KIẾN THỨC, THỰC HÀNH THEO dõi TRẺ SAUTIÊM CHỦNG của bà mẹ có CON dưới 2 TUỔI tại HUYỆN XAYCHĂM PHONTỈNH BOLIKHĂM XAY,LÀO năm 2018 và một số yếu tố LIÊN QUAN - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
===========

SANTY PHANTHADALA

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH THEO DÕI TRẺ SAU TIÊM
CHỦNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 2 TUỔI TẠI HUYỆN
XAY CHĂM PHON TỈNH BO LI KHĂM XAY, LÀO NĂM
2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
===========

SANTY PHANTHADALA

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH THEO DÕI TRẺ SAU TIÊM
CHỦNG CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 2 TUỔI TẠI HUYỆN
XAY CHĂM PHON TỈNH BO LI KHĂM XAY, LÀO NĂM

2.8. Quản lý và phân tích số liệu..................................................................30
2.9. Đạo đức trong nghiên cứu.....................................................................31
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ.............................................................32
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu...........................................32
3.2. Kiến thức và thực hành về theo dõi phản ứng sau tiêm chủng của các bà
mẹ có con dưới 2 tuổi...................................................................................33
3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của các bà mẹ có
con dưới 2 tuổi..............................................................................................40
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN..........................................................46


4.1. Kiến thức và thực hành của các bà mẹ có con dưới 2 tuổi về theo dõi
phản ứng sau tiêm chủng..............................................................................46
4.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của các bà mẹ có
con dưới 2 tuổi về theo dõi phản ứng sau tiêm chủng..................................46
4.3. Hạn chế của nghiên cứu........................................................................46
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..................................................................................47
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ..........................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCG

Bacillus Calmette-Guerin (bệnh lao)

CBYT

Cán bộ y tế


TCMR

Tiêm chủng mở rộng

TYT

Trạm y tế

UNICEF

United Nations Children’s Fund

WHO

(Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc)
World Health Organization
(Tổ chức y tế thế giới)


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1:

Lịch tiêm chủng cho trẻ em dưới trong chương trình TCMR của
Lào...............................................................................................8

Bảng 1.2.

Các phản ứng thông thường của vắc xin [.................................12


phản ứng sau tiêm chủng............................................................36

Bảng 3.7.

Thực hành của bà mẹ có con dưới 2 tuổi về theo dõi sức khỏe
của trẻ sau tiêm chủng tại trạm y tế và tại nhà...........................37

Bảng 3.8.

Thực hành của bà mẹ có trẻ con dưới 2 tuổi về giữ sổ tiêm chủng
cá nhân tạm thời cứ giữ lại.........................................................38

Bảng 3.9.

Thực hành của bà mẹ có trẻ con dưới 2 tuổi về xử trí các phản
ứng sau tiêm chủng....................................................................38

Bảng 3.10. Tình trạng tiếp nhận thông tin về chăm sóc trẻ của bà mẹ từ cán
bộ y tế.........................................................................................39
Bảng 3.11. Mong muốn nhận thêm thông tin của bà mẹ về phản ứng sau
tiêm chủng..................................................................................39
Bảng 3.12. Các yếu tố liên quan đến kiến thức của bà mẹ có con dưới 2 tuổi....40
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa được NVYT tư vấn với kiến thức về theo dõi
phản ứng sau tiêm chủng............................................................41


Bảng 3.14. Mối liên quan giữa số con hiện có với kiến thức của bà mẹ......41
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa kiến thức về hậu quả của phản ứng nặng sau
tiêm chủng với thực hành theo dõi trẻ sau tiêm chủng của các bà
mẹ có con dưới 2 tuổi.................................................................42

nhiễm [3]. Ngoài những lợi ích rõ ràng về sức khỏe, tiêm chủng là một biện
pháp can thiệp y tế công cộng có chi phí thấp và hiệu quả nhất [4].
Tiêm chủng mở rộng (TCMR) lấy đối tượng trẻ em là trọng tâm, là hoạt
động dự phòng quan trọng để bảo vệ sức khỏe của trẻ em [5]. Chương trình
tiêm chủng mở rộng được triền khai ở Lào từ năm 1989, được sự hỗ trợ của
WHO và UNICEF. Đến năm 1995, Tiêm chủng mở rộng được đẩy mạnh và
triển khai trên phạm vi cả nước. Đến nay đã có 8 loại vắc xin được đưa vào
chương trình đã góp phần quan trọng giúp nước ta thanh toán bại liệt, loại trừ
bệnh uốn ván sơ sinh và khống chế các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sởi,
ruballe, bạch hầu, ho gà [6].
Mặc dù vắc xin là an toàn nhưng giám sát, phát hiện, báo cáo những phản
ứng bất thường sau tiêm chủng có thể giúp xác định nguyên nhân từ đó đề ra
những biện pháp phù hợp đồng thời sẽ tránh được những thông tin sai lệch có
thể gây mất lòng tin đối với tiêm chủng và quan trọng hơn là củng cố lòng tin
của cộng đồng đối với công tác tiêm chủng [7],[8],[9]. Việc phối hợp cùng gia
đình trong công tác theo dõi, chăm sóc sức khỏe của trẻ trước và sau tiêm
chủng có vai trò đảm bảo an toàn tiêm chủng; các bà mẹ có kiến thức đầy đủ


2

và thực hành đúng về theo dõi, chăm sóc trẻ trước và sau tiêm chủng sẽ giúp
sớm phát hiện một số biểu hiện bất thường sau tiêm chủng đề đưa trẻ đến các
cơ sở y tế kịp thời.
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của một số các trường hợp phản
ứng sau tiêm chủng đã xảy ra một số nước trên thế giới đã ghi nhận những
trường hợp phản ứng sau tiêm chủng vắc xin Quinvaxem tại Siri Lanka năm
2008 đã có trẻ tử vong. Năm 2012 đến 2013 có 83 trường hợp phản ứng sau
tiêm tại Ấn Độ [10],[11]. Gần đây ở Lào năm 2016 đã có 2 trẻ tử vong sau
tiêm chủng vắc xin Quinvaxem [12]. Trong Việt Nam năm 2017 có 27 trường

khả năng gây bệnh. Vắc xin được chủ động đưa vào trong cơ thể để kích thích
cơ thể sinh miễn dịch chủ động phòng bệnh [14].
Hiện nay, vắc xin không chỉ là chế phẩm từ vi sinh vật được dùng để
phòng bệnh, mà vắc xin còn được làm từ vật liệu sinh học không vi sinh vật
và dùng với các mục đích khác như: vắc xin chống khối u được làm từ các tế
bào sinh khối u, vắc xin chống thụ thai được làm từ thụ thể (receptor) của
trứng dùng để ngăn cản điều kiện thụ thai [15].
1.1.2. Phân loại vắc xin
1.1.2.1. Vắc xin giải độc tố
Các loại vắc xin được sử dụng khi một độc tố của vi khuẩn là nguyên
nhân chính của bệnh do vi sinh vật tiết ra độc tố, hoặc hóa chất độc hại. Các
nhà khoa học đã phát hiện ra rằng họ có thể làm bất hoạt độc tố bằng cách xử
lý chúng với formalin, một dung dịch formaldehyde và nước khử trùng để
biến độc tố của vi sinh vật được an toàn để sử dụng trong vắc xin như giải độc
tố như Uốn ván, Bạch hầu [16],[17].


4

1.1.2.2. Vắc xin tinh chế
Thay vì toàn bộ tế bào vi sinh vật, vắc xin tinh chế chỉ bao gồm các kháng
nguyên mà tạo được miễn dịch tốt nhất. Trong một số trường hợp, các vắc xin
này sử dụng các quyết định kháng nguyên-phần đặc hiệu của kháng nguyên
mà kháng thể hoặc tế bào T nhận ra và gắn vào.
Vắc xin tinh chế có thể chứa ở bất cứ đâu từ 1-20 kháng nguyên hoặc
nhiều kháng nguyên khác. Việc xác định kháng nguyên tốt nhất kích thích hệ
thống miễn dịch là một quá trình tốn thời gian khó khăn. Phát triển vắc xin
tinh chế bằng cách: Phát triển các loại vi khuẩn trong phòng thí nghiệm và sau
đó sử dụng hóa chất để phá vỡ nó ra và thu thập các kháng nguyên quan
trọng, hoặc có thể sản xuất các phân tử kháng nguyên từ vi khuẩn sử dụng

xin đã hết hạn sử dụng, lọ vắc xin đã pha hồi chỉnh sau buổi tiêm chủng và
vắc xin có gắn chỉ thị nhiệt độ đã đổi màu báo cần hủy trong dây chuyền lạnh.
Dây chuyền lạnh sử dụng bảo quản vắc xin chỉ được sử dụng cho vắc xin.
1.1.4. Tiêm chủng
Tiêm chủng là việc sử dụng các hình thức khác nhau để đưa vắc xin, sinh
phẩm y tế vào cơ thể con người với mục đích kích thích cơ thể tạo ra miễn
dịch chủ động để phòng bệnh [19].
Tiêm chủng là hình thức gây miễn dịch chủ động nhờ vắc xin. Mũi tiêm
chủng đầu tiên cho người chưa bao giờ tiếp xúc với kháng nguyên thường tạo
ra kháng thể loại IgM. Tùy thuộc vào khả năng đáp ứng và thời gian tiêm, mũi
thứ hai sẽ kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh hơn, cao hơn và thường là
kháng thể loại IgG. Sau khi tiêm đủ các mũi cơ bản, miễn dịch sẽ duy trì ở
mức độ cao trong thời gian dài và cho dù lượng kháng thể giảm xuống nhưng


6

do cơ chế trí nhớ miễn dịch nên đa số trường hợp vẫn có khả năng kích thích
cơ thể đáp ứng nhanh khi tiếp xúc lại với mầm bệnh [20].
Trong suốt 200 năm qua, kể từ khi thầy thuốc người Anh - Edward Jenner
dùng vẩy đậu bò để phòng bệnh đậu mùa ở người cho đến nay, tiêm chủng đã
góp phần đáng kể vào việc phòng ngừa bệnh, kiểm soát được ít nhất 10 bệnh
chính sau đây ở nhiều khu vực trên thế giới: đậu mùa, uốn ván, sốt vàng, các
bệnh gây ra bởi Haemophilus influenza type B, bại liệt, sởi, quai bị và rubella
[11]. Tác động của việc tiêm chủng vắc xin đối với sức khỏe con người trên
toàn thế giới là vô cùng to lớn, làm giảm tỷ lệ chết cho cộng đồng [21].
1.2. Chương trình tiêm chủng mở rộng
1.2.1. Lịch sử phát triển của chương trình tiêm chủng mở rộng trên thế
giới
Chương trình TCMR được WHO khởi xướng từ năm 1974 [22]. Đến nay,

địa bàn và đối tượng tiêm chủng. Tới nay, toàn bộ trẻ em dưới 1 tuổi trên toàn
quốc đã có cơ hội được tiếp cận với chương trình TCMR. Đến năm 2014, đã có
12 vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm phổ biến, nguy hiểm cho trẻ em được đưa
vào chương trình bao gồm: vắc xin phòng các bệnh: lao, bạch hầu, ho gà, uốn
ván, bại liệt, viêm gan B, sởi, rubella, viêm não Nhật Bản, thương hàn và viêm
phổi/viêm màng não mủ do Hib, phế cầu khuẩn liên hợp (PCV) [6].
Sau hơn 30 năm triển khai hoạt động, chương trình TCMR tại Lào đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn, góp phần bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân. Vào năm 2000, Lào chính thức được WHO
công nhận đã thanh toán hoàn toàn bệnh bại liệt. Đến năm 2016, tỷ lệ tiêm
chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi đạt trên 76%, bên cạnh đó, tỷ lệ tiêm chủng
vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai và phụ nữ tuổi sinh đẻ luôn đạt từ 80 đến
90%. Bệnh ho gà và bạch hầu là những bệnh có tỷ lệ mắc và chết cao ở trẻ em
trước khi có chương trình TCMR, nay cũng đã được khống chế, tỷ lệ tiêm
chủng các vắc xin đó đạt 82% [6].


8

1.2.3. Vắc xin thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng
Tại Lào, đã có 8 loại vắc xin sử dụng trong tiêm chủng mở rộng cho trẻ
dưới 1 tuổi hiện đang triển khai trên toàn quốc [27], bao gồm:
 Vắc xin lao (BCG): Phòng bệnh lao.
 Vắc xin viêm gan B (VGB): Phòng bệnh viên gan B.
 Vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT): Phòng bệnh Bạch hầu, ho gà, Uốn
ván.
 Vắc xin bại liệt uống (OPV): Phòng bệnh bại liệt
 Vắc xin sởi: Phòng bệnh sởi
 Vắc xin uốn ván: Phòng bệnh uốn ván
 Vắc xin 5 trong 1 (Quinvaxem): Phòng được các bệnh bạch hầu-ho gàuốn ván, viêm gan B, viêm phổi và viêm màng não mủ do vi khuẩn HibHaemophilus influenzae type B.

- Tiêm vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván-viêm gan B-Hib mũi 2
- Phế cầu khuẩn liên hợp 2

4

04 tháng

- Uống vắc xin bại liệt lần 2
- Tiêm vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván-viêm gan B-Hib mũi 3
- Phế cầu khuẩn liên hợp 3


9

5
6
7

09 tháng
18 tháng
Từ

- Uống vắc xin bại liệt lần 3
- Tiêm vắc xin sởi mũi 1
- Tiêm vắc xin bạch hầu-ho gà-uốn ván mũi 4

- Tiêm vắc xin sởi-rubella (MR)
12 - Vắc xin viêm não Nhật Bản mũi 1

tháng tuổi - Vắc xin viêm não Nhật Bản mũi 2

- Trẻ suy giảm miễn dịch (bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh, trẻ nhiễm
HIV giai đoạn lâm sàng IV hoặc có biểu hiện suy giảm miễn dịch nặng)
chống chỉ định tiêm chủng các loại vắc xin sống. Không tiêm vắc xin BCG


10

cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV mà không được điều trị dự phòng lây truyền
từ mẹ sang con.
Các trường hợp chống chỉ định khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất đối
với từng loại vắc xin [30],[31].
1.3.3. Các trường hợp tạm hoãn
Các trường hợp tạm hoãn được chỉ định theo Hướng dẫn khám sàng lọc
trước tiêm chủng đối với trẻ em [29]:
- Trẻ mắc các bệnh cấp tính, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng.
- Trẻ sốt ≥ 37,50C hoặc hạ thân nhiệt ≤ 35,50C(đo nhiệt độ tại nách).
- Trẻ mới dùng các sản phẩm globulin miễn dịch trong vòng 3 tháng trừ
trường hợp trẻ đang sử dụng globulin miễn dịch điều trị viêm gan B.
- Trẻ đang hoặc mới kết thúc liều điều trị corticoid (uống, tiêm) trong
vòng 14 ngày.
- Trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2.000 gam.
Các trường hợp tạm hoãn tiêm chủng khác theo hướng dẫn của nhà sản
xuất đối với từng loại vắc xin [30],[31].
1.4. Phản ứng sau tiêm chủng
1.4.1. Khái niệm về phản ứng sau tiêm chủng
Phản ứng sau tiêm chủng là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao gồm
các biểu hiện tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không
nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm
chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng [32].
1.4.2. Nguyên nhân phản ứng sau tiêm chủng

do trùng hợp ngẫu nhiên với bệnh lý sẵn có hoặc do nguyên nhân khác [37].
Khi một phản ứng sau tiêm là trùng hợp ngẫu nhiên thì tình trạng này có thể
đã xảy ra ngay cả khi đối tượng chưa được tiêm chủng [34].


12

Do tâm lý lo sợ: xảy ra do sự lo sợ hoặc do bị tiêm đau, không phải do vắc
xin hoặc sai sót trong thực hành tiêm chủng [35]. Điển hình là phản ứng dây
chuyền do lo sợ tiêm vắc xin như trường hợp tại trường Trung học cơ sở xã
Cao Sơn huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai có 19 học sinh có biểu hiện đau
đầu, chóng mặt và ngất xỉu sau khi tiêm vắc xin trong chiến dịch tiêm SởiRubella năm 2014 [36].
Không rõ nguyên nhân: Không xác định được nguyên nhân gây ra phản
ứng sau tiêm chủng.
1.4.3. Phân loại phản ứng sau tiêm chủng
1.4.3.1. Theo mức độ
a) Phản ứng thông thường sau tiêm chủng:
Bao gồm các phản ứng tại chỗ như ngứa, đau, sưng hoặc đỏ tại chỗ
tiêm; phản ứng toàn thân bao gồm sốt và các triệu chứng khác (khó chịu, mệt
mỏi, chán ăn) có thể là một phần của đáp ứng miễn dịch bình thường. Các
phản ứng này thông thường là nhẹ và tự khỏi [39].
Bảng 1.2. Các phản ứng thông thường của vắc xin [30].
Vắc xin
BCG
Viêm gan B
Hib
Vắc xin cúm bất hoạt
Vắc xin sống cúm
Vắc xin viêm não bất hoạt
Vắc xin sống viêm não


Viêm gan B
Sốc phản vệ
0-1 giờ
Viêm não Nhật
Biểu hiện thần kinh (viêm não, Bản (bất hoạt)
bệnh não, thần kinh ngoại
biên)
Sởi/Sởi-quai bị- Co giật có sốt
6-12 ngày
Giám tiểu cầu
15-35 ngày
rubella/sởiSốc phản vệ
1 giờ
rubella
Bệnh não
6-12 ngày
Bại liệt uống Liệt liên quan tới vắc xin
4-30 ngày
(OPV)
Uốn ván
- Viêm thần kinh cánh tay 2.28 ngày
- Sốc phản vệ
0-1giờ
- Áp xe vô trùng
1-6 tuần
Ho gà (DTP)
- Khóc thét dai dẳng >3 giờ 1.24 giờ
- Co giật
0-3 ngày
- Giảm trương lực cơ

Theo nguyên nhân, có các nguyên nhân sau [35],[37]:
- Do trùng hợp ngẫu nhiên: xảy ra sau khi tiêm chủng nhưng nguyên nhân
không phải do vắc xin hoặc sai sót trong tiêm chủng hoặc lo sợ do bị tiêm mà
do trùng hợp ngẫu nhiên với bệnh lý sẵn có hoặc nguyên nhân khác.
- Do tâm lý lo sợ: xảy ra do sự lo sợ hoặc do bị tiêm đau, không phải do
vắc xin hoặc do vắc xin không đạt chất lượng.
- Do vắc xin: Phản ứng sau tiêm chủng xảy ra do các đặc tính cố hữu của
vắc xin hoặc do vắc xin không đạt chất lượng.


15

- Do sai sót trong thực hành tiêm chủng: xảy ra do sai sót trong quá trình
thực hành tiêm chủng (chuẩn bị, pha hồi chỉnh, kỹ thuật tiêm, bảo quản và sử
dụng vắc xin không đúng).
- Không rõ nguyên nhân: Không xác định được nguyên nhân.
1.5. Hướng dẫn theo dõi, chăm sóc xử trí phản ứng sau tiêm chủng
1.5.1. Hướng dẫn theo dõi chăm sóc tại trạm y tế
Người được tiêm chủng phải được theo dõi tại trạm y tế ít nhất 30 phút
sau tiêm chủng. Các dấu hiệu cần theo dõi sau tiêm chủng gồm [38]:
- Toàn trạng, tinh thần, nhịp thở, nhiệt độ, phát ban.
- Dấu hiệu tại chỗ tiêm: Sưng, đỏ, đau tại chỗ tiêm.
1.5.2. Hướng dẫn chăm sóc tại nhà
Người được tiêm chủng phải được theo dõi tại nhà ít nhất 24 giờ sau tiêm
chủng. Trường hợp người được tiêm chủng là trẻ em thì người theo dõi trẻ
phải là người trưởng thành và biết chăm sóc trẻ. Các dấu hiệu cần theo dõi sau
tiêm chủng bao gồm [38]:
- Dấu hiệu về nhịp thở
- Tinh thần, tình trạng ăn, ngủ
- Toàn trạng

đau theo chỉ định của cán bộ y tế.
- Nhiễm khuẩn BCG lan tỏa trên diện rộng xảy ra trong vòng 1 đến 12
tháng sau tiêm BCG và được chẩn đoán xác định bằng cách phân lập vi khuẩn
lao. Thông thường xảy ra ở những người suy giảm miễn dịch, cần đưa đến cơ
sở y tế để điều trị bằng thuốc chống lao.
- Hội chứng não, màng não cấp tính với đặc điểm có 2 trong 3 triệu chứng
sau: những cơn kịch phát, ý thức rối loạn kéo dài 1 đến nhiều ngày và hành vi


17

thay đổi rõ rệt kéo dài 1 đến nhiều ngày cần đưa đến cơ sở y tế để được khám,
điều trị.
- Giảm trương lực, phản xạ, choáng xảy ra trong vòng 48 giờ sau khi tiêm
chủng kéo dài từ 1 phút đến nhiều giờ ở trẻ em dưới 10 tuổi với biểu hiện mệt
lả, giảm đáp ứng thường thoáng qua và tự khỏi không cần điều trị. Trường
hợp xuất hiện tái xanh hay tím ngắt hoặc bất tỉnh cần được đưa đến cơ sở y tế
để theo dõi và điều trị tích cực như sốc phản vệ.
- Viêm hạch bạch huyết kể cả viêm hạch bạch huyết có mủ với biểu hiện
có 1 hạch lympho sưng to >1,5 cm (bằng 1 đầu ngón tay người lớn) hoặc có
một hốc dò rỉ trên 1 hạch lympho. Xảy ra trong vòng 2-6 tháng sau khi tiêm
vắc xin BCG, tại cùng một bên người với chỗ tiêm chủng (đa số là ở nách).
Thường là tự lành và không cần điều trị. Trường hợp tổn thương dính vào da
hoặc bị dò rỉ thì cần đưa đến cơ sở y tế để được phẫu thuật dẫn lưu và đắp
thuốc chống lao tại chỗ.
- Bầm tím và/hoặc chảy máu do giảm tiểu cầu thường là nhẹ và tự khỏi.
Trường hợp nặng cần đưa đến cơ sở y tế để điều trị thuốc steroid và truyền
khối tiểu cầu.
1.5.4. Hướng dẫn xử trí các tại biến nặng sau tiêm chủng
Xử trí các tại biến nặng sau tiêm chủng thực hiện theo Hướng dẫn chăm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status