Đánh giá sự thay đổi khúc xạ sau phẫu thuật sụp mi bằng phương pháp treo mi vào cân cơ trán - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mi mắt là một bộ phận tuy nhỏ nhưng vô cùng quan tr ọng. B ằng
phản xạ chớp mắt, mi mắt dàn đều nước mắt trên giác m ạc, đ ảm b ảo
tính trong suốt và ổn định của bề mặt nhãn cầu, giúp nhãn cầu th ực
hiện chức năng thị giác.
Về mặt giải phẫu mi mắt nằm ngay trước giác mạc, tạo áp lực đè
thường xuyên lên giác mạc dẫn đến sự thay đổi địa hình giác mạc t ừ đó
có thể dẫn tới sự thay đổi về khúc xạ của giác mạc nói riêng và khúc xạ
nhãn cầu nói chung [1]. Nhiều nghiên cứu cho thấy các bất thường ở mi
mắt như sụp mi, chắp mi, các khối u mi hay sau phẫu thu ật mi m ắt gây
ra loạn thị giác mạc [2], [3], [4]. Nghiên cứu của Shaw (2008) còn chỉ ra
rằng ngay cả trên mắt bình thường ở các góc độ nhìn khác nhau, đ ộ m ở
của khe mi khác nhau cũng gây ra sự thay đổi về khúc xạ, đặc biệt là
mức độ loạn thị và trục loạn thị [5].
Sụp mi bẩm sinh là một trong các bệnh lý về mi mắt thường gặp ở
trẻ em. Bệnh có thể kèm theo một số bất th ường khác tại m ắt nh ư t ật
khúc xạ và lác. Có nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa sụp mi
bẩm sinh và tật khúc xạ, đặc biệt là loạn thị [6]. Từ năm 1999, Ugurbas
đã tìm thấy sự gia tăng tỷ lệ loạn thị và bất đối xứng bề mặt giác m ạc
trên các mắt bị sụp mi bẩm sinh. Sụp mi bẩm sinh nếu không đ ược đi ều
trị sớm có thể dẫn đến nhược thị do trục thị giác bị che khuất [2], [6],
[7]. Điều trị sụp mi bẩm sinh chủ yếu bằng phẫu thuật, có hai ph ương
pháp chính được các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến là cắt ng ắn
cơ nâng mi và treo mi trên vào cơ trán.


2
Phẫu thuật treo mi vào cân cơ trán được chỉ định trong những

Về phương diện khúc xạ có thể xem mắt như một máy chụp ảnh
mà vật kính là phức hợp giác mạc- thể thủy tinh, màng chắn là m ống
mắt và phim là võng mạc. Khi mắt nhìn một vật, ánh sáng t ừ v ật sẽ đi
qua không khí, xuyên qua các môi trường trong suốt và tạo ảnh trên võng
mạc.
Các môi trường trong suốt bao gồm: Giác mạc, thủy dịch, thể thủy
tinh và dịch kính. Các môi trường này có chỉ số chiết quang khác nhau,
bán kính cong và khoảng cách giữa các bề mặt khúc xạ khác nhau do đó
có công suất khúc xạ khác nhau.
Tổng công suất khúc xạ của toàn bộ nhãn cầu khoảng 58D.
Trong đó CSKX của giác mạc khoảng 40 - 45D, của thể thủy tinh
khoảng 16 - 20D. Thủy dịch và dịch kính có chỉ số chiết quang thấp
nên CSKX là không đáng kể.
1.1.1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng khúc xạ của mắt
Giác mạc
Giác mạc là lớp màng trong suốt có hình chỏm cầu, chiếm 1/5 phía
trước nhãn cầu. Kích thước giác mạc tăng nhanh trong 2 năm đ ầu đ ời,
đến khoảng 14 tuổi thì đạt kích thước như người trưởng thành. Cùng


4
với sự tăng của kích thước là sự giảm bán kính cong và công su ất khúc
xạ.
Giác mạc bình thường không hoàn toàn có dạng hình cầu mà có
hình elip với đường kính dọc nhỏ hơn đường kính ngang (11 và 11,75
mm) do đó CSKX theo trục dọc cao hơn CSKX theo trục ngang - đó là loạn
thị sinh lý. Để giải thích nguyên nhân của loạn thị sinh lý, các tác giả
nước ngoài đưa ra giả thuyết về vai trò áp lực của mi mắt lên giác mạc,
áp lực của các cơ ngoại nhãn lên nhãn cầu, vai trò của màng phim nước
mắt… trong đó áp lực của mi mắt chiếm vai trò quan trọng nhất [13].

1,376
+48 D
-5 D
+43 D


5
Thể thủy tinh
Thể thủy tinh là một thấu kính hội tụ hai mặt lồi. Ở trẻ nh ỏ th ể
thủy tinh gần giống hình cầu có CSKX khoảng +42D, càng tr ưởng thành
CSKX càng giảm. Ở người trưởng thành, thể thủy tinh có đương kính
khoảng 9mm, chiều dày trung tâm khoảng 4mm, bán kính cong m ặt
trước khoảng 10mm, mặt sau khoảng 6mm, công suất hội tụ khoảng 2022D.
Trục nhãn cầu
Là khoảng cách từ đỉnh giác mạc đến võng mạc trung tâm. Trục
nhãn cầu ở trẻ sơ sinh khoảng 18mm, tăng nhanh trong 3 năm đầu đ ời,
đến 3 tuổi thì đạt kích thước khoảng 23mm, gần bằng ở người lớn. Khi
thay đổi độ dài trục nhãn cầu 1mm thì thay đổi công suất khúc xạ nhãn
cầu khoảng 3D.
1.1.1.3. Các phương pháp đo khúc xạ
Đo khúc xạ giác mạc
Giác mạc kế
Nguyên tắc hoạt động của máy đo là xác định chính xác kích th ước
của hình ảnh được phản chiếu lên mặt trước giác mạc, từ kích th ước
này sẽ được tính toán ra bán kính cong và CSKX của mặt trước giác mạc.
Máy giúp chẩn đoán được loạn thị do giác mạc, loạn th ị đều hay không
đều, xác định được trục hai kính tuyến chính và CSKX của t ừng kinh
tuyến. Tuy nhiên máy này không xác định được cụ th ể loại loạn th ị là
cận, viễn hay hỗn hợp.


thường xuyên hay bệnh nhân phối hợp không tốt.
Soi bóng đồng tử
Đây là phương pháp đánh giá khúc xạ khách quan giúp xác định
công suất khúc xạ toàn phần của nhãn cầu và trục loạn th ị n ếu có.
Phương pháp này cho kết quả rất chính xác, nh ất là đ ối v ới trẻ em và
người có khuyết tật về ngôn ngữ, thính giác và th ần kinh. Tr ước khi soi
cần liệt điều tiết bằng thuốc liệt điều tiết như Atropin 0,5% hay
Cyclogyl 1%.
Thử kính
Thử kính là một phương pháp đánh giá khúc xạ chủ quan. Ph ương
pháp này không đòi hỏi các máy móc hiện đại tuy nhiên th ực hiện nó
mất nhiều thời gian, cần sự phối hợp tốt của bệnh nhân và kinh nghi ệm
của người thử.
1.1.2. Đại cương về bệnh sụp mi bẩm sinh
1.1.2.1. Định nghĩa
Sụp mi bẩm sinh là sự sa của mi trên xuống thấp hơn cực trên của
giác mạc 2mm khi nhãn cầu ở tư thế nhìn thẳng, bệnh xuất hiện sớm ngay
từ lúc mới sinh, mức độ từ nhẹ đến trung bình, độ sụp không thay đổi
trong ngày và có thể bị cả hai mắt. Sụp mi bẩm sinh chiếm tới 75% các
trường hợp sụp mi [14].


8
1.1.2.2. Các hình thái sụp mi bẩm sinh
Sụp mi bẩm sinh đơn thuần
Là hình thái thường gặp nhất, có thể ở một hoặc cả hai bên
thường kết hợp với tật khúc xạ. Hình thái này ít gây nh ược th ị.
Sụp mi phối hợp với những bất thường bẩm sinh khác
Liệt kép: Sụp mi bẩm sinh ph ối h ợp v ới y ếu c ơ th ẳng trên g ặp ở
5 đến 10%, do mối liên hệ gi ữa c ơ nâng mi trên và c ơ th ẳng trên trong

Theo D. G. Buerger khi khám bệnh nhân sụp mi cần phải tiến hành
theo 7 bước được viết tắt thành từ DESTINY (D - độ sụp mi, E - biên độ
hoạt động của cơ nâng mi, S - chức năng cơ thẳng trên, T - chế tiết nước
mắt, I - chức năng cơ nâng mi, N - sự nhạy cảm của giác mạc và tình
trạng nhược cơ và Y- dấu hiệu Bell và Jaw-Wink) [21].
Theo Hội nhãn khoa Mỹ ở những bệnh nhân sụp mi cần đo 4 y ếu
tố lâm sàng: độ cao khe mi, khoảng cách bờ tự do mi trên đến tâm đồng
tử, vị trí nếp gấp da mi trên và chức năng cơ nâng mi.
1.1.2.5. Các phương pháp phẫu thuật điều trị sụp mi bẩm sinh
Phẫu thuật tăng cường chức năng cơ nâng mi
Phương pháp cắt ngắn cơ nâng mi được áp dụng với sụp mi có
biên độ cơ nâng mi tương đối tốt (6 - 8 mm). Ở Việt Nam đã có nhiều
nghiên cứu cho thấy phương pháp này có hiệu quả điều trị khá t ốt đ ối
với các trường hợp sụp mi nhẹ và trung bình [22], [23], [24]. Nhược điểm
của phương pháp này là chảy máu nhiều trong phẫu thuật (do phải tách


10
rời cân cơ nâng mi và cơ Müller), gây phù nề sau phẫu thuật, ngoài ra
nếu cân cơ nâng mi bị cắt ngắn quá mức thì không có khả năng phục h ồi.
Phương pháp gấp cân cơ nâng mi được Meltzer đề ra năm 2001
bằng cách khâu cố định cân cơ nâng mi vào sụn mi trên. Do không c ắt c ơ
nên ít gây chảy máu, phù nề và dễ dàng chỉnh sửa sau ph ẫu thuật, là
phẫu thuật đơn giản, sinh lý, có thể điều chỉnh được, mang lại tỷ l ệ
thành công lên tới 93% [25]. Tuy nhiên phương pháp này chỉ áp dụng cho
các trường hợp sụp mi có chức năng cơ nâng mi tốt.
Phẫu thuật treo mi vào cân cơ trán
Điều trị sụp mi bằng phẫu thuật đã được th ực hiện từ rất lâu, tuy
nhiên phải đến mãi những năm 1880 người ta mới quan tâm nhiều đến
phương pháp "treo mi trên vào cân cơ trán". Phẫu thuật này được chỉ

cơ đùi có hiệu quả điều trị tốt nhất, ít biến chứng nhất [30].


12
Ở Việt Nam cũng có rất nhiều nghiên cứu về kết quả điều trị sụp
mi bẩm sinh bằng phương pháp treo mi vào cân cơ trán . Tác giả N. H.
Thọ (2000) treo bằng cân cơ đùi tự thân thấy 92 % kết quả tốt, 8% kết
quả trung bình [31]. Năm 2003 L. T. Dương sử dụng chỉ polypropylene ,
kết quả sau 6 tháng có 11,8% s ụp mi tái phát [32]. Nghiên cứu của T. T.
Bình (2009) đánh giá hiệu quả lâu dài c ủa ph ẫu thu ật treo c ơ trán
bằng chỉ Mesilen 4/0 trên 84 m ắt cho th ấy t ỷ l ệ thành công là 86,9%,
tỷ lệ tái phát là 13,1%, t ỷ l ệ m ất đ ồng v ận mi- nhãn c ầu là 92,9%, h ở
mi nhẹ là 38,1%, không có tr ường h ợp nào có bi ến ch ứng u h ạt [33].
1.2. Sự thay đổi khúc xạ sau phẫu thuật sụp mi
1.2.1. Mối liên quan giữa khúc xạ giác mạc và hình thái học mi mắt
1.2.1.1. Vai trò của áp lực mi mắt lên giác m ạc
Mi mắt nằm ngay trước giác mạc, có liên quan mật thiết với giác
mạc. Nhiều giả thuyết cho rằng mi mắt tạo một áp lực đè tuy nhỏ
nhưng thường xuyên lên giác mạc, làm đường kính giác mạc theo chiều
dọc nhỏ hơn chiều ngang dẫn đến sự khác biệt về công suất khúc xạ
giác mạc giữa hai kinh tuyến từ đó gây ra loạn thị sinh lý. Những thay đổi
công suất khúc xạ giác mạc do áp lực mi mắt đã được thảo luận rộng rãi
kể từ giữa những năm 1960. Nhiều tác giả nhận thấy rằng khi mắt ở tư
thế nhìn xuống (tư thế đọc sách) có thể làm thay đổi độ cong giác mạc
[13], [34]. Trong một nghiên cứu gần đây, Shaw đã một lần nữa khẳng
định lại kết luận này. Đối tượng nghiên cứu là những người có tình
trạng khúc xạ và tình trạng nhãn cầu hoàn toàn bình thường, được đo
CSKX giác mạc trước và sau khi nhìn xuống ở các góc độ 20º và 40º trong
vòng 15 phút. Kết quả cho thấy khi mắt nhìn xuống với góc 40° CSKX
giác mạc thay đổi là trung bình là +0,33 /-0.30 x 84° những thay đổi khúc


14

Hình 1.2: Thiết đồ cắt dọc mi mắt người Châu Á và Châu Âu
1.2.1.2. Vai trò của màng phim nước mắt
Mi mắt bình thường che phủ rìa trên giác mạc 1 đến 2mm, nhờ
phản xạ chớp mắt mi mắt giúp dàn đều nước mắt, đảm bảo tính trong
suốt và ổn định của bề mặt giác mạc. Lớp nước mắt có chỉ số khúc xạ
gần với chỉ số khúc xạ của giác mạc (1,33 và 1,376), khúc xạ tại mặt
tiếp xúc giữa môi trường không khí và màng phim nước mắt chiếm phần
lớn công suất khúc xạ của phần trước bề mặt nhãn cầu . Mi mắt đè lên
giác mạc, tại khoảng tiếp xúc của bờ mi với giác m ạc hình thành liềm
nước mắt trên và dưới. Do tác dụng của trọng lực, nước mắt tích tụ ở
phía dưới nhiều hơn và làm cho màng phim nước mắt ở phía dưới dày
hơn phía trên gây ra hiện tượng côma với biểu hiện nh ư một thấu kính
trụ. Chiều dày của màng phim nước mắt cũng liên quan với phản xạ
chớp của mi mắt. Nghiên cứu của Koh (2002) cho thấy loạn thị không


15
đều xảy ra bởi sự tan vỡ màng phim nước mắt gây ra hiện tượng côma,
quang sai, cầu sai [42].
1.2.1.3. Vai trò của độ cứng giác mạc
Theo nguyên lý vật lý, giác mạc càng dày, chắc thì càng ít bị biến
dạng bởi áp lực bên trong hay bên ngoài nhãn cầu. Trong bệnh giác mạc
hình chóp độ cứng của giác mạc suy giảm, áp lực nội nhãn gây ra giãn l ồi
giác mạc gây ra loạn thị giác mạc không đều. Ngoài ra một số bệnh lý do
thiếu chất dinh dưỡng cũng làm giảm độ cứng của giác mạc, áp l ực mi
mắt làm phẳng giác mạc theo kinh tuyến ngang làm gia tăng m ức đ ộ
loạn thị thuận [43], [37].

sụp mi nặng, che khuất trục thị giác thì phẫu thuật điều trị cần được
thực hiện càng sớm càng tốt để tránh nguy cơ nhược thị.
Huo (2012) tiến hành nghiên cứu mối liên quan giữa sụp mi
bẩm sinh một mắt và tình trạng khúc xạ trên 85 mắt sụp mi được
phân thành 3 nhóm theo m ức đ ộ che ph ủ c ủa mi trên lên giác m ạc từ
sụp mi nhẹ (n=27), trung bình (n=37) và nặng (n=21). Các mắt không
sụp mi được sử dụng làm nhóm chứng. Tỷ lệ cận thị ở nhóm nghiên
cứu cao hơn nhóm chứng với p = 0,031. Tỷ lệ cận thị ở nhóm sụp mi
nặng cao hơn nhóm chứng với p = 0,012 trong khi ở nhóm sụp mi nhẹ
và trung bình là không có sự khác biệt (p = 0,79 và p = 0,47). Công suất
khúc xạ trung bình của nhóm s ụp mi n ặng là -1,37 D, của nhóm chứng
là -0,85 D, sự khác biệt có ý nghĩa th ống kê v ới p = 0,01, trong khi
không có sự khác biệt đáng kể nào được tìm thấy ở nhó m bệnh nhân
sụp mi trung bình, nhẹ và nhóm chứng [10].


17
Tại Việt Nam, tác giả Đoàn Anh (2012) nghiên cứu về đặc điểm
lâm sàng của 116 mắt sụp mi bẩm sinh thì có tới 95 mắt có tật khúc xạ
(82%), trong đó tỷ lệ loạn thị là 52,6%. Trong số 50 bệnh nhân loạn thị
có 2% là sụp mi nhẹ, 26% sụp mi trung bình và 72% là sụp mi nặng. Mức
độ loạn thị trên mắt sụp mi nặng cũng cao hơn nhóm sụp mi trung bình
và nhẹ (CS loạn thị trung bình của nhóm sụp mi nặng là 3,53 ± 1,32D,
nhóm sụp mi trung bình là 1,65 ± 0,78D và nhóm sụp mi nhẹ là 1,22 ±
0,36D) [46].
1.2.3. Sự thay đổi khúc xạ sau phẫu thuật sụp mi
Nhiều tác giả trên thế giới đưa ra giả thuyết rằng các phẫu thuật
can thiệp vào mi trên gây ra sự tái định vị vị trí của mi trên so với giác
mạc và thay đổi áp lực đè của mi lên giác mạc từ đó thay đổi độ cong của
giác mạc và chiều dày của lớp phim nước mắt. Nghiên cứu của Brown

trán và nhóm được phẫu thuật rút ngắn cơ nâng mi không có sự khác
biệt [8].
Theo nghiên cứu của Klimek (2001) sau phẫu thuật rút ngắn c ơ
nâng mi có sự thay đổi khúc xạ cầu và trụ. Thay đổi công suất c ầu trung
bình là 1,23D (mức độ thay đổi từ 0 đến 3,5D; p = 0,061), thay đổi công
suất loạn thị trung bình là 0,83D (mức độ thay đổi từ 0 đến 3D; p =
0,002 ) và có tới 50% số mắt có công suất loạn thị thay đổi ≥ 0,75D [49].
Năm 2005 Kumar tiến hành nghiên cứu sự thay đổi khúc xạ sau
phẫu thuật sụp mi bằng phương pháp treo mi trên vào cân c ơ trán [12].
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhi từ 4 đến 12 tuổi mắc sụp mi đ ơn
thuần có thị lực với kính ≥ 6/9, không mắc các t ổn thương phối hợp như


19
lác hay rối loạn vận nhãn và chưa trải qua phẫu thuật tại m ắt. Các m ắt
không sụp mi của các bệnh nhân này được sử dụng làm nhóm ch ứng.
Bệnh nhân được đo các chỉ số về khúc xạ (thử thị lực, đo khúc x ạ giác
mạc bằng giác mạc kế và máy chụp bản đồ giác mạc, khúc xạ nhãn cầu
bằng soi bóng đồng tử có liệt điều tiết), các chỉ số sụp mi (kích th ước
khe mi, nếp mí, MRD, biên độ cơ nâng mi), chỉ số ch ế tiết nước m ắt (test
Schirmer, BUT) vào các thời điểm trước phẫu thuật, sau ph ẫu thuật 2, 4,
6, 8, và 12 tuần. Trước phẫu thuật nhóm sụp mi có CSKX cầu trung bình
viễn thị hơn và công suất loạn thị cao hơn so với nhóm chứng (+2,52D ±
1,09 D so với +1,62D ± 0,46D, và 0,94D ± 0,43D so với 0,35D ± 0,22D). Đa
số các ca sụp mi đều có loạn thị thuận. Sau phẫu thuật 4 tuần, m ắt s ụp
mi có xu hướng cận thị hóa (CSKX cầu trung bình giảm), độ loạn th ị gia
tăng xấp xỉ 1,25D và trục loạn thị xoay một góc khoảng 20°, kinh tuy ến
có công suất khúc xạ cao nhất nằm gần 110° (loạn thị chéo). M ức độ
thay đổi khúc xạ rõ rệt nhất ở thời điểm ngay sau phẫu thuật, gi ảm dần
theo thời gian và ổn định sau 12 tháng.


2,11 ± 0,53

KX

Trước PT

CSKX cầu (SBĐT)
CSKX trụ (SBĐT)
Loạn thị giác mạc
(theo giác mạc kế)
Loạn thị giác mạc
(theo bản đồ giác


20

mạc)
Trục loạn thị

96,8°±15,3

107°±17,6

102°±14,7

So sánh công suất khúc xạ tương đương cầu, công suất trụ trước
và sau phẫu thuật có sự khác biệt rõ rệt với p < 0,0001 và p = 0,009. So
sánh yếu tố độ cong giác mạc và thời gian vỡ phim n ước mắt tr ước và
sau phẫu thuật cũng tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,015

Theo nghiên cứu của Kumar thời gian vỡ phim nước mắt (BUT) th ấp
nhất vào thời điểm ngay sau phẫu thuật, sau đó tăng dần và tr ở lại nh ư
trước phẫu thuật vào thời điểm 2 tháng sau phẫu thuật. Phim n ước m ắt
được ví như một thấu kính trụ đặt trước giác mạc, nh ư v ậy đ ộ dày, độ
đều đặn của màng phim nước mắt có thể gây ảnh h ưởng đến CSKX của
giác mạc [12].
1.3.4. Kết quả phẫu thuật
Kết quả phẫu thuật treo mi tốt khi bờ mi về đúng vị trí giải phẫu,
che phủ giác mạc từ 0-2mm, thiểu chỉnh khi che phủ giác mạc quá 2mm,
chỉnh quá mức khi bờ mi ở trên rìa trên giác mạc. Với các vị trí c ủa bờ mi
so với giác mạc khác nhau, áp lực đè của mi mắt lên giác m ạc khác nhau
có thể dẫn tới sự thay đổi khúc xạ khác nhau. Kích thước dọc của khe mi
càng lớn thì mức độ ảnh hưởng của mi lên giác mạc càng ít, loạn th ị giác
mạc càng giảm [35]. Mặt khác, độ cong độ đều đặn của bờ mi cũng ảnh
hưởng đến áp lực của mi lên nhãn cầu cũng như độ dày, độ đều đ ặn của
màng phim nước mắt từ đó ảnh hưởng đến tình trạng khúc x ạ của giác
mạc. Bờ mi không đều đặn có thể gây ra loạn th ị giác mạc không đ ều
[3].


22

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Mắt Trung Ương t ừ
tháng 12/2014 đến tháng 10/2015.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.2.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân dưới 16 tuổi được chẩn đoán xác định sụp mi bẩm sinh

- Đèn soi đáy mắt cầm tay
- Thước milimet
- Giác mạc kế Javal
- Máy đo khúc xạ tự động
- Thuốc nhuộm giác mạc Fluorescein và thuốc liệt điều tiết Cyclor yl
- Máy ảnh
2.3.4. Công cụ thu thập số liệu
- Phiếu theo dõi bệnh nhân
- Bệnh án nghiên cứu


24

2.4. Các bước tiến hành nghiên cứu
2.4.1. Khám lâm sàng
2.4.1.1. Hỏi bệnh
- Lý do đến khám
- Tiền sử gia đình, tiền sử sản khoa.
- Thời điểm xuất hiện sụp mi.
- Tiến triển của sụp mi, sự thay đổi mức độ sụp mi trong ngày.
2.4.1.2. Đo khúc xạ
Khám và đánh giá khúc xạ trước và sau phẫu thuật được th ực hiện
bởi một bác sỹ với cùng phương pháp đo. Bệnh nhân sụp mi độ 1, đ ộ 2
không cần vén mi khi đo. Bệnh nhân sụp mi độ 3 khi đo khúc x ạ c ần s ự
trợ giúp của 1 điều dưỡng vén mi bằng cách kéo nhẹ da mi trên, tránh đè
vào nhãn cầu.
Đo khúc xạ nhãn cầu: Đo KX nhãn cầu 2 lần: trước và sau khi tra
thuốc liệt điều tiết bằng dung dịch Cyclogyl 1% tra 2 mắt 3 lần, mỗi lần
cách nhau 15 phút.
Đo khúc xạ giác mạc: Sử dụng giác mạc kế Javal đánh giá công

- Tốt
: H > 8mm
- Trung bình : H từ 5-7mm
- Yếu
: H < 4mm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status