THỰC TRẠNG CHĂM sóc sức KHỎE và sự CHẤP NHẬN đối với một số mô HÌNH CHĂM sóc sức KHỎE của NGƯỜI CAO TUỔI tại TRUNG tâm DƯỠNG lão DIÊN HỒNG THÀNH PHỐ hà nội năm 2017 - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ MINH ĐẠT

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ
SỰ CHẤP NHẬN ĐỐI VỚI MỘT SỐ MÔ HÌNH CHĂM
SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI
TRUNG TÂM DƯỠNG LÃO DIÊN HỒNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2017

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2011 - 2017

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

LÊ MINH ĐẠT

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ
SỰ CHẤP NHẬN ĐỐI VỚI MỘT SỐ MÔ HÌNH CHĂM
SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI

trung tâm dưỡng lão Diên Hồng và các cán bộ nhân viên của trung tâm đã
nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện để việc thu thập số liệu của em được nhanh
chóng và thuận tiện.
Cuối cùng, em xin gửi tấm lòng biết ơn tha thiết và sâu sắc nhất tới gia
đình thân yêu cùng những người bạn trong lớp đã luôn luôn sát cánh, ủng hộ
và khuyến khích em trong suốt quá trình học tập.
Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2017
Sinh viên
Lê Minh Đạt


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh Phúc

LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:





Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội
Phòng đào tạo Đại học trường Đại học Y Hà Nội
Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng trường Đại học Y Hà Nội
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Em là Lê Minh Đạt, sinh viên tổ 30 lớp Y6H trường Đại học Y Hà Nội.

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tự bản thân em
thực hiện. Các số liệu trong bản khóa luận này là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được công bố tại công trình nghiên cứu khoa học khác.

World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)


MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


10

ĐẶT VẤN ĐỀ
Người cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang
có xu hướng tăng nhanh. Đây là mối quan tâm chung của nhiều quốc gia
trên thế giới. Riêng ở nước ta, vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã
và đang được xã hội hết sức quan tâm. Trên thế giới, có khoảng 901 triệu
người từ 60 tuổi trở lên, chiếm tỷ lệ 12% dân số toàn cầu và dự báo tới năm
2030 sẽ tăng tới 1,4 tỉ [1]. Tổ chức Y tế thế giới đề ra mục tiêu chăm sóc
sức khỏe cho người cao tuổi là nâng cao tuổi thọ, chất lượng cuộc sống,
duy trì khả năng lao động và hội nhập với xã hội [1]. Theo Điều tra Dân số
và nhà ở giữa kỳ Việt Nam 2014, số lượng NCT nước ta là 9,4 triệu người,
chiếm tỷ lệ 10,3% dân số cả nước. Dự báo tỷ lệ này có thể lên tới 22% vào
năm 2050. Tại Việt Nam, đa số người cao tuổi sống tại nông thôn, có thu
nhập thấp nên không có điều kiện chăm sóc sức khỏe [2]. Người cao tuổi
Việt Nam đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng, bảo vệ
và phát triển đất nước. Chính vì vậy, chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần

Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Thực trạng chăm sóc sức khỏe và sự chấp nhận đối với một số mô
hình chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Diên
Hồng, thành phố Hà Nội năm 2017”
với các mục tiêu sau:
1.

Mô tả thực trạng sức khỏe và chăm sức khỏe người cao tuổi tại trung

2.

tâm dưỡng lão Diên Hồng, thành phố Hà Nội năm 2017.
Mô tả nhu cầu và sự chấp nhận đối với một số mô hình chăm sóc sức
khỏe của người cao tuổi tại trung tâm dưỡng lão Diên Hồng, thành phố
Hà Nội năm 2017.


12

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Người cao tuổi và vấn đề già hóa dân số:
1.1.1. Định nghĩa người cao tuổi:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về người cao tuổi. Tại hội nghị quốc tế
về người già tại Viên (Áo) năm 1982, các quốc gia tham dự đã thống nhất quy
định “những công dân từ 60 tuổi trở lên được xếp vào nhóm người già”. Tuy
nhiên, một số quốc gia vẫn lấy mốc 65 tuổi để tính mốc tuổi già [6],[7]. Trước
đây người ta hay dùng thuật ngữ “người già” để chỉ những người có tuổi, hiện
nay thuật ngữ “người cao tuổi” được dùng phổ biến hơn.

Do sự phát triển của kinh tế xã hội nói chung, của khoa học kỹ thuật
nói riêng, trong đó có y học, tuổi thọ con người ngày càng được cải thiện và
số lượng NCT ngày càng gia tăng. Theo công bố của Liên Hợp Quốc năm
1950 trên thế giới có 214 triệu người 60 tuổi trở lên. Đến năm 1975, trên thế
giới có 350 triệu người, chiếm 9,1% dân số. Năm 2000, con số đó đã là 590
triệu người, ước tính đến năm 2025 là 1120 triệu người, chiếm tỷ lệ 14% dân
số Thế giới [13],[14].
Bảng 1.1: Số lượng và tỷ lệ NCT trên Thế giới
Chỉ tiêu

1950

1975

2000

2025

2050

Số dân (triệu người)

2500

3900

6080

8000


95

166

230

315

400

Số NCT ở các nước
nghèo (triệu người)

119

180

360

805

1600

(Nguồn: Liên Hợp Quốc, World Population Prospects. The 2011 revision) [14]
Như vậy ta có thể thấy rằng tỷ lệ NCT trên Thế Giới đang ngày càng
gia tăng và đa số NCT lại sống tại khu vực các nước có thu nhập thấp. Chính
vì vậy việc CSSK cho NCT càng gặp nhiều khó khăn [15].


14


1999

6,19

8,12

2009

7,67

8,93

2011

8,65

9,9

2020

11,125

11,24

(Nguồn: Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở giữa kì Việt Nam năm 2014,
Tổng cục thống kê) [2]
Năm 2011, với tỉ lệ NCT trên 65 tuổi đạt 7%, Việt Nam chính thức
bước vào giai đoạn già hóa dân số [10]. Bên cạnh đó cùng với sự phát triển
của nền kinh tế thị trường, những người trẻ có xu hướng tìm kiếm các công


Tăng huyết áp

10-15%

Bệnh mạch vành

10-14%

Viêm khớp

10-13%

Trầm cảm

3-5%


16

Tại Việt Nam, Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ [18] cũng đã chỉ ra
các bệnh mãn tính thường gặp của NCT, đó là :
Bảng 1.4: Các bệnh mãn tính thường gặp của NCT tại Việt Nam
Bệnh mãn tính

60-74 tuổi

≥ 75 tuổi

Tăng huyết áp


Không khó khăn Khó khăn Rất khó khăn Không thể
Nhìn (% theo độ tuổi)

60 – 69

80,5

17,9

1,3

0,3

70 – 79

65,2

30,5

3,7

0,7

≥ 80

45,3

41,6


49,6

37,1

11,5

1,8

Ghi nhớ (% theo độ tuổi)
60 – 69

89,0

9,7

1,1

0,2

70 – 79

74,7

21,5

3,1

0,7

≥ 80

18

Tại Việt Nam, những nội dung chính về CSSK cho NCT đã được nêu
rõ trong Luật người cao tuổi năm 2009 bao gồm:
-

Khám bệnh, chữa bệnh:

NCT cần được khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ, người từ 80 tuổi trở
lên được ưu tiên khám chữa bệnh trước các bệnh nhân khác trừ các trường
hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi hay bệnh nhân có khuyết tật nặng. Nhà nước
khuyến khích các tổ chức, cá nhân khám chữa bệnh miễn phí cho NCT.
-

Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú:

Tram y tế xã phường, thị trấn lập hồ sơ quản lý, theo dõi và khám sức
khỏe định kỳ cho NCT. Bên cạnh đó cần tuyên truyền, phổ biến kiên thức về
CSSK cho NCT, giúp NCT phòng bệnh và tự chăm sóc sức khỏe, bao gồm:
dinh dưỡng cho NCT, phòng chống té ngã và chấn thương.
-

Hoạt động văn hóa, giáo dục, thể thao, giải trí và du lịch:

Các địa phương thành lập các Câu lạc bộ NCT, tạo điều kiện thuận lợi
cho NCT tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí và du lịch. NCT
cần có chế độ vận động và rèn luyện hợp lý tùy theo tuổi, giới tính và tình
trạng sức khỏe, tham gia các hoạt động như tập thể dục buổi sáng, tập dưỡng
sinh, đi bộ, tập phục hồi chức năng (PHCN)... [8]
1.3 Nhu cầu và sự chấp nhận của người cao tuổi:

hiện sớm bệnh tật và quản lý sức khỏe cho NCT [25].
Trong những năm gần đây, thuật ngữ “bác sĩ gia đình” đã xuất hiện
khá phổ biến ở Việt Nam. Khi NCT có vấn đề gì về sức khỏe, họ gọi điện
sắp xếp lịch hẹn, các bác sĩ chuyên khoa sẽ đến khám, cung cấp thuốc và
điều trị tại nhà. Nếu NCT có nhu cầu theo dõi hoặc điều trị bệnh hằng ngày
như truyền, tiêm thuốc, châm cứu sẽ được lập sổ sách theo dõi và thăm
khám bệnh định kì [13].


20

Ưu điểm của mô hình này là phù hợp với những NCT không muốn nằm
viện, tránh các biến chứng không mong muốn do di chuyển mang lại.
Hạn chế của mô hình này là sự dao động của giá dịch vụ phụ thuộc vào
nhu cầu của NCT. Mô hình này chỉ phù hợp với các gia đình có kinh tế khá
giả, không thích hợp với vùng sâu, biên giới, hải đảo, các gia đình có thu nhập
thấp [6],[26].
1.4.1.2 Mô hình tư vấn, khám chữa bệnh từ xa dành cho NCT:
Mô hình tư vấn khám chữa bệnh từ xa áp dụng những tiến bộ về công
nghệ thông tin trong y học. Sử dụng phương tiện công nghệ thông tin để
truyền tải các thông tin y học từ khoảng cách xa đến với các đối tượng, từng
vùng miền khác nhau [13],[27].
Mô hình tư vấn khám chữa bệnh từ xa đã có lịch sử phát triển từ rất
sớm. Tại Nhật Bản, dịch vụ y tế từ xã qua radio đã được giới thiệu lần đầu
tiên vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX. Hiện nay, Nhật Bản đã xây dựng
được nhiều trung tâm tư vấn CSSK NCT từ xa với sự hỗ trợ của viễn thông và
đạt được nhiều kết quả tốt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Các trung tâm y
tế viễn thông thường xuyên có người trực 24/24 giờ để nhận các thông báo, tư
vấn, hướng dẫn CSSK cho cộng đồng nói chung và tư vấn, hướng dẫn CSSK
cho NCT nói riêng [28] .

thể thao dưỡng sinh, chăm sóc sức khỏe...
Ưu điểm của mô hình CSSK NCT ở cộng đồng là rẻ tiền, phù hợp với

điều kiện và trình độ của NCT ở khu vực nông thôn, đáp ứng được phương
châm xã hội hóa trong công tác CSSK NCT (huy động NCT, gia đình họ
hàng, chính quyền địa phương, chuyên môn và các ban, ngành đoàn thể cùng
tham gia).
Tuy nhiên, hoạt động của mô hình chủ yếu dựa vào đội ngũ tình nguyện
viên tại cộng đồng, nếu không được tổ chức tốt, khơi dậy được sự nhiệt tình,
tâm huyết của các tình nguyện viên, đặc biệt là các thầy thuốc trẻ thì tính bền
vững và hiệu quả của mô hình sẽ không cao [13],[30].


22

1.4.1.4 Mô hình chăm sóc sức khỏe NCT tại bệnh viện:
Ở các nước phát triển phúc lợi xã hội tăng, NCT được chăm sóc miễn
phí tại bệnh viện ngày càng nhiều. Tại Pháp, các bệnh viện lão khoa khám
chữa bệnh cho NCT theo 3 hình thức: ngắn hạn (chữa các bệnh cấp tính, thời
gian điều trị dưới 30 ngày), trung hạn (thời gian điều trị từ 2 đến 6 tháng) và
dài hạn (đối với các bệnh nhân tai biến mạch máu não, hay rối loạn tâm thần)
[7],[20].
Đối với loại mô hình này ở Việt Nam đã hình thành và đi vào hoạt
động, đó chính là Viện Lão khoa TW. Thông qua thẻ BHYT dành cho NCT
diện nghèo, cô đơn và những NCT từ 80 tuổi trở lên được miễn phí khi KCB
tại các bệnh viện. Điều đó góp phần làm tăng thêm niềm tin cho NCT yên tâm
điều trị bệnh tật và sống có ích cho xã hội [13].
Ưu điểm của mô hình này là ở chỗ bệnh viện là cơ sở có chuyên môn
kỹ thuật cao, có các bác sĩ và chuyên gia trong lĩnh vực CSSK, sẵn sàng đáp
ưng nhu cầu khám chữa bệnh của NCT. Tuy nhiên mô hình CSSK tại các

1

2

Mô hình

Cơ quan/ tổ
chức thực
hiện

Đối tượng
thụ hưởng

Mục đích

Địa bàn
can
thiệp

Dịch vụ chăm

Các cơ sở y tế

Mọi người

CSSK cho

Toàn

sóc NCT qua


Xã hội

các tiêu
chuẩn đặc
biệt, NCT

đơn, không
nơi nương

quốc

bớt khó
khăn cho
các nhóm
NCT nghèo
và dễ tổn
thương

tựa
3

Trung tâm
dịch vụ chăm
sóc NCT Đà
Nẵng

Sở Lao Động
-Thương binh
và Xã hội

Diên Hồng

2

Trung tâm
chăm sóc
NCT Thiên
Đức

Cơ quan/
Đối
tổ chức
tượng thụ
thực hiện
hưởng
Trung tâm NCT, đặc
dưỡng lão biệt NCT
Diên Hồng
cô đơn,
sức khỏe
yếu
Công ty cổ NCT, đặc
phần an
biệt NCT
dưỡng
cô đơn,
Thiên Phúc sức khỏe
yếu

Mục đích

những bằng chứng về sự hiệu quả của mô hình viện dưỡng lão trong việc
CSSK cho NCT [32].
Roberto Bernabei và các cộng sự tiến hành nghiên cứu về tác động của
mô hình chăm sóc và quản lý người lớn tuổi sống tại cộng đồng. Nghiên cứu
được tiến hành trên 200 NCT sống tại thị trấn Rovereto, phía Bắc nước Ý cho
thấy hiệu quả của mô hình chăm sóc sức khỏe cho NCT tại cộng đồng, làm
giảm nguy cơ mắc bệnh, giảm thời gian nằm viện và tiết kiệm chi phí cho
NCT [34].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status