B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
--------------------
NGUYN TH LAN
thực trạng và một số yếu tố liên quan
đến
trầm cảm, lo âu, stress ở nữ hộ sinh
bệnh viện phụ sản trung ơng năm
2017
Ngnh o to
: Bỏc s Y hc d phũng
Mó ngnh
: 52720103
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2012 - 2018
NGI HNG DN KHOA HC:
TS. NGUYN NGC ANH
Hà Nội – 2018
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới
Tên tôi là Nguyễn Thị Lan – Sinh viên lớp Bác sỹ Y học dự phòng khóa
2012 – 2018 – Trường Đại học Y Hà Nội.
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp “Thực trạng và một số yếu tố
liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở nữ hộ sinh Bệnh viện Phụ sản
Trung ương năm 2017 ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Anh. Các số liệu , kết quả nghiên
cứu thu được trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày 04 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Lan
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BV
DASS
: Bệnh viện
: (Depression Anxiety Stress Scales) Bộ câu hỏi đánh giá trầm
DSM
cảm, lo âu, căng thẳng
: (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) Hệ
thống tiêu chuẩn chẩn đoán các bệnh tâm thần
ĐTNC
ICM
1.1. Một vài định nghĩa.................................................................................3
1.1.1. Trầm cảm..........................................................................................3
1.1.2. Lo âu..................................................................................................4
1.1.3. Stress.................................................................................................5
1.1.4. Định nghĩa về “Nữ hộ sinh”..............................................................6
1.1.5. Vài nét về Bệnh viện Phụ sản Trung ương........................................8
1.1.6. Công cụ đo mức độ trầm cảm, lo âu, stress.....................................10
1.2. Nguyên nhân, ảnh hưởng của các rối loạn tâm thần đối với nhân viên y tế. 12
1.2.1. Nguyên nhân của các rối loạn tâm thần đối với nhân viên y tế.....12
1.2.2. Những ảnh hưởng rối loạn tâm thần đối với nhân viên y tế...........13
1.3. Một số nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm trên thế giới và tại Việt Nam.14
1.3.1. Một số nghiên cứu trên thế giới......................................................14
1.3.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam.....................................................16
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............19
2.1. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................19
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu........................................................19
2.3. Phương pháp nghiên cứu......................................................................19
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu.........................................................................19
2.3.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu......................................................................19
2.3.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu..........................................................20
2.3.4. Công cụ và quy trình thu thập thông tin.........................................26
2.3.4.1. Bộ công cụ thu thập số liệu..........................................................26
2.3.4.2. Quy trình thu thập số liệu.............................................................28
2.4. Xử lý và phân tích số liệu.....................................................................29
2.5. Sai số, khống chế sai số........................................................................30
2.6. Đạo đức nghiên cứu.............................................................................31
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.......................................................32
3.1. Một số đặc điểm chung về nữ hộ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương.....32
viện Phụ Sản Trung Ương.............................................................42
Bảng 3.4. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu ở nữ hộ sinh Bệnh
viện Phụ sản Trung ương..............................................................46
Bảng 3.5. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở nữ hộ sinh Bệnh
viện Phụ sản Trung ương..............................................................48
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Phân bố về trình độ học vấn của các nữ hộ sinh.......................34
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ những nữ hộ sinh chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi, chăm sóc
người già yếu/khuyết tật trong gia đình, mang lại thu nhập chính
cho gia đình...............................................................................34
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ mắc trầm cảm, lo âu, stress của các nữ hộ sinh...............35
Biểu đồ 3.4. Sự phân bố mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo thang đo
DASS21....................................................................................36
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ nữ hộ sinh phân bố theo các nhóm trầm cảm, lo âu, stress.37
Biểu đồ 3.6. Sự phân bố tỷ lệ mắc trầm cảm, lo âu và stress của nữ hộ sinh
theo nhóm tuổi..........................................................................38
Biểu đồ 3.7. Sự phân bố tỷ lệ mắc trầm cảm, lo âu và stress của các nữ hộ
sinh theo tình trạng hôn nhân....................................................39
Biểu đồ 3.8. Sự phân bố tỷ lệ mắc trầm cảm, lo âu và stress của các nữ hộ
sinh theo trình độ học vấn.........................................................39
Biểu đồ 3.9. Sự phân bố tỷ lệ mắc trầm cảm, lo âu và stress của các nữ hộ
sinh theo số năm công tác.........................................................40
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), Sức khỏe tâm thần
phụ sản, sinh đẻ kế hoạch và sơ sinh phạm vi cả nước. Trung bình mỗi năm
Bệnh viện khám và điều trị ngoại trú cho khoảng 250.000 lượt bệnh nhân,
điều trị nội trú cho khoảng 40.000 người lớn và 25.000 trẻ sơ sinh. Công suất
sử dụng giường bệnh trung bình khoảng 173% [7]. Song song với sự phát
triển của Bệnh viện là gánh nặng công việc cho NVYT - đặc biệt là đội ngũ
hộ sinh luôn phải làm việc với cường độ cao và trách nhiệm nặng nề : hàng
ngày chăm sóc và theo dõi rất nhiều bệnh nhân, thường xuyên theo dõi và ghi
chép những diễn biến bệnh của người bệnh để báo kịp thời cho bác sĩ, thường
xuyên trực đêm, đặc biệt là áp lực từ phía bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
khi nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày một tăng cao. Đối tượng
chăm sóc của nữ hộ sinh chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, là những đối tượng hết
sức nhạy cảm, được xã hội quan tâm. Do đó mà các nữ hộ sinh của Bệnh viện
rất có thể có các vấn đề về sức khỏe tâm thần, có thể gây ảnh hưởng đến sức
khỏe của chính họ cũng như chất lượng chăm sóc người bệnh. Vì vậy đề tài
nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu,
stress ở nữ hộ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017 ” được tiến
hành nhằm hai mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở nữ hộ sinh tại Bệnh viện Phụ
sản Trung ương năm 2017.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở nữ hộ sinh
Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Một vài định nghĩa
1.1.1. Trầm cảm
1.1.1.1. Khái niệm về trầm cảm
toàn cầu hàng năm ở nam và nữ lần lượt là 5,5% và 3,2% [11].
1.1.2. Lo âu
1.1.2.1. Khái niệm lo âu
Lo âu (LA)- anxiety disorder- là một phản ứng bình thường để đối phó
với căng thẳng và thực sự có thể có ích trong một số hoàn cảnh. Tuy nhiên,
đối với một số người, sự lo lắng có thể trở thành quá mức gây ra các biểu hiện
run, khó thở, tim đập nhanh, vã mồ hôi, cảm giác không thực... Mặc dù những
người lo âu có thể nhận ra họ đang lo quá mức cần thiết cho phép, họ cũng có
thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát lo âu và điều đó có thể ảnh hưởng tiêu
cực tới sinh hoạt của họ [12].
Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ
có sự đe dọa từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể (những khó khăn, thử thách,
đe dọa của tự nhiên hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm ra được các giải
pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [12].
1.1.2.2. Nguyên nhân của rối loạn lo âu
Viện nghiên cứu Sức khỏe Tâm thần Quốc Gia Việt Nam (NIMH) chỉ ra
rằng các yếu tố nguy cơ đối với RLLA có thể bao gồm: là nữ giới; điều kiện
5
kinh tế khó khăn; bị ly hôn hoặc góa bụa; tiếp xúc với các sự kiện căng thẳng
trong cuộc sống… Nếu không được điều trị rối loạn lo âu có thể dẫn đến các
tình huống trầm trọng hơn về triệu chứng. Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
khả năng làm việc của chủ thể [12].
Kết quả nghiên cứu của Kessler (2005) tại Hoa Kỳ về tâm thần học tổng
quát: 5,7 % người trưởng thành có thể mắc RLLA lan tỏa trong suốt cuộc đời,
nữ giới có tỷ mắc cao hơn nam giới với tỷ lệ 3,6/1 [13]. Kết quả nghiên cứu
của Borwin Bandelow (2013) về chẩn đoán và điều trị rối loạn lo âu cho thấy
đây là một căn bệnh phổ biến và nghiêm trọng với tỷ lệ hiện mắc từ 4,3 đến
xảy ra khi các yêu cầu của công việc không phù hợp với khả năng, nguồn lực
và nhu cầu của người lao động” [20].
1.1.3.2. Nguyên nhân của stress
Theo Viện Quốc gia về An toàn lao động và Sức khỏe của Hoa Kỳ, các
yếu tố làm tăng nguy cơ của Stress nghề nghiệp bao gồm [20]:
Thiết kế công việc: Nhịp độ làm việc cao, thời gian làm việc kéo dài,…
Mối quan hệ cá nhân: thiếu sự hỗ trợ và giúp đỡ của đồng nghiệp, cấp
trên; những xung đột với đồng nghiệp, cấp trên,…
Những vấn đề liên quan đến công việc: công việc không có cơ hội thăng
tiến, dễ sa thải, mất việc,…
Môi trường làm việc: ồn ào, quá nóng, tiếp xúc hóa chất độc hại,…
1.1.4. Định nghĩa về “Nữ hộ sinh”
1.1.4.1. Khái niệm “Nữ hộ sinh”
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hộ sinh bao gồm chăm sóc phụ nữ
trong thời kỳ mang thai, chuyển dạ và thời kỳ hậu sản, cũng như chăm sóc trẻ
7
sơ sinh. Nó bao gồm các biện pháp nhằm ngăn ngừa các vấn đề sức khoẻ khi
mang thai, phát hiện các điều kiện bất thường, mua sắm hỗ trợ y tế khi cần
thiết và thực hiện các biện pháp khẩn cấp khi không có trợ giúp y tế [21].
Theo định nghĩa của Liên đoàn nữ hộ sinh Quốc tế, được Tổ chức Y tế
Thế giới và Liên đoàn Phụ khoa và Sản khoa Quốc tế thông qua, nữ hộ sinh là
chuyên gia về hộ sinh , chuyên về thai nghén , sinh đẻ, sức khoẻ tình dục
và sinh sản của phụ nữ (bao gồm khám phụ khoa , kế hoạch hóa gia đình,
chăm sóc mãn kinh…) và chăm sóc trẻ sơ sinh. Nữ hộ sinh là người đã hoàn
thành chương trình giáo dục hộ sinh đã được công nhận tại quốc gia nơi đặt
trụ sở và dựa trên năng lực thiết yếu của ICM về Thực hành Sản khoa cơ bản
mẹ và có thể mở rộng tới sức khoẻ của phụ nữ, sức khoẻ sinh sản và tình dục
và chăm sóc trẻ em.
Một nữ hộ sinh có thể thực hành trong bất kỳ môi trường nào bao gồm
cả nhà, cộng đồng, bệnh viện, phòng khám hoặc các đơn vị y tế.
1.1.5. Vài nét về Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Bệnh viện Phụ sản Trung ương, được thành lập ngày 19/07/1955, là
bệnh viện chuyên khoa hạng I, đứng đầu cả nước về lĩnh vực Sản Phụ khoa,
trực thuộc Bộ Y tế. Bệnh viện có quy mô 1000 giường bệnh nội trú; 08 phòng
chức năng; 14 khoa lâm sàng; 09 khoa cận lâm sàng; 07 trung tâm. Bệnh viện
Phụ sản Trung ương hiện nay không chỉ là cơ sở đầu ngành của chuyên ngành
phụ sản, sinh đẻ kế hoạch và sơ sinh mà còn là cơ sở đào tạo đại học, sau đại
học; nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến và chuyển giao công nghệ về chuyên
9
ngành phụ sản, sơ sinh trong phạm vi cả nước. Bệnh viện có bề dày truyền
thống lịch sử, có đội ngũ giáo sư, bác sĩ được đào tạo cơ bản ở trong nước và
được học tập nâng cao tay nghề ở các nước tiên tiến có ngành sản phụ khoa
và chăm sóc sức khỏe sinh sản phát triển (Châu Âu, Mỹ, Nhật, Úc ...) có tay
nghề cao, được rèn luyện trong thực tế, tâm huyết với nghề nghiệp. Hệ thống
trang thiết bị phục vụ khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện được đầu tư theo
hướng hiện đại, chuyên sâu [25].
Trên thực tế, với quy mô hơn 1000 giường bệnh kế hoạch nhưng do
diện tích chật hẹp, hiện tại viện có 581 giường thực kê (chiếm gần 59%
giường kế hoạch). Trung bình mỗi năm bệnh viện khám và điều trị ngoại trú
cho khoảng 250.000 lượt bệnh nhân, điều trị nội trú cho khoảng 40.000 người
lớn và 25.000 trẻ sơ sinh. Công suất sử dụng giường bệnh trung bình khoảng
173% [7].
Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Phụ sản Trung ương:
ban
Khối lâm
sàng
Khối cận
lâm sàng
Công đoàn bệnh viện
Phòng Chỉ đạo tuyến
Phòng Công nghệ thông tin
Phòng Công tác xã hội
Phòng Hành chính Quản trị
Phòng Kế hoạch Tổng hợp
Phòng Nghiên cứu khoa học
Phòng Quản lý chất lượng
Phòng Tài chính Kế toán
Phòng Tổ chức cán bộ
Phòng Vật tư - Trang thiết
bị y tế
Phòng Đào tạo
Phòng Điều dưỡng
Đoàn Thanh niên Bệnh viện
Khoa Hồi sức cấp cứu
Khoa Khám bệnh
Khoa Khám bệnh theo
yêu cầu - 56 Hai Bà
Trưng
Khoa Phẫu thuật - gây
Questions); thang đánh giá lo âu của Spielberger (STAI); thang tự đánh giá lo
âu của Zung (SAS); thang đánh giá lo âu của Beck (BID-A); thang đánh giá
trầm cảm của Hamilton (HAM-D); thang đánh giá trầm cảm của Beck (BIDD), thang đánh giá lo âu và trầm cảm AKUADS; thang đánh giá stress, lo âu,
trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS 21)… [26]. Đa số các công cụ
trên đều được sử dụng tại các bệnh viện chuyên khoa tâm thần để theo dõi các
11
tình trạng rối loạn tâm thần mạn tính. Để phát hiện, đánh giá, sàng lọc ban
đầu về trầm cảm, lo âu, stress thang đo DASS được khuyến nghị sử dụng
tại cộng đồng. Trong các nghiên cứu tại Việt Nam cũng như trên thế giới,
thang đo này đã được đánh giá có tính giá trị và độ tin cậy cao [5], [6],
[27], [28], [29].
Thang đo tự đánh giá về trầm cảm, lo âu, stress trên đối tượng vị thành
niên và người trưởng thành được phát triển bởi Livibond S.H và Livibond P.F
(1995), ký hiệu là DASS 42, gồm 42 câu hỏi. Đến năm 1997, cũng chính
nhóm các nhà khoa học này lại cho ra đời thang đo DASS 21- đây là phiên
bản rút gọn của DASS 42 nhằm tạo sự tiện lợi hơn cho người dùng, gồm 21
câu hỏi [30].
Thang đo DASS 21 đã được Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia Việt
Nam biên dịch, thử nghiệm trên một số đối tượng nghề nghiệp khác nhau.
Thang đo DASS 21 đã được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị và độ
tin cậy và khẳng định có thể áp dụng phù hợp tại Việt Nam và nhiều nước trên
Thế giới mà không bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt về văn hóa [31]. DASS 21
gồm 21 tiểu mục chia thành 3 nhóm: nhóm trầm cảm (Depression – D), nhóm
lo âu (Anxiety –A) và nhóm stress (Stress – S). Mỗi nhóm gồm 7 tiểu mục,
mỗi tiểu mục mô tả về triệu chứng thực thể hoặc vấn đề tinh thần mà đối
tượng nghiên cứu cảm thấy trong suốt một tuần qua. Điểm cho mỗi tiểu mục
được tình từ 0 đến 3 tùy thuộc mức độ và thời gian xuất hiện. Cụ thể:
- Mối quan hệ giữa các cá nhân tại nơi làm việc: xung đột với đồng
nghiệp; xung đột với bác sỹ; hành vi của bác sỹ; …
- Thiếu sự hợp tác của người bệnh, người nhà người bệnh.
13
- Thiếu sự hỗ trợ tại nơi làm việc (từ điều dưỡng trưởng, bác sỹ điều
trị trực tiếp hay người quản lý cao hơn).
- Mối quan tâm về kiến thức và kỹ năng của cá nhân.
- Tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm.
- Nguy cơ tổn thương do các vật sắc nhọn.
- Vấn đề phát triển sự nghiệp.
1.2.2. Những ảnh hưởng rối loạn tâm thần đối với nhân viên y tế.
Các RLTT nói chung và tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm nói
riêng không những tác động xấu cho cá nhân mà còn ảnh hưởng bất lợi cho
người xung quanh và xã hội nói chung. Chúng được xem là một trong những
nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều căn bệnh như [36]:
- Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn
phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ, ...
- Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu
não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực...
- Các bệnh về da: ví dụ như mụn sưng đỏ, phồng rộp lên hay là bệnh
zona. Da dễ bị mẩn ngứa, phát ban, chàm... hay các chứng bệnh về da có tính
kinh niên, mãn tính rất khó chữa trị.
- Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày - tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng dạ
dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, rối loạn chức năng đại
tràng…
- Bệnh tình dục: giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, xuất tinh sớm…
- Bệnh phụ khoa: rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết...
trong đó nữ giới bị stress và lo âu nhiều hơn nam giới [27].
15
Nghiên cứu của Refai Yassen Al-Hussein và Ahmed Moshirf AlMteiwty (2007) sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá tỷ lệ nhân viên y tế
(NVYT) bị trầm cảm, lo âu, stress tại 07 bệnh viện (BV) tại thành phố
Mosul-Iran. Mẫu của nghiên cứu gồm hai nhóm: 250 điều dưỡng và 250
NVYT khác gồm nhân viên X-quang, nhân viên phòng xét nghiệm, dược sĩ
và cán bộ vật lý trị liệu. Kết quả thu được tỷ lệ trầm cảm, rối loạn lo âu,
stress ở điều dưỡng lần lượt là 16%; 20,8% và 10% trong khi tỷ lệ này ở
nhóm nhân viên còn lại lần lượt là 7,6%; 7,6% và 6%. Nghiên cứu khẳng
định rằng điều dưỡng có nhiều nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần hơn các
NVYT khác [42].
Nghiên cứu của Asad Zandi và cộng sự (2011) đánh giá tỷ lệ bị trầm
cảm, lo âu, stress của 272 điều dưỡng làm việc tại 29 khoa phòng thuộc một
bệnh viện quân đội bằng thang đo DASS 21, được dịch và chuẩn hóa trên một
nhóm dân cư ở Mashhad (400 người) với độ tin cậy được báo cáo là trầm cảm
0,7, lo âu 0,66 và stress 0,76. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ điều dưỡng
bị trầm cảm là 24,9%, lo âu 27,9% và stress 23,8%. Nữ giới có tỷ lệ trầm cảm
cao hơn nam giới. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trầm cảm, lo âu,
stress với tuổi, trình độ học vấn, số giờ làm thêm và nơi làm việc của điều
dưỡng [28].
Năm 2013, 03 tác giả Mostafa A F. Abbas, Lamiaa Z. Abu Zaid, Mona
Hussaein đã tiến hành nghiên cứu khảo sát tình trạng lo âu, trầm cảm của điều
dưỡng tại các bệnh viện tại King Fahad Medical City, Vương quốc Saudi
Arabia với cỡ mẫu nghiên cứu khá lớn 715 người. Kết quả nghiên cứu cho
thấy 47% điều dưỡng có triệu chứng lo âu, trong đó 20% trường hợp là có thể
mắc rối loạn lo âu; 25% điều dưỡng có triệu chứng trầm cảm, trong đó 10%
trường hợp có thể mắc bệnh trầm cảm. Nghiên cứu chỉ ra rằng một số yếu tố
17
thang đo DASS 21 kết hợp đánh giá đồng thời ba trạng thái stress, lo âu, trầm
cảm. Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ NVYT có biểu hiện stress, lo âu và trầm
cảm lần lượt là 36,9% 41,5% và 15,3%. Trong đó mức độ stress, lo âu, trầm
cảm nặng lần lượt là 0,9%, 4,5% và 1,8%. Điều dưỡng khối lâm sàng có tỷ lệ
stress, lo âu, trầm cảm cao hơn các NVYT khác. Kết quả phân tích hồi quy
logistic đa biến cho thấy một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng
trạng thái stress là: số buổi trực ≥4 buổi; cảm nhận công việc ít hứng thú;
thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại; cảm nhận thấy mối quan hệ của
họ với người bệnh không tốt. Nghiên cứu chưa đánh giá hết các yếu tố có thể
ảnh hưởng đến tình trạng stress như đời sống cá nhân, gia đình, các mối quan
hệ ngoài công việc…[4].
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Xuân Trường (2012) tiến hành tại trên
toàn bộ 175 NVYT tại BV Tâm thần Đà Nẵng nhằm đánh giá tình trạng lo âu
của các đối tượng. Kết quả cho thấy có 14,3% số NVYT có biểu hiện lo âu.
Có 04 yếu tố được xác định có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với RLLA
gồm: mắc bệnh mãn tính, đối diện với những hành động bất thường, nguy
hiểm của người bệnh, mức thu nhập và sự tôn trọng của xã hội đối với ngành
nghề. Tác giả chọn tất cả các NVYT trong BV nên mẫu mang tính đại diện
cao; nhiều yếu tố liên quan đã được đưa vào phân tích nên các khuyến nghị
đưa ra có độ tin cậy cao. Tuy nhiên do sử dụng thang đo chuyên biệt là thang
đánh giá lo âu của Zung (SAS) nên nghiên cứu chỉ đánh giá tình trạng lo âu
mà không nghiên cứu thêm được hai vấn đề SKTT thường gặp khác là stress
và trầm cảm [46].
Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết (2012) sử dụng thang đo DASS 21 đánh
giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của NVYT khối lâm sàng tại 02 địa điểm:
một bệnh viện công là BV đa khoa thành phố Vinh và một bệnh viện tư nhân