Phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 6 tuổi thông qua tập thơ “góc sân và khoảng trời” của trần đăng khoa - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

ĐỖ THỊ THU HIỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ BIỂU CẢM
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TẬP THƠ
“GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI”
CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Hà Nội, 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

ĐỖ THỊ THU HIỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ BIỂU CẢM
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TẬP THƠ
“GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI”
CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học


DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

GDMN : Giáo dục mầm non
VD

: Ví dụ

LQVVH : Làm quen với văn học
GDTM : Giáo dục thẩm mĩ
GV

: Giáo viên



: Hoạt động

KPKH : Khám phá khoa học
KQ

: Kết quả

MN

: Mầm non

MTXQ : Môi trường xung quanh
MGL


1.1.2. Đặc điểm phát triển vốn từ biểu cảm của trẻ 5 - 6 tuổi......................... 17
1.1.2.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vốn từ biểu cảm của trẻ....... 17
1.1.2.2.Khái quát vốn từ biểu cảm của trẻ mẫu giáo ...................................... 22
1.1.2.3.Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ ..................................................... 26
1.1.2.4.Biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm ................................................. 27


1.1.3. Về tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa .... 31
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 33
1.2.1. Chương trình GDMN và việc phát triển vốn từ cho trẻ........................ 33
1.2.2. Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ ở trường mầm non....................... 34
1.2.2.1. Mục đích điều tra ............................................................................... 34
1.2.2.2. Đối tượng, phạm vi, thời gian điều tra............................................... 34
1.2.2.3. Nội dung điều tra................................................................................ 34
1.2.2.4. Phương pháp điều tra ......................................................................... 34
1.2.2.5. Phân tích kết quả điều tra................................................................... 36
Kết luận chương 1 ........................................................................................... 41
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ BIỂU CẢM
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA TẬP THƠ “GÓC SÂN VÀ
KHOẢNG TRỜI” ........................................................................................... 42
2.1. Hệ thống từ biểu cảm trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” ............... 42
2.2. Biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5-6 tuổi thông qua tập
thơ “Góc sân và khoảng trời”.......................................................................... 43
2.2.1. Cơ sở đề xuất biện pháp ........................................................................ 43
2.2.1.1. Căn cứ vào đặc điểm phát triển của trẻ 5 - 6 tuổi .............................. 43
2.2.1.2. Căn cứ vào nội dung giáo dục ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi................ 44
2.2.1.3.Căn cứ vào mục đích của việc sử dụng tập thơ “Góc sân và
khoảng trời” để phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi......................... 44
2.2.2. Tiêu chí lựa chọn các bài thơ trong tập thơ “Góc sân và khoảng
trời”.................................................................................................................. 44

tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường tự
lập”. Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Người
luôn nhắc nhở, quan tâm và giao nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em cho các
ngành, đoàn thể. Trong Di chúc trước lúc đi xa, Người căn dặn: “Bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết” [13].
Nhận thức được điều này, ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung
luôn thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh và trách nhiệm của mình trong nuôi dưỡng
- chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ở tất cả các cấp học từ mầm non đến đại
học.
Đặc biệt, bậc học mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục
quốc dân, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Hiểu
được vai trò, tầm quan trọng của giáo dục mầm non, Đảng, nhà nước luôn
dành cho bậc học mầm non những gì tốt nhất, thể hiện trước hết ở việc xác
định rõ ràng mục tiêu giáo dục mầm non “ Giúp trẻ em phát triển về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ em vào lớp Một; hình thành và phát triển ở trẻ em những
chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ
năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những
khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho
việc học tập suốt đời”[22]. Để đảm bảo các mục tiêu đã đặt ra, phải kể đến vai
trò của ngôn ngữ bên cạnh các mặt như: trí tuệ, thể chất, tình cảm, thẩm mĩ…

1


Với xã hội loài người nói chung và với trẻ em nói riêng, ngôn ngữ đóng
vai trò vô cùng quan trọng. Ngôn ngữ được coi là một hệ thống tín hiệu ,
mang ý nghĩa cá nhân và xã hội, xác lập và vận hành các mối quan hệ giữa
người với người, từ đó thúc đẩy xã hội loài người phát triển theo hướng văn
minh, hiện đại. Ngôn ngữ cũng là điểm đặc biệt phân biệt loài người với tất cả

thân thuộc và đang đổi mới, những con người lao động cần cù, vất vả, một
quê hương gắn bó biết bao với sự nghiệp chiến đấu và xây dựng” . Quê
hương, những con người lao động, cảnh sắc làng quê chính là sợi dây nối tâm
hồn trẻ thơ với nhà thơ Trần Đăng Khoa dù có khác nhau về khoảng cách về
thời gian, về không gian địa lí và về thế hệ thông qua những từ ngữ mang đậm
ý nghĩa biểu cảm. Bởi hẳn trong mỗi chúng ta đều quen thuộc và văng vẳng
đâu đó tiếng gà ò…ó…o, tiếng ếch nhái, tiếng chim; mùi bùi, mùi đất; hình
ảnh mưa qua bốn mùa xuân, hạ, thu đông… Nói như Nguyễn Đăng Mạnh :
“Làng quê đã tạo nên thơ Khoa từ màu sắc đến linh hồn” . Để qua tập thơ này,
chúng ta hoàn toàn tin tưởng có thể phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ mầm
non.
Từ những lí do kể trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển vốn từ biểu
cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần
Đăng Khoa”. Cũng nhờ đó, tôi tích lũy được cho bản thân thêm nhiều kinh
nghiệm hữu ích cho việc chăm sóc - giáo dục trẻ sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non, có rất nhiều công trình mang tâm huyết, sự hiểu biết và đóng góp của các
tác giả, các nhà nghiên cứu đã ra đời và được xã hội ghi nhận
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo” [8] đã đề cập một cách “toàn diện, có hệ thống các vấn


đề khoa học và thực tiễn của tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện trong các lớp
nhà trẻ, mẫu giáo ở nước ta bằng phương pháp tiếp cận hoạt động – nhân
cách, tích hợp”… Bằng sự nghiên cứu dày công các tư liệu khoa học trong và
ngoài nước, tác giả đã đưa ra các biện pháp dạy trẻ nghe và phát âm đúng, ,
phương pháp dạy trẻ đặt câu câu, phương pháp phát triển từ ngữ, cho trẻ làm
quen với các tác phẩm văn chương, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc,
chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết.

của trẻ mầm non, về những phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ. Tuy nhiên,
phát triển vốn từ biểu cảm là một vấn đề mới và chưa có nhiều sự quan tâm.
Cho nên, tôi chọn đề tài “Phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông
qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa”. Với đề tài này
chúng tôi đã tìm được hướng đi riêng, dựa trên sự hiểu biết của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này để đưa ra biện pháp phát triển vốn từ
biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của
Trần Đăng Khoa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các biện pháp phát triển vốn từ biểu
cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần
Đăng Khoa.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Những bài thơ Trần Đăng Khoa viết
cho trẻ em in trong tập “Góc sân và khoảng trời”
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
chúng tôi đề ra các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài


- Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa.
- Thực nghiệm sư phạm phát triển vốn từ biểu cảm cho trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa
Trên cơ sở của ba nhiệm vụ trên, chúng tôi đưa ra kết luận
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp thống kê

vựng là tập hợp tất cả các từ ngữ cố định trong một ngôn ngữ theo một hệ
thống nhất định.”
Hay trong cuốn “Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành” [11], tác giả Lã
Thị Bắc Lý cũng đưa ra định nghĩa ngắn gọn về từ như sau: “ Từ là đơn vị
nhỏ nhất của ngôn ngữ có ý nghĩa và chức năng độc lập tạo câu”
Cho đến nay, các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít, song định
nghĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu được sử dụng phổ biến nhất:


“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những
đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả
ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để
tạo câu”[1].
Với đề tài này, nghiên cứu của chúng tôi đồng ý với nhận định của tác
giả Đỗ Hữu Châu khi tìm hiểu và định nghĩa về từ.
1.1.1.2 Từ vựng
“Từ vựng là tập hợp các từ của một ngôn ngữ.” Như đã biết, trong
ngôn ngữ, bên cạnh các từ còn có các ngữ cố định. Ngữ cố định là những tập
hợp từ có sẵn cố định, bắt buộc và nhỏ nhất để tạo câu như: mắt bồ câu, lá
lành đùm lá rách, nói trộm vía… Ngữ cố định còn gọi là cụm từ cố định, là
những đơn vị tương đương với từ về kết cấu, về ý nghĩa, về mặt sử dụng, có
thể kết hợp hoặc thay thế cho từ để tạo thành câu. Giống như từ, ngữ cố định
cũng là một đơn vị từ vựng. Từ đó, có thể hiểu khái niệm từ vựng như sau:
“ Từ vựng của một ngôn ngữ là tập hợp các từ và các ngữ cố định của
ngôn ngữ đó”
1.1.1.3. Phân loại từ tiếng Việt
Có rất nhiều cách phân loại từ tiếng Việt. Ở nghiên cứu này, chúng tôi
đưa ra các cách phân loại như sau:
- Phân loại dựa vào cấu tạo
- Phân loại dựa vào đặc điểm ngữ pháp

- Khái niệm: Từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức láy toàn bộ (âm đầu
và phần vần) và láy bộ phận âm đầu hoặc phần vần
- Phân loại: Căn cứ vào số lần láy, người ta chia thành láy đôi, láy ba và láy tư
+ Láy đôi:


.) Láy toàn bộ (láy hoàn toàn): xanh xanh,xinh xinh, thanh thanh, đa đa, xa
xa, chang chang...
Láy toàn bộ có 2 biến thể :
Láy toàn bộ có biến thanh VD: đu đủ, nhè nhẹ, khe khẽ…
Láy toàn bộ có biến thanh, vần VD: thiêm thiếp, rừng rực, đèm đẹp…
.) Láy bộ phận: dễ dãi, lanh chanh, mập mạp, lùm xùm, lò dò,liêu xiêu, lênh
khênh…
+ Láy ba: Trong tiếng Việt, loại này xuất hiện không nhiều
VD: sạch sành sanh, tuốt tuồn tuột, tất tần tật…
+ Láy tư:
VD: khấp kha khấp khểnh, lênh kha lênh khênh, khúc kha khúc khích, tích tịch
tình tang…
1.1.1.3.2. Phân loại dựa vào đặc điểm ngữ pháp
Chia từ thành 3 nhóm:
a. Nhóm 1: Thực từ
Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thành
phần câu. Nhóm từ này gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ
a.1 Danh từ:
Danh từ là những từ chỉ sự vật theo nghĩa khái quát (sự vật được hiểu
theo nghĩa khái quát nhất: đồ vật, con vật, cây cối, người, khái niệm…) . Cụm
danh từ được hình thành bởi từ chỉ số lượng ở trước danh từ và từ chỉ định ở
sau danh từ , danh từ là thành tố trung tâm. Danh từ bao gồm:
- Danh từ riêng: Là tên gọi riêng của một người, một địa danh hay một vật.
VD: Thái Bình, Hà Nội, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp,Gia Lai…

Hư từ “ là những từ rỗng nghĩa, tức không có ý nghĩa chân thực, không
nhằm chỉ các sự vật, hiện tượng nhưng có giá trị ngữ pháp, ngữ cảnh ”


Gồm: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ
b.1. Phụ từ
Phụ từ là những từ không thực hiện chức năng định danh, nó chỉ có
chức năng bổ sung một loại ý nghĩa nào đó cho các từ định danh. Phụ từ
chuyên đi kèm với một từ loại nào đó nhằm xác định từ loại cho một từ.
Bao gồm:
- Phụ từ đi kèm danh từ. Là các từ: những, các, mỗi, mọi, một, từng,
- Phụ từ đi kèm động từ. Là các từ : đã, sẽ, đang, sắp, vừa…
- Phụ từ đi kèm tính từ. Là các từ : rất, lắm, quá, hơi…
b.2.Quan hệ từ
Quan hệ từ “ là những từ dùng để biểu thị mối quan hệ bộ phận trong
một câu hoặc trong một đoạn ”
- Phân loại:
+ Cặp quan hệ từ điều kiện - kết quả, giả thiết - kết quả: Hễ... thì, Nếu... thì…
+ Cặp quan hệ nhân - quả: Do... nên, Vì... nên
+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ tăng tiến là: Không chỉ…mà còn, Không
những... mà còn…
+ Cặp quan hệ từ tương phản: Mặc dù...nhưng, Tuy... nhưng,…
b.3.Tình thái từ
Tình thái từ “ là một số từ được thêm vào câu nhằm mục đích tạo ra sắc
thái biểu cảm và tình cảm cho câu nói đó. Việc thêm từ ngữ ngắn gọn vào sẽ
tạo ra thành câu cầu khiến, câu cảm thán.”
- Phân loại: Tình thái từ bao gồm:
+ Tiểu từ tình thái: ạ, nhé…
+ Trợ từ nhấn mạnh: những, chính, cả, chỉ, đến, tận, ngay, đích…
+ Từ cảm thán: ơi, vâng, dạ, ôi, trời ơi, ô, ơ kìa…



dưới nhiều dạng thức: trực tiếp, gián tiếp, có hình ảnh hoặc là ngôn từ thuần
túy”
+ Một định nghĩa khác cho rằng: “Tính biểu cảm trong ngôn ngữ văn
chương, xét từ phía người sáng tác là đặc tính thể hiện những cảm xúc thông
qua những hình tượng nghệ thuật được tạo ra bằng chuỗi ngôn từ của tác
phẩm văn chương; và xét từ phía người thưởng thức là đặc tính gây kích thích
của chuỗi ngôn từ có khả năng khắc hoạ những hình tượng nghệ thuật, làm
dấy lên những cảm xúc ở người thưởng thức, giúp họ có được những tri nhận,
cảm nhận và thức nhận văn chương”
Nói một cách khái quát, trong các bài thơ nói chung và các bài thơ viết
cho trẻ nhỏ nói riêng, nhà thơ luôn đặt tình cảm, cảm xúc của mình vào ngôn
từ, đó có thể là tình cảm gia đình: “Con yêu mẹ bằng ông trời/Rộng lắm
không bao giờ hết” [16]; đó cũng có thể là tình cảm yêu mến cô giáo: “Cần
như hạt muối/Đẹp như hoa rừng/Cô giáo của con/Ai mà chẳng quý” [6]; hay
đó là tình yêu quê hương , bản quán, yêu đất nước đến từ những điều bình dị :
“Ấm nước chè tỏa nóng/Thơm như hương lúa đồng” [9]… Chính những cảm
xúc ấy truyền đến tâm hồn trẻ thơ một cách tự nhiên, gần gũi và hình thành ở
trẻ những cảm xúc, tình cảm đẹp đẽ.
- Các loại cảm xúc được thể hiện qua từ biểu cảm:
+ Định nghĩa cảm xúc :
Ngô Minh Duy cho rằng :
“ Cảm xúc là những thái độ rung cảm của con người với sự vật hiện
tượng có liên quan đến việc thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu cá
nhân. Hay nói một cách khác, cảm xúc là những rung động của con người đối
với hiện thực, trong quá trình tác động tương hỗ với môi trường xung quanh
và trong quá trình thoả mãn nhu cầu” [2]



này. Từ tượng thanh tượng thanh gồm các từ ngữ dùng để mô phỏng theo âm
thanh phát ra trong tự nhiên hoặc âm thanh của con người. Từ tượng hình
gồm các từ gợi tả, mô phỏng theo hình dáng, trạng thái của sự vật [24]. Cả từ
tượng thanh từ tượng hình đều có tác dụng mang lại sự biểu cảm, phong phú,
sinh động cho sự diễn đạt. Đặc biệt trong văn miêu tả từ tượng thanh và từ
tượng hình giúp mọi thứ hiện ra thật tự nhiên, sống động, nhiều sắc thái.Vì
vậy có thể khẳng định các loại từ này tạo nên sự đặc sắc, giá trị nghệ thuật
cho các tác phẩm. Nói về tính biểu cảm mà từ tượng thanh và từ tượng hình
mang lại, có thể kể đến ví dụ sau : Trong bài “Qua đèo ngang”, Bà huyện
Thanh Quan đã miêu tả nỗi nhớ nước thương nhà giữa cảnh đèo cô đơn tĩnh
lặng qua câu thơ: “Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ
mấy nhà/ Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc/ Thương nhà, mỏi miệng cái da
da”. Ở đây tác giả sử dụng từ tượng hình “ lom khom ” để gợi ra sự vất vả,
gian nan của người tiều phu lên núi đốn củi giữa không gian hoang vu chỉ lẻ
tẻ vài căn nhà “ lác đác ”. Đồng thời nhà thơ lại gợi nên sự nhớ nước thương
nhà khắc khoải, da diết qua tiếng chim kêu “ quốc quốc, da da ” - cặp từ
tượng thanh mà chỉ nghe thoáng qua cũng gợi cho con người ta khôn nguôi
lòng nhớ thương tổ quốc, đất nước, quê hương. Tất cả gợi nên nét buồn man
mác trong tâm hồn người thi sĩ.
Vậy mới nói, bộ phận từ tượng hình, tượng thanh đã ẩn ý thể hiện cảm
xúc, tình cảm của nhân vật trữ tình. Đây cũng là một điểm tôi dành nhiều tâm
huyết khi tìm hiểu về tập thơ “Góc sân và khoảng trời ” nhằm phát triển vốn
từ biểu cảm cho trẻ. Tuy vậy, để hiểu tính hình tượng, biểu cảm ẩn sâu sau
lớp ngôn từ đơn thuần, cũng là một vấn đề khá khó đối với trẻ. Xuất phát từ
nhận thức cũng như lứa tuổi của trẻ, tôi nhận thấy trẻ mầm non, nhất là với độ
tuổi lớn nhất là trẻ 5 - 6 tuổi, trẻ tư duy trực quan là chủ yếu ; tưởng tượng và


logic mới đang dần hình thành và phát triển. Nên, trẻ khó hình dung các từ
tượng hình, tượng thanh. Điều này cũng đặt ra thách thức, yêu cầu lớn đối với

Ở trẻ, hệ thống tín hiệu thứ hai được hình thành như sau: từ tháng thứ
6, ở trẻ đã xuất hiện phản xạ có điều kiện với kích thích ngôn ngữ, nhưng
thường kết hợp với những kích thích khác như nụ cười, nét mặt …Do đó, kích
thích này chỉ được gọi là kích thích ngôn ngữ có điều kiện bởi trẻ chưa phân
biệt được từ ngữ với nghĩa tư duy của từ ngữ, mà chỉ phân biệt được âm sắc
với cao độ của giọng nói, tiếng nói. Lúc này, nếu thay đổi hoàn cảnh và hình
dáng của người nói sẽ gây ức chế phản ứng. Ngôn ngữ trực tiếp bắt đầu xuất
hiện khi trẻ 7,8 tháng và mối liên hệ “trực tiếp - ngôn ngữ”. Trẻ nhờ sự giúp
đỡ của người lớn mà có thể giao tiếp với những người xung quanh bằng ngôn
ngữ khi trẻ bước vào 1,5 tuổi. Từ đó vốn từ của trẻ được tăng lên đáng kể.
Trẻ 4 tuổi ngôn ngữ của chúng có thêm các từ mới vì vậy rất phong phú. Do
vậy, trẻ nói đúng ngữ pháp hơn và số lượng các khái niệm được chúng lĩnh
hội cũng tăng hơn. Trẻ có thể dùng ngôn ngữ để đáp lại ngôn ngữ từ khi 5 - 7
tuổi do vốn từ khá nhiều. Lúc này, mối liên hệ “ngôn ngữ - ngôn ngữ” ở trẻ
xuất hiện.
Bộ máy phát âm không thể không nhắc đến khi tạo ra giao tiếp hiệu
quả. Bộ máy phát âm đã có sẵn khi con người sinh ra - đó là một trong những
tiền đề quan trọng nhất ; nếu không có nó sẽ không có ngôn ngữ; nếu nó có
một khiếm khuyết nào đó về mặt cấu tạo (như hở hàm ếch, sứt môi, ngắn lưỡi
…) thì lời nói hình thành hết sức khó khăn. Bộ máy phát âm của con người
khi sinh ra chưa hoàn chỉnh. Giai đoạn mầm non chính là lứa tuổi để hoàn
thiện dần dần bộ máy đó với sự hình thành của răng, sự vận động của môi,
lưỡi, hàm dưới… Cùng với sự lớn lên của trẻ, quá trình đó diễn ra tự nhiên
theo các quy luật sinh học. Mỗi trẻ có sự phát triển ngôn ngữ khác nhau do bộ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status