họng.
1.3.1. Chẩn đoán lâm sàng ung thư hạ họng.
1.3.1.1. Ung thư xoang lê.
Ung thư xoang lê chiếm tỷ lệ lớn trong ung thư hạ họng. Triệu chứng
lâm sàng đầu tiên thường gặp là rối loạn nuốt một bên hoặc cảm giác khó
chịu một bên họng, đặc biệt khi nuốt nước bọt. Rối loạn nuốt tăng dần,
triệu chứng nuốt đau nhói lên tai ngày càng rõ. Giọng nói thay đổi, khàn
tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch, đánh giá: vị trí u, kích thước u, mức độ xâm
lấn, phá hủy tại chỗ, mô kế cận, xương. Hạch: số lượng, kích thước, vị trí. Di
căn sang tạng khác: vị trí, số lượng ổ di căn.
1.3.3.1. Hướng lan trong ung thư hạ họng
- Xoang lê: Lan ra phía trước liên quan tới nếp phễu nắp và các sụn
phễu: xâm lấn cạnh thanh môn, khoang trước nắp thanh quản. U bên xâm
lấn tới các phần của sụn giáp, xâm nhập vào khoang cổ bên. U vách giữa
xâm lấn tới cơ nội thanh quản. U bên dưới vượt qua đỉnh xoang lê có thể
liên quan tới tuyến giáp.
- Vùng sau nhẫn phễu: Lan theo chu vi tới sụn nhẫn hoặc đến thanh
quản, xoang lê, thành sau họng, miệng thực quản, thực quản, khí quản.
- Thành sau họng: Lan tới khẩu hầu, thực quản cổ, cân trước cột sống
cổ và khoang cận hầu. Những u lan xuống dưới niêm mạc khó có thể xác
định chính xác sự lan tỏa vi thể đầy đủ của bệnh.
3
- Bạch huyết của xoang lê có thể dẫn lưu qua màng giáp móng, qua các
hạch trước khí quản, tới hạch cổ chặng II, III.
1.3.3.2. Kiểm tra và phát hiện hạch cổ:
Tổn thương hạch cổ là vấn đề đáng lo ngại nhất trong ung thư hạ họng,
tỷ lệ là rất cao. Hạch cổ một bên (cùng bên hoặc đối bên), hạch 2 bên, chủ
yếu hạch ở ngang tầm xương móng, 88% là hạch 1 bên và phía bên bệnh
Tình trạng hạch không tương xứng với tình trạng bệnh. Việc đánh giá
thương tổn di căn ung thư lúc khám và lúc mổ thường khác nhau, chỉ khi
mổ mới phát hiện được số lượng hạch cũng như thể tích hạch nghi ngờ đã
có di căn bao giờ cũng nhiều hơn và nặng hơn lúc ta đánh giá trên lâm sàng
vì vậy chụp CLVT hạ họng đánh giá mức độ lan rộng của tổn thương.
1.3.3.3. Khám và phát hiện một ung thư thứ hai
- Vị trí di căn xa phổ biến nhất phát triển ở những bệnh nhân UTHH là phổi.
+ Cắt thanh quản hạ họng toàn phần + cắt đoạn thực quản. Được chỉ định
khi khối u lan rộng xuống miệng thực quản.
Việc nạo vét hạch cổ chọn lọc, chức năng, tiệt căn một hoặc hai bên
trong UTHH sẽ phụ thuộc vào chẩn đoán N và giai đoạn bệnh.
1.4.2. Tia xạ
1.4.3. Các phương pháp điều trị hóa chất chủ yếu
1.5. Một số yếu tố tiên lượng ung thư hạ họng
1.5.1. Kích thước khối u
Nghiên cứu về ung thư hạ họng đã cho rằng kích thước u đóng vai trò
quan trọng, được coi là yếu tố độc lập trong tiên lượng bệnh và đánh giá
hiệu quả của điều trị.
1.5.2. Giai đoạn (TNM Stage)
1.5.3. Một số dấu ấn phân tử
1.4.3.1. Gen EGFR: là thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì, sự gia tăng hoạt
động của EGFR có liên quan mật thiết với quá trình di căn bao gồm độ
bám dính với protein mô đệm, quá trình di cư và sự hiện diện của typ
matrix metalloproteinase các enzyme giúp tế bào u xâm nhập thành mạch.
Sự bộc lộ quá mức của EGFR làm tăng nguy cơ tái phát tại chỗ, biểu hiện
quá mức của gen EGFR ở cấp protein cũng được quan sát trong ung thư
biểu mô vảy kém biệt hóa và dự báo nguy cơ gia tăng của tình trạng tái
phát, di căn.
1.4.3.2. Gen p53: được coi là có vai trò điều hoà gen phân chia tế bào,
kiểm tra sự phân chia tế bào và tham gia mở đầu hiện tượng appotosis, nó
có trách nhiệm tổng hợp một protein thuộc nhân có trong lượng phân tử
53kd. Protein này đảm nhiệm nhiều chức năng, trong đó quan trọng nhất là
chức năng làm ngừng quá trình phân bào lại đối với những tế bào có bộ gen
bất thường đi vào trong quá trình phân chia. Protein này còn có nhiệm vụ
sửa chữa những khiếm khuyết của bộ gen.
1.4.3.3. Ki67 là một kháng nguyên nằm trong nhân tế bào. Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng bộc lộ cao của Ki67 gắn liền với độ ác tính cao. Biểu hiện
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả từng trường hợp
2.2.2. Cỡ mẫu: Chọn mẫu không xác suất, loại mẫu chủ đích gồm 61 bệnh nhân
2.3. Nội dung các biến số nghiên cứu
2.3.1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh CLVT của ung thư biểu mô
hạ họng:
- Tuổi, giới, nghề nghiệp, nơi cư trú, hút thuốc lá, thuốc lào, lạm dụng
rượu, trào ngược DD-TQ
- Các triệu chứng cơ năng: Khàn tiếng, ho, khó thở, nuốt nghẹn, nuốt
vướng, đau, sặc.
- Triệu chứng thực thể: Vị trí u, hình thái, kích thước, mức độ xâm lấn,
hạch cổ, dấu hiệu di căn xa.
- Triệu chứng CLVT; Vị trí u, kích thước, mức độ xâm lấn, hạch cổ,
dấu hiệu di căn xa.
2.3.2. Xác định typ mô bệnh học, tỷ lệ typ Ki67, Gen P53, EGFR và
mối với đặc điểm lâm sàng CLVT và kết quả điều trị UTHH.
6
So sánh kích thước u, giai đoạn TNM, typ mô bệnh học, độ biệt hóa, bộc lộ
P53, Ki67, EGFR với thời gian sống thêm.
2.4. Quy trình nghiên cứu
2.4.1. Nghiên cứu một số yếu tố dịch tễ, tiền sử, yếu tố nguy cơ
- Tuổi, giới, nghề nghiệp, nơi cư trú, hút thuốc lá, thuốc lào, lạm dụng
rượu, trào ngược dạ dày thực quản.
2.4.2. Nghiên cứu lâm sàng
- Dụng cụ, trang thiết bị:
* Bộ khám TMH thông thường, kìm sinh thiết
* Bộ nội soi phóng đại ống mềm, bộ nội soi đồng bộ Panendoscope và
thiết bị kèm theo đầy đủ.
7
2.4.5. Nghiên cứu hóa mô miễn dịch
- Tất cả các trường hợp nghiên cứu sẽ được nhuộm với marker p53 và
Ki67, EGFR. Đánh giá kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch:
- Âm tính: tế bào u không có màu nâu hoặc ít hơn 10% tế bào u có màu nâu.
- Dương tính +: Khi có nhiều hơn 10% tế bào u bắt màu nhưng những
tế bào này chỉ bắt màu ở từng phần màng bào tương tế bào.
- Dương tính ++: Khi tế bào bắt màu mức yếu đến trung bình ở toàn
bộ màng bào tương tế bào với >10% tổng số tế bào u
- Dương tính +++: Khi màng bào tương tế bào bắt màu toàn bộ với
cường độ mạnh được quan sát thấy trên 10% tế bào u.
2.5. Chẩn đoán GĐ lâm sàng
Chẩn đoán GĐ lâm sàng dựa vào phân loại TNM của AJCC năm 2007
2.6. Theo dõi thời gian sống thêm
- Gọi điện và đến tận nhà BN để hẹn khám theo dõi định kỳ 3 tháng/
lần trong hai năm đầu. Sau 2 năm đánh giá 6 tháng/lần. Đánh giá thời gian
sống thêm sau điều trị bằng cách lấy thông tin người bệnh còn sống hay đã
chết. Thời điểm xác nhận đánh giá là < 6 tháng, 6 –
vướng kèm khàn tiếng, mỗi nhóm đều chiếm >20%.
3.1.2.2. Triệu chứng thực thể của UTHH qua nội soi Panendoscope
- Vị trí xuất phát điểm của khối u hạ họng
Bảng 3.6. Vị trí xuất phát điểm của khối u hạ họng
Vị trí xuất
Số bệnh nhân
Tỷ lệ phần trăm (%)
Xoang lê
55
90,1
Thành sau họng
4
6,6
Sau nhẫn phễu
2
3,3
Tổng
61
100,0
- Có 55 trường hợp u xuất phát ở xoang lê (90,1%). Có 4 trường hợp
xuất phát từ thành sau hạ họng (6,6%). Khối u xuất phát sau nhẫn phễu gặp
2 (3,3%).
- Vị trí khối u của ở xoang lê
Bảng 3.7. Vị trí khối u của ở xoang lê
Vị trí
Số bệnh nhân
Tỷ lệ phần trăm (%)
Thành trong
39
70,9
Hạ thanh môn
12
19,7
Sụn phễu
41
67,2
Vùng giáp gianh (Nẹp phễu thanh thiệt)
55
78,7
Vị trí xâm lấn thường gặp hơn cả là: nẹp phễu thanh thiệt, sụn phễu.
- Lan tràn ngoài vùng hạ họng - thanh quản.
Bảng 3.11. Tổn thương và lan rộng của ung thư hạ họng
Sau
Thành
Lan rộng trên
Xoang
nhẫn
sau hạ
CLVT
lê
Vị trí lan rộng
phễu
họng
Thượng thanh môn Sụn thanh thiệt
33
Tiền đình thanh quản
6
Băng thanh thất
24
Thành sau hạ họng Thành sau hạ họng
15
4
2
Vùng giáp gianh
Nẹp phễu thanh thiệt
51
2
2
Lên trên
Thành bên họng miệng
1
Đáy lưỡi
4
Khoang trước thanh thiệt
5
Lan rộng ngoài
Sụn giáp
1
vùng cổ.
Miệng thực quản
4
2
2
Khí quản
1
Vị trí xâm lấn thường gặp hơn cả là: nẹp phễu thanh thiệt, khoảng cạnh
10
Hạch cổ
Phân loại
Số bệnh nhân n
Tỷ lệ %
N1
18
58,1
N2
12
38,7
N3
1
3,2
Tổng
31
100,0
Có 18 ở giai đoạn N1 (58,1%), hạch giai đoạn N2 có 12 trường hợp
(38,7%) . Có 1 trường hợp hạch có đường kính lớn nhất > 6 cm (3.2%).
- Sự phân bố hạch.
Bảng 3.16. Sự phân bố hạch
STT
Vị trí hạch
Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
1
Hạch cùng bên
25
80,6
2
Hạch đối bên
2
10
16,4
Giai đoạn 3
24
39,3
Giai đoạn 4
19
31,2
Tổng
61
100,0
Giai đoạn S1 8/61 (13,1%). Giai đoạn S2 gặp 10/61 (16,4%). Giai
đoạn S3 gặp 24/61 (39,3%). Giai đoạn S4 gặp 19/61 (31,2%).
3.2. Tỷ lệ typ mô bệnh học, sự bộc lộ các dấu ấn Ki67, P53, EGFR và
mối liên quan với kết quả điều trị của ung thư hạ họng
3.2.1. Tỷ lệ các typ mô bệnh học
Typ mô bệnh học của cả 61 trường hợp đều là ung thư biểu mô vảy,
trong đó có 3 biến thể. Trong số 61 trường hợp ung thư biểu mô vảy, có 1
trường hợp là ung thư biểu mô vảy biến thể dạng mụn cơm, 1 trường hợp
ung thư biểu mô vảy biến thể tế bào dạng đáy, 1 trường hợp ung thư biểu
mô vảy biến thể nhú. Các biến thể khác của ung thư biển mô chúng tôi
không gặp.
3.2.2. Sự bộc lộ các dấu ấn p53, Ki67 và EGFR
- Tỷ lệ p53 dương tính chiếm 73,8%, trong đó dương tính +++ chiếm
39,4%. Tỷ lệ p53 dương tính ++ chiếm 18,0%. Tỷ lệ p53 dương tính +
chiếm 16,4%. Âm tính chiếm 26,2%.
- Tỷ lệ Ki67 dương tính 100%, trong đó dương tính +++ chiếm 50,8%. Tỷ
lệ Ki67 dương tính ++ chiếm 18,0%. Tỷ lệ Ki67 dương tính + chiếm
31,2%. Không có trường hợp nào âm tính.
- Tỷ lệ EGFR dương tính chiếm 72,2%, trong đó dương tính +++ chiếm
≥ 48 tháng
0,033
0,023
- Thời gian sống thêm toàn bộ tính đến 48 tháng theo dõi: 27,24 + 2,060,
tính đến kết thúc nghiên cứu: 35,66 + 2,438
Biểu đồ 3.11: Thời gian sống thêm
tính đến kết thúc nghiên cứu
Biểu đồ 3.12: Thời gian sống thêm
tính đến 48 tháng theo dõi
Bảng 3.24: Liên quan thời gian tiến triển của bệnh cho đến khi vào
viện và thời gian sống thêm toàn bộ
Thời gian sống thêm ( tháng)
TG tiến triển
P
95% CI
Trung
SE
bình
Thấp
Cao
< 3 tháng
3 - 6 tháng
> 6 tháng
Chung
45,364
38,394
T3 + T4
Chung
Thời gian sống thêm ( tháng)
95% CI
Trung bình
SE
Thấp
Cao
50.86
2.511
45.96
55.69
22.76
2.183
18.44
27.03
35.66
2.438
30.64
40.51
P
46.10 tháng và có hạch là 25.55 tháng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với P
95% CI
Trung vị
95% CI
P
bình
Âm tính 52.250
44.328 60.172 54.000 50.080 57.920
+
44.700
38.599 50.801 45.000 38.802 51.198
++
34.364
24.439 44.289 32.000 25.526 38.474 < 0,001
+++
21.417
16.116 26.718 20.000 15.199 24.801
Tổng
35.656
30.877 40.435 35.000 28.304 41.696
Biểu đồ 3.18: Liên quan thời gian sống thêm toàn bộ với sự bộc lộ P53
16
Thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân có P53 âm tính cao nhất
52,250 tháng, P53 +++ là thấp nhất 21,417 tháng. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với P
+
42.333
37.288 47.379 45.000 38.305 51.695
++
32.500
26.503 38.497 33.000 27.835 38.165 < 0,001
+++
17.045
13.061 21.030 17.000
7.807 26.193
Tổng
35.656
30.877 40.435 35.000 28.304 41.696
17
Biểu đồ 3.20: Liên quan thời gian sống thêm toàn bộ với
sự bộc lộ EGFR
Thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân có EGFR âm tính cao nhất
56,882 tháng, EGFR +++ là thấp nhất 17,045 tháng. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với P
18
khó thở thanh quản đây là những trường hợp di căn từ hạ họng đến thanh
quản cố định ½ dây thanh và khối u to làm bệnh nhân khó thở chiếm
21,3%. Gặp 6 trường hợp hạch cổ to là những trường hợp hạch cổ ở giai
đoạn N2 chiếm 9,8%. Gặp 5 trường hợp đau lan lên tai chiếm 8,2%.
- Bệnh nhân đến khám bệnh đa số trong thời gian từ 3 tháng đến 6 tháng
kể từ khi mắc bệnh có 33 bệnh nhân với tỷ lệ 54,1%. Bệnh nhân đến < 3
tháng có 11 bệnh nhân chiếm 18,0%. Bệnh nhân đến sau 6 tháng có 17
bệnh nhân chiếm 27,9%.
4.1.2.Triệu chứng lâm sàng ung thư hạ họng
- Triệu chứng cơ năng ung thư hạ họng
Bệnh nhân có rối loạn nuốt ở các mức độ khác nhau 100%, tỷ lệ này tương
đương tác giả Lê Minh Kỳ 100%, Đình Phúc và cộng sự là 100%,và tương
đồng với nghiên cứu của Ravindra 100%, Pau 99%, rối loạn nuốt là triệu
chứng có sớm, giai đoạn đầu thường nhẹ và không liên tục, bệnh nhân dễ
bỏ qua. Triệu chứng nuốt vướng đơn thuần gặp 9 trường hợp (14,8%).
Nuốt vướng có nuốt đau hoặc nuốt sặc gặp 20 trường hợp (32,8%) trong đó
có 2 trường hợp nuốt vướng có nuốt nghẹn (3,28%), gặp 1 trường hợp nuốt
vướng có nuốt sặc chiếm 1,64%. Gặp 14 trường hợp nuốt vướng có kèm
khàn tiếng (23,0%). Nuốt vướng có kèm khó thở cùng gặp 13 trường hợp
(21,3%).
- Trong nghiên cứu của chúng tôi, khàn tiếng gặp 14 trường hợp chiếm
23,0%, thấp hơn của Pau 30%, Lê Minh Kỳ 35,5% , Ravindra 35,6%. Triệu
chứng khó thở gặp 13,11%, cao hơn nghiên cứu của Ravindra 11,8%, thấp
hơn các nghiên cứu khác: Pau 14%, Lê Minh Kỳ 14,5%.
- Triệu chứng đau lan lên tai gặp 5 bệnh nhân ( chiếm 8,2%) liên quan đến
dây thần kinh tai lớn tương đương tác giả Lê Minh Kỳ 8,1%, Pau 9%, thấp
hơn Ravindra 17,5%.
- Thành sau họng, CLVT phát hiện có 2 trường hợp phát hiện có tổn thương.
- Xâm lấn tại vùng thanh quản
- Thượng thanh môn: Có 33 trường hợp tổn thương xâm lấn thượng
thanh môn
+ Băng thanh thất kết quả 24 ca. Có 2 trường hợp thể sùi xâm lấn, đè
đẩy vào băng thanh thất, rất khó để đánh giá các thành phần bị che lấp.
Trong những trường hợp này CLVT có vai trò rất lớn trong việc phát hiện
tổn thương.
+ Sụn thanh thiệt: có 33 trường hợp có tổn thương xâm lấn sụn thanh
thiệt.
+ Tiền đình thanh quản có 6 trường hợp được phát hiện có tổn thương
trên CLVT.
- Thanh môn: Có 18 trường hợp tổn thương xâm lấn thanh môn
+ Khoảng cạch thanh môn: ghi nhận 34 trường hợp (55,7%), kết quả
này của Xue – Ying Deng 87,2% và Lê Minh Kỳ 98%. Theo Becker và
cộng sự khối u ở giai đoạn T3, T4 có phù nề ứ đọng dịch ở vị trí này
+ Dây thanh, có 14 trường hợp bị xâm lấn, kết quả này tương tự nghiên
cứu của Lê Minh Kỳ , Xue – Ying Deng. với triệu chứng khàn tiếng trên lâm
20
sàng ta thấy có sự phù hớp với 14 trường hợp khàn tiếng trên lâm sàng.
+ Mép trước: Có 4 ca, Vị trí này thường gây khàn tiếng sớm. Khi khối
u to nó sẽ xâm lấn, đè đẩy thanh quản, vì vậy khi khám lâm sàng bằng nội
soi chúng ta rất khó đánh giá hết được.
- Hạ thanh môn. Có 12 bệnh nhân có tổn thương lan tới hạ thanh môn.
- Các sụn thanh quản; Sụn phễu, có 28 trường hợp bị xâm lấn đây là vị
trí dễ quan sát. Kết quả này của Lê Minh Kỳ 100% khi nghiên cứu 61 bệnh
nhân ở giai đoạn T3, T4, Ranvindra 95%.
- Vùng giáp ranh: Vị trí nẹp phễu thanh thiệt, có 55/61 trường hợp đánh
21
nhất 25 bệnh nhân (41,0%), ung thư lan rộng ra 2 vị trí có 21 bệnh nhân
(34,4%), lan rộng ra 3 vị trí có 5 bệnh nhân (8,2%), ung thư lan rộng ra 4 vị
trí có 1 bệnh nhân (1,6%). Không gặp tổn thương sau nhẫn phễu đơn độc.
- Phân độ T: Bệnh nhân ở giai đoạn muộn T2,T3 chiếm 44/61 (72,1%),
theo Lê Minh Kỳ và cộng sự 79%. Khi đánh giá kết quả lâm sàng nội soi
và CLVT thấy khối u giai đoạn T3 có 25 trường hợp (41,0%). T2 có 19
trường hợp (31,1%). Giai đoạn T1 có 9 trường hợp (14,8%). Có 8 trường
hợp giai đoạn T4 (13,1%). Theo một nghiên cứu của tác giả Lê Minh Kỳ và
cộng sự T1 ghi nhận 05 trường hợp (8,06%), T2 đánh giá 16 trường hợp
(26,23%). T3 có 33 trường hợp (53,23%). T4 có 08 trường hợp. Kết quả
giai đoạn T4 tương đương Lê Minh Kỳ 12,90%.
- Hạch cổ: Trong nghiên cứu của chúng tôi, hạch cổ cũng là triệu chứng
thường gặp, có 31 bệnh có hạch cổ (50,8%) kết quả này nghiên cứu của Lê
Minh Kỳ và cộng sự 43,3%, Nguyễn Đình Phúc và cộng sự 43,4%, và
nghiên cứu của Ravindra 45,1%
Nghiên cứu có tới 31 trường hợp bệnh nhân có di căn hạch cổ trong đó
18 ở giai đoạn N1 chiếm 58,1% cao hơn Lê Minh Kỳ 40,3%. Hạch giai
đoạn N2 có 12 trường hợp chiếm 38,7%. Có 1 trường hợp hạch có đường
kính lớn nhất > 6 cm chiếm 3,2%.
Nhóm cùng bên gặp 25 trường hợp chiếm 80,6%. Hạch đối bên gặp 2
trường hợp chiếm 6,5%. Hạch 2 bên gặp 4 trường hợp chiếm 12,9%.
Có 1 nhóm hạch gặp 19 trường hợp chiếm 61,3%, trong đó hạch nhóm
III gặp 10 trường hợp chiếm 32,3%. Hạch nhóm II gặp 6 trường hợp
chiếm 19,3%. Hạch nhóm I gặp 3 trường hợp chiếm 9,7%. Có 12 trường
hợp gặp nhiều hơn 1 nhóm hạch trong đó hạch nhóm II và III là gặp nhiều
nhất 8 trường hợp chiếm 25,81%. Trường hợp bệnh nhân có 2 nhóm hạch
nhóm I,II và bệnh nhân có nhóm III, IV gặp 1 bênh nhân mỗi nhóm chiếm
3,2%. Trong nghiên cứu chúng tôi gặp 2 trường hợp bệnh nhân có hạch
nhómI, II,III chiếm 3,2%.
nhất là khả năng đáp ứng xạ trị. Nhiều công trình cũng đã nghiên cứu sự bộc
lộ của Ki-67 trong các UT BM đầu cổ và đều nhất trí cho rằng, tiên lượng
xấu luôn đi cùng với sự bộc lộ cao của dấu ấn này. Nghiên cứu 61 bệnh nhân
chúng tôi thu được tỷ lệ bộc lộ dấu ấn miễn dịch Ki67 là dương tính 100%,
trong đó dương tính (+++) chiếm 50,8%. Tỷ lệ Ki67 dương tính (++) chiếm
18,0%. Tỷ lệ Ki67 dương tính (+) chiếm 31,2%. Không có trường hợp nào
âm tính.
- Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ EGFR dương tính chiếm 72,2%,
trong đó dương tính (+++) chiếm 36,1%. Tỷ lệ EGFR dương tính (++)
chiếm 16,4% và tỷ lệ EGFR dương tính (+ ) chiếm 19,7%. Âm tính chiếm
27,8%. Nghiên cứu của nhóm tác giả Wen và cộng sự nghiên cứu sự bộc lộ
của EGFR trên 68 mẫu bệnh phẩm sinh thiết UTTQ đã chuyển đúc trong
paraffin, nhuộm hóa mô miễn dịch cho thấy EGFR bộc lộ ở 42,6%, tương
tự kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Kết quả nghiên cứu của Ling Ling
Luo Minjie Lai Maode và cộng sự (1999) ở 30 trường hợp UTTQ và 10
mẫu mô thanh quản bình thường về sự bộc lộ dấu ấn EGFR cho thấy EGFR
23
hoàn toàn âm tính ở mẫu mô thanh quản bình thường và bộc lộ ở 48% các
trường hợp UTTQ.
4.2.3. Thời gian sống thêm và mối liên quan với kết quả điều trị của ung
thư hạ họng
Trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian sống thêm toàn bộ tính đến
kết thúc nghiên cứu: 35,66 + 2,44. Thời gian sống thêm toàn bộ tính đến 48
tháng theo dõi: 27,24 + 2,06. Thời gian sống thêm trung bình của bệnh cho
đến khi vào viện 6 tháng 24,06 tháng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P
thời gian sống thêm của bệnh nhân chưa có hạch cổ nhiều hơn bệnh nhân
có hạch cổ là 0,33 lần (3,3%). Trung bình thời gian sống thêm của bệnh
nhân chưa xuất hiện dấu ấn miễn dịch P53 nhiều hơn bệnh nhân có dấu ấn
miễn dịch P53 là 0,25 lần (2,5%).
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 61 trường hợp ung thư hạ họng về lâm sàng, chụp
cắt lớp vi tính, mô bệnh học và một số yếu tố tiên lượng chúng tôi rút ra kết
luận sau:
1. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ung thư hạ họng
- Rối loạn nuốt gặp ở hầu hết các trường hợp. Ung thư hạ họng xuất phát
từ xoang lê chiếm nhiều nhất (90,2%). Tổn thương dạng sùi đơn thuần
là 65,6%, u ở 1 vị trí chỉ có 14,7%.Giai đoạn T3 và T4 chiếm 70,5%;
giai đoạn 3 và giai đoạn 4 gặp 70,5%. Số có di căn hạch cổ là 50,8%.
- Nội soi giúp xác định vị trí, hình thái tổn thương và sinh thiết làm xét
nghiệm mô bệnh học.
- Chụp cắt lớp vi tính các trường hợp ung thư hạ họng giúp xác định vị
trí, mức độ lan rộng, hình thái và kích thước hạch.
2. Tỷ lệ typ mô bệnh học, sự bộc lộ các dấu ấn Ki67, P53, EGFR và
mối liên quan với kết quả điều trị của ung thư hạ họng
- Typ ung thư biểu mô vảy truyền thống chiếm tỷ lệ rất cao (95,1%).
- P53 bộc lộ73,8% các trường hợp; có 50,8% bộc lộ Ki67 mức (+++), tỷ lệ
bộc lộ dấu ấn EGFR là 72,1%.
- Thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân ở giai đoạn T1+T2 nhiều
hơn bệnh nhân giai đoạn T3+T4 là 0,56 lần, của bệnh nhân chưa có
hạch cổ nhiều hơn bệnh nhân có hạch cổ là 0,33 lần.
- Thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân không đột biến P53
nhiều hơn bệnh nhân có đột biến P53 là 0,25 lần.
- Tất cả các trường hợp có bộc lộ dấu ấn Ki67 mức độ cao (+++) và
dương tính với EGFR trên nhuộm hóa mô miễn dịch đều có thời
gian sống thêm toàn bộ ngắn hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh