Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa của chùa hà - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGU

N TH DUNG

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TR
L CH SỬ VĂN HÓA CỦA CHÙA HÀ
(HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
C u

V ệt N

H NỘI – 2019




TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGU

N TH DUNG

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TR
L CH SỬ VĂN HÓA CỦA CHÙA HÀ
(HÀ NỘI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hà Nội, ngày tháng

năm

Sinh viên

Nguyễn Thị Dung


ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, các kết quả nghiên
cứu nêu trong khóa luận đều là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ một công trình nào khác.
Hà Nội, ngày tháng
Sinh viên

Nguyễn Thị Dung

năm


DANH SÁCH VIẾT TẮT
DT

: Di tích

GS

: Giáo sư


1.1.2. Cấu trúc của chùa Việt ......................................................................... 6
1.1.3. Kiến trúc chung của chùa Việt Nam ..................................................... 7
1.2. Những vấn đề về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử
văn hóa......................................................................................................... 11
1.2.1. Di tích lịch sử văn hóa........................................................................ 11
1.2.2. Khái niệm bảo tồn .............................................................................. 11
1.2.3. Các nguyên tắc bảo tồn di tích lịch sử văn hóa................................... 12
1.2.4. Tình hình bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa hiện
nay................................................................................................................ 15
1.3. Hệ thống chùa cầu duyên ở Việt Nam ................................................... 17
1.3.1. Quan niệm về cầu duyên của người Việt............................................. 17
1.3.2. Những ngôi chùa cầu duyên nổi tiếng ở Việt nam ............................... 18
1.3.2.1. Chùa Hà (Cầu Giấy, TP Hà Nội) ..................................................... 18


1.3.2.2. Chùa Duyên Ninh (Hoa Lư, Ninh Bình) ........................................... 19
1.3.2.3. Chùa Phước Hải (Quận 1, TP Hồ Chí Minh)................................... 20
1.3.2.4. Chùa Bát Bửu Phật Đài (Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh)................. 20
1.3.2.5. Chùa Ông (Quận 5, TP Hồ Chí Minh) ............................................. 21
Chương 2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA CHÙA HÀ (HÀ N I)......
23
2.1. Tổng quan về chùa Hà ........................................................................... 23
2.1.1. Vị trí địa lý ......................................................................................... 23
2.1.2. Tên gọi và lịch sử hình thành.............................................................. 24
2.2. Giá trị kiến trúc, lịch sử của chùa Hà (Hà Nội) ...................................... 26
2.2.1. Giá trị kiến trúc .................................................................................. 26
2.2.1.1. Tam quan......................................................................................... 26
2.2.1.2. Nhà Tiền đường ............................................................................... 26
2.2.1.3. Tòa Thượng Điện............................................................................. 26
2.2.1.4. Tòa Phật Điện ................................................................................. 26


N.................................................................................................. 57
TH

H

............................................................................ 59

PHỤ LỤC ........................................................................................................


M

Đ U

1. Lý do chọ đề tài

1


Hà Nội không chỉ là Thủ đô của cả nước, mà còn là địa phương có gần
6000 di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng. Đó là hệ thống đình, đền, chùa,
miếu, am, quán, hội quán, nhà thờ họ, phố cổ, làng nghề… Trong đó, có 1 di
sản văn hóa thế giới, 12 di tích quốc gia đặc biệt, 1.182 di tích cấp quốc gia,
1.202 di tích cấp thành phố, 3.487 di tích chưa xếp
hạng.
Từ sau khi Phật Giáo được du nhập vào nước ta, Phật giáo luôn là một
tôn giáo chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt.
Phật giáo cùng đồng hành suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, có lúc nổi trội và
được coi là quốc giáo cũng có giai đoạn bị chìm lắng nhưng vẫn luôn sống

nên sinh ra chuyện chắp vá, làm mới và phá hỏng di tích. Vì vậy việc bảo tồn
di tích là vô cùng cần thiết.
Từ những lí do trên cùng với sự đam mê, niềm yêu thích của bản thân
tác giả chính vì vậy tác giả quyết định đi vào nghiên cứu và lựa chọn đề tài
“Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của chùa Hà (Hà Nội)”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấ đề
Đầu tiên phải kể đến đó là cuốn sách “Di tích lịch sử - Văn hóa đình chùa Hà” của nhà xuất bản chính trị quốc gia. ách được chia làm 3 phần:
Phần 1 Cứ liệu lịch sử; phần 2 là Đình ối Hà và phần 3 là Chùa Hà và điện
Mẫu. Cuốn sách đã nêu được nhũng nét cơ bản, nổi bật nhất về di tích đình,
chùa Hà vốn linh thiêng của Hà Nội. Tuy nhiên trong cuốn sách lại chưa nhắc
đến các biện pháp để bảo tồn và phát huy giá trị tốt đẹp của chùa Hà.
Tiếp đến là trong luận án TS xã hội học của tác giả Hoàng Thu Hương
“Cơ cấu nhân khẩu xã hội của những người đi lễ chùa ở nội thành Hà Nội
hiện nay: Nghiên cứu trường hợp chùa Quán Sứ và chùa Hà” đã có sự nghiên
cứu về chùa Hà tuy nhiên là thiên nhiều về việc khảo sát thực trạng hành lễ tại
chùa Hà, còn việc nghiên cứu về giá trị kiến trúc, LSVH của chùa Hà thì chưa
được đề cập.
Trong tạp chí nghiên cứu Phật học có bài viết: “Lễ hội chùa Hà” đã
giới thiệu cho độc giả cơ bản về quá trình hình thành, phát triển cũng như là
lễ hội của chùa Hà xưa. Tuy nhiên những giá trị LSVH của chùa Hà cũng
như công tác bảo tồn thì chưa được đề cập đến.
Ngoài ra còn rất nhiều tư liệu, các bài báo trên các trang thông tin điện
tử cũng nhắc đến chùa Hà. Tuy nhiên đề cập nhiều đến việc các bạn trẻ Hà
Thành đến chùa Hà cầu duyên ra sao chứ chưa có những bài viết hay thực sự
đề cập đến vấn giá trị LSVH và công tác bảo tồn chùa Hà.

3


3. Mụ đí


Để hoàn thành đề tài, tác giả đã sử dụng những biện pháp nghiên cứu

4


s
u:Phư
ơng
pháp
thư
viện
Phư
ơng
pháp
phân
tích

tổng
hợp

thuy
ết
Phư
ơng
pháp
quan
sát
Phư
ơng

Từ ngàn xưa trẻ em Việt Nam qua những câu chuyện mẹ kể đã không
còn lạ lẫm với hình ảnh về ông Bụt hiền từ hay hiện ra để giúp đỡ người lành.
Gắn liền với hình ảnh của ngôi chùa là hình ảnh các vị Phật cứu nhân độ thế.
Chùa Phật có mặt ở khắp làng quê Việt Nam. Bởi vậy nên nhân dân có câu
“Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Tìm hiểu về ngôi chùa không phải chỉ
để biết thêm về Phật giáo Việt Nam mà còn là hiểu thêm nhiều mặt của tâm
thức Việt, văn hóa Việt. Bàn về chùa, có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy
nhiên tựu trung lại có những định nghĩa như sau:
“Chùa là một công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng. Chùa
được xây dựng phổ biến ở các nước Đông
và Đông Nam
như Trung
Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và thường là nơi thờ Phật. Tại nhiều nơi, chùa có
nhiều điểm giống với chùa tháp của Ấn Độ, vốn là nơi cất Xá-lị và chôn cất
các vị đại sư, thường có nhiều tháp bao xung quanh. [27]
Chùa còn là nơi tập trung của các sư, tăng, hay ni nếu là chùa nữ) sinh
hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật. Tại nơi này, mọi người kể cả tín đồ
hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay
thực hành các nghi lễ tôn giáo”.
“Chùa chiền” theo Hán - Việt còn có nghĩa là “tư viện”, là một nơi an
trí tượng Phật và là chỗ cư trú tu hành của các tăng ni. Ngày nay trong thực tế
chùa được gọi bằng cả từ Hán - Việt phổ thông như “Tự”, “ uán”, “ m”.
“Chùa là công trình kiến trúc làm nơi thờ Phật”. [28]
Theo ông Võ Văn Tường - Ủy viên ban Văn hóa Trung ương Giáo hội
Phật giáo Việt Nam cho rằng cần định nghĩa rộng hơn về khái niệm chùa đó
là: “Ngôi chùa ở Việt Nam là công trình kiến trúc để thờ chư Phật, Bồ tát,
Thiên Thần, Hộ pháp…; là nơi thờ các vị tổ sư, các vị trụ trì quá cố, nơi thờ

7



điện và nhà bái đường song song với nhau và được nối với nhau bằng một
ngôi nhà gọi là nhà thiêu hương nơi mà sư làm lễ. Có nơi còn gọi gian nhà nối
nhà bái đường với Phật điện là ống muống. Tiêu biểu cho lối cấu trúc này là
chùa Cầu Hội n ; chùa eo Thái ình ...
C ù t e
ểu ộ Cô
ạ Quố
à chùa cấu trúc kiến trúc bên
trong có hình chữ Công 丁 , bên ngoài có hình chữ uốc 丁). Theo nghiên
cứu của các kiến trúc sư, chùa kiểu “nội Công ngoại uốc” là kiểu chùa có hai
hành lang dài nối liền nhà tiền đường ở phía trước với nhà hậu đường có thể
là nhà Tổ hay nhà Tăng ở phía sau làm thành một khung hình chữ nhật
bao quanh lấy nhà thiêu hương, nhà thượng điện hay các công trình kiến trúc
khác

8


ở giữa. ố cục mặt bằng chùa có dạng phía trong hình chữ Công 丁), còn phía
ngoài có khung bao quanh như chữ khẩu 丁 hay như ở chữ uốc 丁).
Đây là các dạng bố cục của các công trình kiến trúc chính. Ngoài ra,
trong chùa còn có những ngôi nhà khác như nhà Tổ nơi thờ các vị sư từng trụ
trì ở chùa nay đã tịch , hoặc nhà Tăng nơi ở của các nhà sư và một số kiến
trúc khác như gác chuông, tháp và tam quan.
ết cấu chùa theo kiểu chữ công là phổ biến hơn cả, tất nhiên là có một
số những ngoại lệ tiểu biểu nhất phải kể đến đó chính là chùa ột Cột ở Hà
Nội có hình dạng giống như một bông hoa sen nổi trên mặt nước. Hay tiếp
theo có chùa mới được xây dựng như chùa Vĩnh Nghiêm hai tầng ở thành
phố Hồ Chí Minh mang trong mình cả những nét kiến trúc truyền thống Phật

truyền thống của dân gian ta lại chỉ dùng gỗ và gạch ngói là chủ yếu các vật
liệu có độ bền cao như sắt, thép, xi măng chưa được sử dụng . ột lý do nữa
đó chính là có thể do các nhà sư khi đứng ra gây dựng đã thấm nhuần giáo lý
nhà Phật: ỗi chúng sinh đều bình đẳng, Phật không muốn đứng trên các sinh
linh mà sẽ
cùng với mọi người chia sẻ những khổ đau trên thế giới này.
Những ngôi chùa ở Việt Nam là sự kết hợp hài hòa với môi trường và
cảnh quan xung quanh. vùng trung du, hầu hết các chùa được xây dựng trên
các khu vực núi hoặc lấy núi để làm chỗ dựa. Chẳng hạn như chùa Tây
Phương được tạo dựng trên núi Câu ậu, chùa Phật Tích được xây dựng trên
núi an ha, chùa ạm xây dựng trên núi ạm hoặc chùa Thầy được xây
dựng tựa vào núi Thầy…
Chùa thường được xây dựng ở một gò đất cao cạnh làng, cách xa khu
nhà dân với ý nghĩa phân biệt giữa cõi Phật và cõi trần. ên cạnh chùa
thường thấy hình ảnh ao hồ, đầm sưn, sông nước.
Tam Quan
Trước hết từ bên ngoài để có thể vào được trong bên trong chùa, du
khách phải đi qua cổng tam quan. Trong kinh điển của nhà Phật bất cứ một
con số nào đều có ý nghĩa riêng của nó và tam quan cũng vậy. Tam quan hay
còn gọi là tam môn nghĩa là 3 cửa. Cổng chùa thường xây theo kiểu kiến trúc
này có nghĩa là cổng lớn có 3 cửa đi vào. Tam quan là ranh giới giữa chốn
thanh tịnh và cõi trần thế, bên trong và bên ngoài là hai thế giới khác nhau
hoàn toàn về mặt tâm thức. Từ đó giúp mỗi người có định hướng nhất định về
mặt tâm linh để họ có một tấm lòng hướng thiện hơn. Như vậy, vô hình chung

10


cổng tam quan đã trở thành một sợi dây ngăn cách mở ra hai thế giới vừa tiếp
nối lại vừa đối lập giữa đời và đạo.


11


nhà bái đường có trưng bày một số tượng, bia đá ghi lại sự lịch, quá
trình hình thành của ngôi chùa.
đây còn có thể đặt cả chuông, khánh nếu
như ngoài cổng tam quan không xây gác chuông. giữa bái đường là hương
áng, nơi thắp hương chính thường còn có trải chiếu hoa và đặt những đồ vật
cần thiết cho người tụng kinh như và làm lễ như: õ, kệ, thanh la, kinh… ố
gian của bái đường tùy thuộc vào quy mô của chùa, nhỏ nhất là 3 gian còn
thông thường nhà bái đường ở các chùa sẽ là 5 gian.
C í

Đệ

Qua nhà bái đường là chính điện, giữa bái đường và chính điện là một
khoảng trống không rộng lắm, để cho ánh sang tự nhiên chiếu vào. Đây là nơi
trang nghiêm và là phần kiến trúc quan trọng nhất của một ngôi chùa. Thường
chính điện được bố cục từ thấp đến cao tính từ phía ngoài vào trên các bậc
có bày những pho tượng Phật chủ yếu của điện thờ Phật Việt Nam.
ột số
chùa ở hai bên tả, hữu của Phật điện còn có ban thờ Đức Chúa Ông và Thánh
Tăng.
Dãy hành lang
Chạy song song với chính điện, ở hai bên đó chính là hai dãy nhà hành
lang nối thông chính điện với hậu đường. Có tên gọi là nhà hành lang nhưng
không nhất thiết là hai dãy riêng biệt mà thường là hai gian song song với
gian chính điện, tạo thành một nhà 3 gian.
N


1.2.1. Di tích lịch sử văn hóa
Trước khi tìm hiểu khái niệm di tích LSVH thì cần phải hiểu về di sản
văn hóa. Theo quy định của Luật di sản văn hóa được Quốc hội Nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày
29/6/2001, Luật sửa đổi, bổ sung gồm một số điều của Luật di sản văn hóa
năm 2009 thì di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn
hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Trong khái niệm này, thì di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật
thể và di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm tinh thần
gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan;
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không
ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa
phi vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao
gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia.
Như vậy, di tích lịch sử - văn hóa gọi chung là di tích) là một bộ phận
của di sản văn hóa vật thể.
Căn cứ pháp lý: Điều 4 uật di sản văn hóa 2001
Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học.
1.2.2. Khái niệm bảo tồn
Hiện nay khái niệm về bảo tồn trong giới nghiên cứu Việt Nam vẫn
chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất. Tuy nhiên ta có thể hiểu một cách
chung nhất như sau:
ảo tồn tức là giữ không cho hư hỏng, mất mát.

tồn bảo tang Việt Nam.
Ngày 6/2/2003, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin đã ban hành quyết
định số 05 về việc ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi Di tích
LSVH, danh lam thắng cảnh. Trong điều 5 chương I quy định nguyên tắc bảo
quản, tu bổ và phục hồi DT, gồm 6 mục:
14


1. Chỉ tiến hành bảo quản, tu bổ và phục hồi T trong trường hợp cần
thiết và phải lập thành dự án. Dự án và thiết kế bảo quản, tu bổ và phục hồi
DT hoặc báo cáo tu sửa cấp thiết DT phải được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt.
2. Bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn, sự bền vững
của DT
3. Ưu tiên cho các hoạt động bảo quản, gia cố T trước khi áp dụng
những biện pháp kĩ thuật tu bổ và phục hồi khác.
4. Việc thay thế kỹ thuật hay chất liệu cũ bằng kỹ thuật hay chất liệu
mới phải được thí nghiệm trước để bảo đảm kết quả chính xác khi áp dụng
vào DT.
5. Chỉ thay thế một bộ phận cũ bằng một bộ phận mới của T khi có
đủ những chứng cứ khoa học chuẩn xác và phải có sự phân biệt rõ rang giữa
bộ phận mới thay thế với những bộ phận gốc.
6. Bảo đảm an toàn cho bản thân công trình và khách tham quan.
Trong thực thế, vấn đề bảo tồn di tích LSVH phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác nhau như: nhận thức về lý thuyết và thực hành của các nhà bảo tồn,
trạng thái của di tích, điều kiện môi trường,… nhưng có thể rút ra một số
nguyên tắc chung về bảo tồn di tích LSVH cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện nghiêm túc Luật Di sản văn hóa trong bảo tồn, tôn
tạo Di tích: Nguyên tắc này được tiến hành bằng việc nâng cao vai trò quản lý
của các cơ quan công quyền, năng lực chuyên môn và ý thức trách nhiệm của

tu sửa DT phải nghiên cứu toàn diện mọi mặt DT, nghiên cứu các loại DT
cùng thời với nó để thấy được kiểu dáng thời đại, đó cũng là những tư liệu bổ
sung so sánh bổ ích cho việc lập đồ án tu sửa T”.
Thứ tư, phải chú ý thận trọng đối với các lớp làm thêm sau này nếu
chúng có giá trị lịch sử hoặc giá trị thẩm mỹ. Có nhiều quần thể DT chứa
những công trình được xây dựng và hình thành trong nhiều thời đại khác
nhau. o đó một nguyên tắc đặt ra không vội vàng gạt bỏ mọi yếu tố không
cùng thời đại song có giá trị về mặt khoa học, lịch sử, nghệ thuật, mà phải giữ
gìn để duy trì tỷ lệ thích ứng mà môi trường lịch sử quanh DT, góp phần đảm
bảo tính nguyên gốc.
Thứ năm, khi lập kế hoạch bảo tồn cơ quan chỉ đạo tu sửa DT không
được phụ thuộc vào các nguyên nhân khách quan như: vấn đề hạn chế tài
chính, khả năng kinh doanh từ T sau khi trùng tu… à cần dựa trên cơ sở
nghiên cứu khoa học và tính cấp thiết phải bảo tồn DT.

16


1.2.4. Tình hình bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa hiện
nay
Nhìn chung, trong những năm qua, các hoạt động bảo vệ và phát huy
giá trị các di sản văn hóa Việt Nam đã và đang thu được những thành tựu hết
sức đáng khích lệ. Nhiều di tích LSVH đã được tu sửa, tôn tạo, góp phần làm
phong phú đời sống tinh thần của nhân dân. Đồng thời, còn có những đóng
góp quan trọng trong việc tạo ra những hiệu quả của các hoạt động kinh
doanh phát triển du lịch.
Tuy nhiên, cần thẳng thắn thừa nhận một thực tế là, hiện nay có không
ít di tích LSVH đang dần bị xuống cấp, đang bị biến đổi nghiêm trọng do sự
tác động thường xuyên của thiên nhiên và những sự tác động vô thức và hữu
thức của con người. Ngoài những ảnh hưởng thường xuyên của các yếu tố khí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status