TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
ĐẶNG THANH HIẾU
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO
DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI, 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
ĐẶNG THANH HIẾU
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VÀO
DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
TS. PHẠM KIỀU ANH
DANH MỤC VIẾT TẮT
BT
Bài tập
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
NXB
Nhà xuất bản
PP
Phương pháp
PPDH
Phương pháp dạy học
SGK
Sách giáo khoa
1.3.2. Điều tra, khảo sát thực trạng học bài Viết quảng cáo ở trường THPT ......... 21
1.3.3. Đánh giá chung ...................................................................................... 21
CHƯƠNG 2. DẠY HỌC BÀI VIẾT QUẢNG CÁO (NGỮ VĂN 10) THEO
QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP ............................................................................ 22
2.1. Mục đích của việc học bài Viết quảng cáo trong chương trình Ngữ văn
THPT ............................................................................................................... 22
2.2. Nội dung dạy học bài Viết quảng cáo trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 .......... 22
2.3. Những yêu cầu có tính nguyên tắc khi tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo
theo quan điểm tích hợp .................................................................................. 24
2.3.1. Phù hợp với mục tiêu và thời lượng dạy học ........................................ 24
2.3.2. Phù hợp với điều kiện thực tế................................................................ 25
2.3.3 . Phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh .................................... 25
2.4. Xác định những nội dung có thể tích hợp trong bài Viết quảng cáo ...... 27
2.4.1. Tích hợp với văn bản thuyết minh khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về
văn bản Viết quảng cáo ................................................................................... 27
2.4.2. Tích hợp với kĩ năng sử dụng ngôn ngữ khi trình bày nội dung quảng
cáo ................................................................................................................... 27
2.4.3. Tích hợp mở rộng trong thực tế cuộc sống ........................................... 28
2.5. Xác định thời điểm tích hợp khi dạy học bài Viết quảng cáo .......................... 29
2.5.1. Tích hợp khi tổ chức hoạt động tạo tâm thế ......................................... 29
2.5.2. Tích hợp khi hướng dẫn học sinh tiếp nhận tri thức về cách viết quảng
cáo ................................................................................................................... 29
2.5.3 Tích hợp khi hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng viết quảng cáo ............... 30
2.5.4. Tích hợp khi kiểm tra ............................................................................ 30
2.6. Xác định một số phương pháp tích cực sử dụng khi dạy học bài Viết
quảng cáo theo quan điểm tích hợp ............................................................... 30
2.6.1. Phương pháp vấn đáp ........................................................................... 30
2.6.2 Phương pháp thảo luận nhóm ................................................................ 32
kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực
(compétence) là khái niệm “cơ sở” của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de
l'intégration)” (Xavier Roegiers Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo
dục và Đào tạo của Liên minh Châu Âu).
Nếu như dạy học tích hợp đã có từ rất lâu trên thế giới, thì ở Việt Nam
quan niệm này mới được xuất hiện từ thập niên 90 của thế kỉ XX. Nhận thấy
tầm quan trọng của quan điểm giáo dục này, việc dạy và học trong các nhà
trường ở Việt Nam đã và đang tích cực áp dụng và triển khai thực hiện dạy
học tích hợp. Và theo đó, giáo dục Việt Nam đang đứng trước thách thức đổi
mới từ mục tiêu, nội dung và đặc biệt là phương pháp dạy học (PPDH) ở mọi
cấp học. Hiện nay, ngành giáo dục Việt Nam - gắn với yêu cầu đổi mới toàn
diện giáo dục cũng nhấn mạnh:“Thay cho việc dạy học đang được thực hiện
theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên
môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung
để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp
dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường” (Công văn số:
5555/BGDĐT-GDTrH, “hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới PPDH
1
và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của
trường trung học”/trung tâm GDTX qua mạng). Như vậy, có thể nhận thấy
quan điểm tích hợp đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và đặc biệt hơn là Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp thị sát quyết liệt. Nhiều bài nghiên cứu,
nhiều hội thảo khoa học được tổ chức nhằm tìm ra những cách thức vận dụng,
tổ chức vào từng khâu, từng nội dung, từng hoạt động giáo dục trong tất cả
các cấp học. Không chỉ có vậy, cùng với định hướng đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông sau 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh quan
điểm: tích hợp mạnh, sâu hơn các nội dung dạy học, gắn với quá trình phân
nhiều tri thức của nhân loại, các nhà giáo dục Nga đã dành thời gian hệ thống,
nghiên cứu các tri thức được dạy trong nhà trường dành cho con em giới quý
tộc, và họ đã nhận thấy khả năng kết hợp một số tri thức khoa học trong các
môn học khác nhau trên cơ sở mối quan hệ giữa chúng. Từ đó, tích hợp ra đời
và dần trở thành một quan điểm giáo dục hiện đại. Có thể nói, sự ra đời của
nó thực sự hữu hiệu khi nó giúp cho nhiều quốc gia trên thế giới vừa đáp ứng
được mục tiêu giáo dục của quốc gia, vừa thỏa mãn được nhu cầu học ít, biết
nhiều từ phía gia đình và chính bản thân chủ thể học tập. Cũng vì thế, tích hợp
thực sự là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục trong nước và
thế giới. Có thể điểm lại những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về
tích hợp dưới đây:
Vào năm 1968, tại Bun - ga - ri, tổ chức giáo dục thế giới UNESCO đã
kết hợp với Hội đồng liên quốc gia tổ chức hội nghị bàn về việc tích hợp việc
giảng dạy các khoa học. Tại hội nghị này, các nhà giáo dục toàn cầu đã này
đặt ra và lí giải các vấn đề mà giáo dục toàn cầu cần chú trọng là: việc phải
dạy học tích hợp và thế nào là dạy học theo hướng tích hợp giữa các khoa
học. Kế thừa những thành quả đã xác định được tại hội nghị đó, đến năm
1972, tổ chức UNESCO tiếp tục họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học
tích hợp các khoa học. Có thể nói, hai hoạt động có tính toàn cầu này đã thực
sự đánh dấu sự thay đổi và khẳng định vị trí, nhiệm vụ và tác dụng của tích
hợp đối với nền giáo dục của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Ở Việt Nam, vào những năm của thập kỉ 1970, Cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng lần đầu nhắc tới tích hợp. Tuy nhiên, trong bài viết của mình, Cố Thủ
tướng cho rằng nó là một trong những phương pháp dạy học hữu hiệu, có thể
giúp GV có thể giáo dục con người HS một cách toàn diện. Tuy nhiên, sau đó,
3
ở Việt Nam, người ta ít chú trọng tới vấn đề này. Phải tới 1987, khi các nhà
4
hợp lý (Algebra) trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện
đại” [7; tr.15].
Ngay sau đó, năm 2007, tác giả Phan Cảnh Mậu tiếp tục nhấn mạnh:
“Tích hợp trở thành một nguyên lý nhưng cũng cần phải nhấn mạnh đến
nguyên tắc: tích hợp phải thích hợp. Thích hợp ở đây là phải chú trọng đến
cơ sở và liều lượng trong nội dung tích hợp, đồng thời sử dụng các phương
pháp triển khi hợp lý” [14; tr.11]
Có thể nói, sau một khoảng thời gian ngắn sử dụng chương trình giáo
dục phổ thông 2000, các nhà khoa học đã từng bước nêu ra bản chất, đặc điểm
cũng như tác dụng của tích hợp đối với chương trình và quá trình dạy học ở
phổ thông. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nghiên cứu có tính chất nhỏ lẻ,
chưa khái quát. Phải tới năm 2016, sự ra đời của cuốn Dạy học tích hợp phát
triển năng lực học sinh (Quyển 2) mới phần nào bao quát được tích hợp và
việc dạy học theo quan điểm này đối với các môn Khoa học xã hội. Theo đó,
trong công trình này, các tác giả đã xác định rõ tích hợp, các mức độ và
phương diện của tích hợp, những yêu cầu của dạy học tích hợp đối với các
môn học thuộc lĩnh vực khoa học này. Trên cơ sở đó, công trình cũng đã đánh
giá ý nghĩa của việc triển khai và ứng dụng quan điểm này vào thực tế dạy
học đối với các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội” [8]
Từ những khảo cứu trên đây, có thể khẳng định, cho đến nay, mặc dù có nhiều
công trình nghiên cứu về tích hợp song lại chưa có công trình nào tập trung xem xét
việc tổ chức dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10) theo quan điểm này. Đó là gợi
dẫn để chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài này.
“3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu”
Đề tài nghiên cứu nhằm hướng tới một số mục đích xác định được những
cơ sở khoa học và những yêu cầu về kĩ năng cần thiết khi vận dụng quan
về tích hợp .
5.2. Phương pháp khảo sát thực nghiệm
6
Chúng tôi khảo sát thực tiễn dạy làm văn bằng cách phát phiếu khảo sát
thăm dò ý kiến của GV và HS, dự giờ trực tiếp tại các giờ học Làm văn, qua
đó thống kê những số liệu và thông tin cần thiết về tình hình dạy Làm văn nói
chung và dạy bài Viết quảng cáo nói riêng.
5.3. Phương pháp so sánh – đối chiếu
“PP này sẽ được vận dụng để so sánh các ngữ liệu trong quá trình đối
chiếu giữa việc dạy làm văn theo phương pháp truyền thống với dạy học theo
quan điểm tích hợp để thấy rõ ưu điểm, nhược điểm của các PP. Trong thực
nghiệm, chúng tôi cũng so sánh kết quả thu được ở lớp thực nghiệm với lớp
đối chứng để đánh giá tính khả thi của giáo án thiết kế theo hướng tích hợp”
6. Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận có kết cấu gồm ba phần:
Mở đầu: Trình bày những vấn đề một cách khái quát về đề tài nghiên
cứu, lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,…
Nội dung: Đây là trọng tâm của khóa luận. Phần này được triển khai thành ba
chương là:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Dạy học bài Viết quảng cáo (Ngữ văn 10) theo quan điểm tích
hợp
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
7
“Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập
8
của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch
dạy học” [16; Tr.233]. Như vậy, cùng một vấn đề song có thể nhận thấy, do
mục đích nghiên cứu khác nhau nên mỗi người lại quan niệm khác nhau về
nó. Và hiểu một cách đơn giản thì: Tích hợp là “khả năng kết hợp lại có hệ
thống ở những mức độ khác nhau có thể ở trong hoặc ngoài bộ môn thành
một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ đồng nhất về cơ sở lí
luận và cơ sở thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần
của bộ môn đó” Nhấn mạnh đặc điểm, mục đích và tác dụng của việc triển
khai tích hợp vào chương trình, SGK Ngữ văn, GS. Nguyễn Khắc Phi khẳng
định: “Tích hợp là một phương pháp hướng tới phối hợp một cách tối ưu các
quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô
hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu
cụ thể khác nhau” [17; tr.47]. Vừa đảm bảo tính ưu việt, vừa thể hiện được
những nội dung sẽ triển khai trong khóa luận, chúng tôi lựa chọn và sử dụng
quan niệm về tích hợp của GS. Nguyễn Khắc Phi làm căn cứ để triển khai nội
dung nghiên cứu. Quan niệm này giúp chúng tôi có sự định hướng rõ ràng về
việc lựa chọn và thiết kế cho quan niệm dạy học hiện đại để từ đó liên kết
nhiều chuỗi kiến thức trong một khoảng thời gian ngắn mà vẫn đảm bảo mục
đích và yêu cầu giáo dục khi dạy học một nội dung cụ thể.
1.1.2. Các hình thức tích hợp được thiết kế trong chương trình Ngữ văn
hiện hành
Khi triển khai nội dung chương trình môn Ngữ văn, các nhà giáo dục đều
khẳng định đây là một môn học rất có lợi thế về vận dụng quan điểm tích hợp.
Theo đó, việc triển khai quan điểm này vào sách giáo khoa Ngữ văn được thể
hiện qua những hình thức cơ bản sau:
Hình thức thứ 2 là tích hợp dọc. Đó là hình thức “tích hợp giữa một đơn
vị kiến thức, kĩ năng mới với những kiến thức, kĩ năng trước đó đã được học
theo quy tắc đồng tâm. Cụ thể là: Kiến thức của lớp trên, bậc học trên bao
hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, cấp học dưới” điều đó có thể được minh
họa qua bảng khái quát về hình thức dạy học tích hợp này của TS. Ngô Văn
Hưng
( Chuyên viên cao cấp - Bộ Giáo dục và Đào tạo) như sau:
Nội dung
học
khoa Kiến thức HS cần có:
+ Sự tiến hóa
+ Sự đa dạng trong các loài
(môn Sinh học)
+ Sự biến đổi qua thời gian
Kiến thức của giáo
dục bền vững
+ Động vật
+ Hóa thạch và khoáng
+ Các hiện tượng trong thiên sản
nhiên
+ Thời tiết và khí + Môi trường trên trái đất bị
tác động bởi công nghệ.
tìm hiểu thấu đáo của bài thơ này. Ở đó người đọc cần tiếp nhận được các
mảng lĩnh vực như hội họa, âm nhạc và tính tạo hình. Cách Quang Dũng tạo
nên tính nhạc bởi những âm hưởng đặc biệt, những thanh trắc tạo cảm giác
trúc trắc, khó đọc kết hợp với những thanh bằng làm nhịp thư trầm xuống tạo
cảm giác thư thái nhẹ nhàng hay như những hình ảnh mang đậm chất hội họa
đó là những nét vẽ gân guốc giàu tính tạo hình.
1.1.3. Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn
1.1.3.1. Phát huy tính tích cực của người học
“Dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy
động (mọi) nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp nhằm phát triển
các năng lực và phẩm chất cá nhân”. Theo đó, có thể khẳng định nó là một
biện pháp dạy học mới tích cực nhằm tác động tích cực tới người dạy và cả
người học. Theo đó, GV không phải giảng lại những kiến thức đã được học,
mà thay vào đó, HS sẽ phải tự vận dụng những kiến thức đã được học để giải
quyết các nhiệm vụ học tập. Điều đó dẫn đến một kết quả mới của quá trình
dạy học tích cực hiện nay – đó là HS được hình thành hàng loạt các kĩ năng
như: kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng suy nghĩ tư duy phê phán, kĩ năng giao
tiếp hiệu quả, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin…Vì vậy, khi tiếp cận một
tình huống mới tương tự trong cuộc sống, các em có cơ hội đạt thành công
cao trong cách xử lí tình huống, giải quyết vấn đề. Như vậy với cách học này
thì nó hoàn toàn phù hợp với xu thế hiện nay đó là lấy người học làm trung
tâm, GV chỉ là người định hướng còn HS sẽ không ngừng tư duy sáng tạo để
giải quyết các nhiệm vụ để qua đó hình thành những năng lực. Qua các tiết
học theo hình thức này, người học cảm thấy hứng thú học tập, bởi khi đó, chủ
thể học tập vừa được thể hiện trình độ nhận thức của bản thân, vừa được tăng
cường vận dụng các kiến thức để giải quyết các tình huống, tự tìm tòi khám
phá để tìm những tri thức khoa học mới. Bản chất của quan điểm dạy học này
là một phương pháp dạy học lồng ghép, cụ thể môn Ngữ văn là chỉnh thể
được cấu thành bởi kiến thức của ba phân môn. Cách triển khai như vậy
Lựa
chọn
chủ
đề/
tình
huống
Bước 3
Xác định
các yếu
tố khác
của quá
trình DH
Bước 4
Bước 5
Thiết
kế các
hoạt
động
DH
Xây
dựng
công
cụ
đánh
chọn các phương pháp, phương tiện dạy học cho phù hợp. Chẳng hạn: với
phân môn đọc – hiểu, người dạy có thể cho HS trải nghiệm hình thức phân
vai, sân khấu hóa hay áp dụng các chiến thuật đọc hiểu như đọc và ghi chú
bên lề, cộng tác ghi chú…; với phân môn Tiếng Việt người dạy có thể tổ chức
giờ học theo các phương pháp như: dạy học theo dự án, dạy học tương tác ...;
đặc biệt với phân môn Làm văn, với đặc thù là sẽ tích hợp nhiều với những
kiến thức về làm văn đã học mà ta có thể áp dụng các phương pháp như dạy
học theo trạm, dạy học dự án, dạy học hợp đồng và bên cạnh đó là việc sử
dụng các kỹ thuật dạy học hỗ trợ.
1.2. Cơ sở lý luận về văn bản quảng cáo
1.2.1. Khái niệm văn bản quảng cáo
Ra đời từ nhu cầu phát triển kinh tế, quảng cáo từng bước đã khẳng định
sự tồn tại và tầm quan trọng của mình trong xã hội hiện đại. Mới đầu, quảng
cáo chỉ được thực hiện nhằm mục đích tạo ra những văn bản có mục đích giới
thiệu các sản phẩm, các đồ dùng, vật dụng phục vụ cho cuộc sống thường
ngày của con người. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh và mạnh như
hiện nay, quảng cáo cũng đã có sự mở rộng phạm vi sử dụng của nó. Cũng
bởi khả năng thực hiện nhiệm vụ của bản thân trong phạm vi rộng nên khi
nghiên cứu về kiểu văn bản này, ở mỗi lĩnh vực khác nhau thì người ta lại đưa
ra một khái niệm khác để phù hợp với mỗi lĩnh vực
Theo Từ điển tiếng Việt thì: “Quảng cáo là một loại thông tin phải trả
tiền, có tính đơn phương, không dành cho ai, có vận dụng mọi biện pháp và
14
phương tiện thông tin đại chúng nhằm hỗ trợ cho một sản phẩm, một nhãn
hiệu, một xí nghiệp, một mục đích hoặc một tổ chức nào đó… được nêu danh
trong quảng cáo” . Cũng nghiên cứu về quảng cáo, Hiệp hội Quảng cáo Hoa Kỳ
(AAA) cho rằng: “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ
thấy đó là một cách thức giao tiếp trong môi trường đặc biệt, nhằm phục vụ
nhu cầu của một nhóm người trong xã hội - các doanh nghiệp. Cũng vì thế,
căn cứ vào mục tiêu marketing của doanh nghiệp mà quảng cáo có những đặc
điểm như sau:
Đặc trưng giá trị hóa sản phẩm: Đặc trưng cơ bản nhất của các văn bản
quảng cáo chính là đối tượng được giới thiệu– các mặt hàng, các sản phẩm
được quảng bá để kinh doanh. Và để thu hút được người tiếp nhận, rõ ràng,
việc quảng cáo phải hướng tới các nhiệm vụ: tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn, khẳng
định sự uy tín, vị thế và hình ảnh của doanh nghiệp. Vì thế, đây chính là đặc
điểm cơ bản và quan trọng của hoạt động quảng cáo. Ví dụ: Để quảng cáo sản
phẩm sữa tươi TH True Milk thì nhà sản xuất, nhà kinh doanh cần phải quảng
cáo và muốn sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì việc quảng cáo cần phải
hấp dẫn và lôi cuốn bằng cách lập những kênh quảng cáo riêng hoặc cho chạy
quảng cáo trên những kênh truyền hình với nội dung ngắn gọn súc tích nhưng
phải đảm bảo tính lôi cuốn hấp dẫn thông qua hình ảnh và video
Cung cấp thông tin về sản phẩm: Mục đích của hoạt động quảng cáo
giới thiệu để quảng bá những sản phẩm mới nhằm thu hút người tiếp nhận, từ
đó tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp. Có thể nói,
quảng cáo là con đường nhanh nhất, tiện nhất và hiệu quả nhất đi đến với một
lực lượng tiếp nhận đông đảo nhất. Vì thế, nó chính là công cụ hiệu quả nhất
mà các doanh nghiệp luôn suy nghĩ và thực hiện trong chiến lược giới thiệu
các thông tin sản phẩm. Đối với việc giới bất kì một sản phẩm nào, việc cung
cấp các thông tin về nó là điều vô cùng cần thiết. Bởi đó chính là cách nhà
quảng cáo nêu được giá trị, tính năng, công dụng của đối tượng được quảng
bá, vừa khẳng định và giới thiệu một cách gián tiếp về doanh nghiệp. Vì thế
trong quá trình tuyên truyền, một trong những nội dung không thể thiếu được
chính là việc chia sẻ những hình ảnh, truyền đạt thông tin sản phẩm sẽ nằm
trong hoạt động của quảng cáo. Mục đích cuối cùng của hoạt động này chính
16
Mở rộng mạng lưới phân phối: Quảng cáo là hoạt động gần cuối trong
chuỗi tạo và kinh doanh sản phẩm. Mục đích của việc thực hiện hoạt động
17