BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC
chÊt lîng cuéc sèng cña ngêi cao tuæi
thµnh phè hµ néi n¨m 2018
vµ mét sè yÕu tè liªn quan
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2013 – 2019
Hà Nội – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NHƯ NGỌC
chÊt lîng cuéc sèng cña ngêi cao tuæi
thµnh phè hµ néi n¨m 2018
vµ mét sè yÕu tè liªn quan
Ngành đạo tạo : Bác sỹ Y học Dự phòng
Mã ngành
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Như Ngọc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
Phòng Quản lý đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội.
Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng.
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Em là Nguyễn Thị Như Ngọc, sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội niên khóa
2013- 2019 chuyên ngành Bác sĩ Y học dự phòng.
Em xin cam đoan đây là khóa luận do em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng
dẫn của Ths.Bs. Nguyễn Hữu Thắng. Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là
hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được chấp thuận tại cơ sở nghiên
cứu.
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này.
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Như Ngọc
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
CASP
CLCS
CSSK
ĐTNC
ĐTV
Association of Southeast Asian Nations
Control Autonomy Seft-realization and Pleasure
Chất lượng cuộc sống
Chăm sóc sức khỏe
Đối tượng nghiên cứu
Điều tra viên
Khám chữa bệnh
Người cao tuổi
Older People's Quality of Life
Tăng huyết áp
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thành phố Hồ Chí Minh
World Health Organization
(Tổ chức y tế thế giới)
The World Health Oranization Quality of Life
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...........................................................................................................1
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN..................................................................................3
1.1 Tổng quan về người cao tuổi...........................................................................3
1.1.1 Một số khái niệm về người cao tuổi.........................................................3
1.1.2. Một số đặc điểm của người cao tuổi........................................................4
1.2. Chất lượng cuộc sống.....................................................................................8
1.2.1. Một số khái niệm về chất lượng cuộc sống.............................................8
1.2.2. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống.....................................10
1.2.3. Đánh giá chất lượng cuộc sống.............................................................12
1.3. Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người cao tuổi..............................15
1.3.1. Trên thế giới..........................................................................................15
phố Hà Nội năm 2018...................................................................................35
CHƯƠNG IV – BÀN LUẬN.................................................................................38
4.1. Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội
năm 2018......................................................................................................38
4.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu...........................................38
4.1.2. Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 39
4.2. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành
phố Hà Nội năm 2018...................................................................................43
4.3. Hạn chế của nghiên cứu................................................................................46
KẾT LUẬN............................................................................................................47
KHUYẾN NGHỊ....................................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.
Đặc điểm cá nhân của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 . .26
Bảng 3.2.
Đặc điểm tình trạng kinh tế của người cao tuổi thành phố Hà Nội
năm 2018 ..........................................................................................28
Bảng 3.3.
Tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính kèm theo của người cao tuổi thành phố
Hà Nội năm 2018 ..............................................................................29
Bảng 3.11.
Điểm chất lượng cuộc sống chung ....................................................34
Bảng 3.12.
Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về các đặc điểm cá nhân của
người cao tuổi ...................................................................................35
Bảng 3.13.
Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về đặc điểm kinh tế của người
cao tuổi ..............................................................................................36
Bảng 3.14.
Phân bố điểm chất lượng cuộc sống về tình trạng sức khỏe của người
cao tuổi ..............................................................................................37
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1.
Phân loại tình trạng sức khỏe của người cao tuổi thành phố Hà Nội
năm 2018.......................................................................................29
Biểu đồ 3.2.
Nhóm các bệnh mạn tính kèm theo hay gặp ở người cao tuổi thành
Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của Việt Nam với sự
phát triển kinh tế hàng đầu, dân cư đông đúc, trong đó nhiều hộ gia đình Việt Nam
có cấu trúc từ 2 đến 3 thế hệ cùng sinh sống. Gánh nặng từ vấn đề già hóa dân số
nhanh chóng đang gây áp lực nặng nề lên sự phát triển chung của thủ đô đặc biệt là
trong vấn đề đảm bảo CLCS cho NCT. Năm 2016, kết quả từ nghiên cứu của Vũ
Toàn Thịnh tại phường Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội cho thấy điểm trung bình
CLCS của NCT ở tất cả các khía cạnh đều ở mức trung bình so với thang điểm 100;
trong đó thấp nhất là khía cạnh thể chất (nam-52,94; nữ-53,69) [11]. Những năm
gần đây, mặc dù chất lượng cuộc sống của NCT thủ đô đã được cải thiện cùng với
2
những tiến bộ nhất định của hệ thống y tế, chính sách, pháp luật và những nỗ lực từ
phía Thành phố Hà Nội tuy nhiên vẫn còn nhiều thách thức trong quá trình này. Một
phần nguyên nhân không nhỏ của vấn đề này là do thiếu các bằng chứng khách
quan để thiết kế và thực hiện các chính sách và chương trình can thiệp phù hợp
nhằm nâng cao CLCS của NCT. Do đó, em quyết định tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà Nội năm 2018 và một
số yếu tố liên quan” nhằm mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thành phố Hà
Nội năm 2018.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi
thành phố Hà Nội năm 2018.
3
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về người cao tuổi
Tại Việt Nam, ngoài việc NCT đã từng đóng góp trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, nhiều người tuy tuổi cao nhưng vẫn tham gia các hoạt động tích
cực, đóng góp một phần không nhỏ cho xã hội, đất nước. Việc đưa ra khái niệm
NCT có ý nghĩa rất quan trọng trong việc CSSK và thể hiện tính nhân đạo của
Đảng, Nhà nước ta. Năm 2010, Quốc Hội nước ta đã ban hành Luật Người cao tuổi
trong đó quy định: NCT là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [14].
1.1.2. Một số đặc điểm của người cao tuổi
1.1.2.1. Một số đặc điểm sức khỏe người cao tuổi
a. Quá trình lão hóa
Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống. Lão hóa có thể đến sớm hay
muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người. Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanh nhạy,
khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất
và tinh thần giảm sút. Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những thay
đổi theo chiều hướng đi xuống.
- Diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn. Da trở nên khô
và thô hơn.
- Các cơ quan cảm giác: Cả 5 giác quan đều trải qua quá trình lão hóa. Thị lực
giảm sút, khả năng phân biệt màu sắc cũng kém hơn, thủy tinh thể trở nên vàng dẫn
tới đục thể thủy tinh tiến triển ở NCT. Thính lực giảm do hệ quả của giảm lượng
nước trong cơ thể NCT dẫn đến tích tụ ráy tai. NCT giảm vị giác và khứu giác do số
lượng các nụ lưỡi giảm khoảng 30%. Viêm lợi, bệnh quanh răng và các rối loạn
khác phổ biến ở NCT có thể làm giảm khả năng nếm và ngửi đồ ăn. Điều này cũng
giải thích vì sao người cao tuổi thường không nhận ra những mùi vị như mùi thức
ăn được đun sôi hoặc bị cháy. Giảm khả năng ngửi và nếm có thể dẫn tới việc người
cao tuổi cố gắng gia tăng đậm độ của thức ăn bằng cách nêm thêm muối và đường.
Tuy nhiên việc gia giảm này sẽ gây rắc rối nếu người cao tuổi có các bệnh như tăng
huyết áp hay tiểu đường [15].
- Các cơ quan nội tạng: Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá cao cùng
với tuổi tác cũng phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ thể.
Tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể là nguyên nhân
Các bệnh liên quan tới nội tiết-chuyển hóa, cơ xương khớp và bệnh tai và xương
chũm phổ biến hơn ở nữ, trong khi bệnh hô hấp, ung thư, bệnh sinh dục tiết niệu
hay gặp hơn ở nam [16].
6
Tại tuyến y tế cơ sở, số liệu điều tra tại 4 tỉnh đại diện năm 2014 cho thấy chỉ
riêng 10 bệnh thường gặp nhất đã chiếm tới 84% tổng số lượt KCB của NCT ở
tuyến xã; 52% lượt khám ngoại trú và 45% lượt điều trị nội trú của NCT ở tuyến
huyện. Trong đó, bệnh thường gặp nhất là THA, chiếm 49,5% tổng số lượt KCB
cho NCT tại tuyến xã, 15,4% lượt khám ngoại trú và 12,5% lượt điều trị nội trú tại
bệnh viện huyện. Bệnh truyền nhiễm cũng chiếm tỷ lệ đáng kể ở NCT, chiếm 22,1%
bệnh nhân cao tuổi tại tuyến xã; 16,4% bệnh nhân ngoại trú và 15,4% bệnh nhân nội
trú bệnh viện huyện, chủ yếu là bệnh hô hấp cấp tính, cúm và viêm dạ dày, tá tràng.
Các bệnh cơ xương khớp cũng hay gặp ở cả 3 loại hình dịch vụ, chiếm 6,1% bệnh
nhân cao tuổi ở tuyến xã, 9,4% bệnh nhân ngoại trú và 5,0% nội trú tại bệnh viện
huyện. [19].
1.1.2.2. Một số đặc điểm tâm lý tình cảm người cao tuổi
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của NCT không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản
thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm
và quan trọng nhất là môi trường gia đình. Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay
đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu chung những thay đổi thường gặp là:
a. Hướng về quá khứ
Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, NCT thường
thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia các hội nhóm, hội cựu chiến binh...
Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng
về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…[15].
b. Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”
Khi về già NCT phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề
Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào cuộc sống riêng
tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó.
- Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy NCT vẫn sợ
phải đối mặt với cái chết. Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc hậu sự cho mình,
viết di chúc cho con cháu... có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết
[15].
Với những thay đổi chung về tâm lý của NCT đã trình bày ở trên dẫn đến việc
một bộ phận NCT thường thay đổi tính nết. Con cháu cần chuẩn bị sẵn tâm lý để
đón nhận thực tế này nhằm có những ứng xử phù hợp.
8
1.2. Chất lượng cuộc sống
1.2.1. Một số khái niệm về chất lượng cuộc sống
Vấn đề CLCS và nâng cao CLCS dân cư là nội dung chủ yếu trong chiến lược
phát triển con người, đã trở thành mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội của mọi quốc gia, là vấn đề được nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam
hết sức quan tâm. CLCS với tư cách là một khái niệm khoa học đã được sử dụng rất
nhiều trong khoa học xã hội và y tế công cộng, đặc biệt là với NCT. Có rất nhiều định
nghĩa khác về CLCS, tùy thuộc vào trình độ phát triển, quan niệm văn hóa xã hội,
truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng. Khái niệm CLCS tuy đã ra đời khá lâu
nhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất.
Theo R.C.Sharma, tác giả của cuốn sách nổi tiếng: "Dân số, tài nguyên, môi
trường và chất lượng cuộc sống" - nghiên cứu về mối tương tác giữa CLCS dân cư với
quá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia - thì CLCS là một
khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những
khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của chính bản thân xã hội. Ông đã định nghĩa:
"Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) với
những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với
và một số yếu tố khác [35]. Mặt khác, nghiên cứu trên NCT vùng nông thôn Thụy
Điển chỉ ra rằng riêng với NCT yếu tố được hỗ trợ người khác, được người khác
chia sẻ và được cảm thấy mình có ích cho gia đình, xã hội là yếu tố rất quan trọng,
góp phần nâng cao CLCS của NCT [29, 36]. Một số nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra
rằng có mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng kinh tế xã hội, trình độ học vấn và
thu nhập với CLCS ở NCT, các phát hiện tương tự đang được báo cáo. Cụ thể, trình
độ học vấn và thu nhập cao hơn có liên quan đến điểm CLCS cao hơn [37]. Tham
gia vào các hoạt động xã hội chẳng hạn như chăm sóc tình nguyện hay tương tự như
vậy được thấy có liên quan đến CLCS tốt hơn [38]. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra
11
rằng hành vi sức khỏe có liên quan đến CLCS của NCT [30]. Trong đó một nghiên
cứu ở Đài Loan đã chỉ ra có yếu tố liên quan giữa lối sống của NCT và CLCS chỉ có
bệnh thiếu máu dẫn đến CLCS thấp hơn. Ngược lại, một số yếu tố lối sống chẳng
hạn như uống rượu, thói quen tập thể dục và lái xe ô tô có liên quan đến CLCS tốt
hơn, trong khi béo phì bụng và đi xe gắn máy lại có liên quan đến CLCS thấp hơn
[39].
Tại Việt Nam, năm 2012, Nguyễn Thị Thanh Hương và cộng sự đã thực hiện
một nghiên cứu định tính tìm hiểu về chất lượng cuộc sống của NCT tỉnh Hải Dương
sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung. Nghiên cứu đã chỉ
ra rằng các khía cạnh vật lý, tâm lý, xã hội, môi trường, tôn giáo và kinh tế là các khía
cạnh quan trọng đối với CLCS. Đối với những NCT tham gia nghiên cứu ở cả thành
thị và nông thôn thì sức khỏe thể chất, quan hệ xã hội, tài chính và kinh tế, môi
trường xã hội và thể chất và sức khỏe tâm lý được cho là có ảnh hưởng quan trọng.
NCT sống tại nông thôn cũng cho biết thực hành tôn giáo là một khía cạnh quan
trọng của CLCS. Về mối quan hệ, NCT ở thành thị ưu tiên những người có con cái,
trong khi NCT ở nông thôn tập trung sự quan tâm của họ vào các mối quan hệ cộng
đồng và điều kiện kinh tế [7]. Năm 2016, nghiên cứu của Lê Thị Hoàn và cộng sự đã
Hoạt động của các chức năng cơ thể và sức khỏe nói chung
Tình trạng kinh tế xã hội
Sự hài lòng với cuộc sống
Lòng tự trọng.
Mặc dù các tác giả đã không chứng minh được bốn chỉ số trên có thể đánh giá
một cách đầy đủ CLCS nhưng họ nhấn mạnh đó là 4 khía cạnh quan trọng trong
nhiều thành phần giới hạn nên CLCS [28].
Một nghiên cứu khác về mối quan hệ giữa công nghệ thông tin và CLCS của tác
giả Anderson đã phân tích khái niệm CLCS với 5 khía cạnh bao gồm các chỉ số khá chi
tiết:
- Sự hài lòng về thể chất: Sức khỏe, các hoạt động và an toàn cá nhân
- Sự hài lòng về vật chất: Tài sản, chất lượng nhà ở, tổng chi tiêu/tổng thu nhập,
bữa ăn/ thực phẩm, sự đi lại (giao thông, vận tải), sự riêng tư, an ninh, sự ổn định/
nhiệm kỳ.
- Sự hài lòng về xã hội: Mối quan hệ cá nhân, bạn bè và đời sống xã hội; sự
tham gia vào cộng đồng; cuộc sống gia đình, người thân; các hoạt động và sự kiện;
chấp nhận và hỗ trợ.
13
- Sự hài lòng về cảm xúc: Lòng tự trọng, niềm tin, sự hài lòng với công việc và
gia đình, tình cảm tích cực.
- Sự phát triển và hoạt động: Công việc, giáo dục, việc nhà, thời gian giải trí/
các thói quen, năng lực/ khả năng độc lập, năng suất/ sự đóng góp, sự lựa chọn/ khả
năng kiểm soát [43].
Sự phức tạp và tính chất chủ quan của khái niệm này đã trở thành một thách
thức cho ra đời nhiều công cụ lượng giá và giải thích nó. Thấy được tầm quan trọng
người lớn tuổi? Rõ ràng là nó không đủ cho các yêu cầu cụ thể để đánh giá CLCS
cho NCT [44]. Vì vậy đối với đối tượng là NCT, nhóm nghiên cứu WHOQOL tiếp
tục phát triển và cho ra đời bộ công cụ Chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế thế
giới ( WHOQOL-OLD), theo phương pháp của nhóm WHOQOL [45]. WHOQOLOLD gồm 24 câu hỏi được nhóm thành 6 khía cạnh đặc trưng liên quan đến CLCS
của NCT:
- Giác quan: mất chức năng giác quan; sự suy giảm giác quan ảnh hưởng đến cuộc
sống.
- Tự chủ: quyền tự quyết, tự kiểm soát cuộc sống, được tôn trọng và có khả
năng làm được những điều muốn làm.
- Hoạt động trong quá khứ, hiện tại và tương lai: hài lòng với những cơ hội,
những gì nhận được, xứng đáng nhận được và những điều mong chờ trong tương
lai.
- Hoạt động xã hội: việc làm, cách dùng thời gian, mức độ hoạt động, cơ hội
tham gia hoạt động xã hội.
- Cái chết: cách chết, kiểm soát cái chết, sợ chết, sợ đau trước khi chết.
- Tình thương: cảm nhận được tình thương trong cuộc sống, trải nghiệm tình
thương, cơ hội để yêu thương và được yêu thương.
Cho đến nay, WHOQOL-OLD đã được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ và đã có
nhiều nghiên cứu báo cáo độ tin cậy cũng như tính giá trị của nó [44],[46],[47],
[48]... Một số công cụ khác đã được phát triển để đánh giá chất lượng cuộc sống ở
NCT, như Chỉ số chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (EQOLI), WHOQOLAGE, CASP-19 (kiểm soát, tự chủ, tự giác, niềm vui) và Câu hỏi chất lượng cuộc
sống của người già (OPQOL) [49],[50],[51],[52].
Có ba lý do để chọn đo lường CLCS bằng WHOQOL-OLD trong nghiên cứu
này thay vì các công cụ khác: Đầu tiên, WHOQOL-OLD là công cụ chuyên biệt
được Tổ chức Y tế thế giới phát triển dành riêng cho đối tượng NCT đã được sử
15
dụng thường xuyên ở nhiều quốc gia trên thế giới, do đó cho phép so sánh quốc tế
16
CLCS kém hơn [55]. Năm 2014, một nghiên cứu khác của Y. Khaje-Bishak, L.
Payahoo, B. Pourghasem và cộng sự được thực hiện tại Tabriz, Iran trên 184 NCT
đang sống trong cộng đồng sử dụng bộ câu hỏi Chất lượng cuộc sống của Tổ chức
Y tế Thế giới (WHOQOL-BREF) cho thấy kết quả: Tổng điểm CLCS ở cả hai giới
là 90,75 ± 13,37 (trong khoảng: 26-130); NCT là nam giới có điểm CLCS cao hơn
nữ giới tuy nhiên khác biệt này là không đáng kể. Sự khác biệt đáng kể được tìm
thấy giữa các bệnh tim mạch, bệnh hô hấp và bệnh đường tiêu hóa, khiếm thính và
khiếm thị với điểm CLCS. Ngoài ra, không có sự khác biệt đáng kể giữa điểm
CLCS với các biến giới tính và độ tuổi [56].
Năm 2016, Josep L. Conde-Sala đã thực hiện một nghiên cứu tại Châu Âu trên
33241 người từ 65 tuổi trở lên về CLCS và một số yếu tố liên quan đến mô hình
phúc lợi xã hội tại đây. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hài lòng hơn trong cuộc sống,
trầm cảm ít, thu nhập đủ, chủ quan hơn về sức khỏe, hoạt động thể chất, không có
suy giảm chức năng, tuổi trẻ hơn và có tham gia các hoạt động có mối liên quan với
CLCS tốt hơn ở tất cả các quốc gia. Các quốc gia có xã hội dân chủ (cụm Bắc Âu)
hoặc mô hình phúc lợi xã hội có chỉ số kinh tế xã hội tốt hơn và điểm số CLCS cao
hơn (trung bình = 38,5 ± 5,8) so với các nước Đông Âu và Địa Trung Hải, đặc trưng
bởi các điều kiện kinh tế xã hội nghèo nàn, cung cấp phúc lợi xã hội hạn chế và
điểm số CLCS thấp hơn (trung bình = 33,5 ± 6,4) [23].
1.3.2. Tại Việt Nam
Sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung
Ương khóa VII và các chủ chương chính sách của Nhà nước, công tác dân số và kế
hoạch hóa gia đình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước [57]. Từ năm 2012, Việt
Nam đã bước vào giai đoạn dân số già khi số người từ 60 tuổi trở lên chiếm đến
10,2% tổng dân số và dự báo sẽ trở thành nước có dân số rất già năm 2038 với tỷ lệ
người từ 60 tuổi trở lên đạt 20,1% [58],[59]. Tuổi thọ trung bình nước ta tăng
nhanh, đã đạt 73,4 tuổi năm 2016, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình