BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG
ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG
ISO 9001: 2015
VŨ THỊ THANH THỦY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hải Phòng - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI
PHÒNG
VŨ THỊ THANH THỦY
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TÍCH HỢP BÊN TRONG CHUỖI
CUNG ỨNG NƯỚC SẠCH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KINH
DOANH NƯỚC SẠCH SỐ 2 HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH
QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60 34 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
Vũ Thị Thanh Thủy – MB03
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên cho phép tôi được cảm ơn Quý Thầy Cô khoa Quản trị kinh doanh
trường Đại học Dân lập Hải Phòng về sự tận tụy, ân cần hướng dẫn, truyền đạt cho học
viên những kiến thức mới mẻ của các môn học trong suốt thời gian học tập ở trường.
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thanh đã
hướng dẫn nhiệt tình và chu đáo cho tôi hoàn thành luận vặn này.
Quản trị kinh doanh là tập hợp các môn học về khoa học quản trị nghiên cứu các
mối quan hệ phát sinh trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Trong
thời kỳ hội nhập và phát triển hiện nay, mỗi doanh nghiệp nói riêng cần lựa chọn cho
mình một hướng đi, một ngành nghề có thể phát huy được lợi thế của doanh nghiệp, tận
dụng được các nguồn lực sẵn có của mình. Nghiên cứu đề tài “Đánh giá mức độ tích
hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh doanh nước sạch
số 2
Hải Phòng” của tôi với mong muốn giúp doanh nghiệp thấy rõ hơn hiệu quả sự phối hợp
của chuỗi cung ứng trong hoạt động sxkd, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tiêu
chuẩn, phân cấp trách nhiệm nhằm đạt các mục tiêu, hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh, thỏa mãn khách hàng cao nhất và giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, phát triển
bền vững trong nền kinh tế cạnh tranh nhiều biến động hiện nay.
Trong quá trình xây dựng đề tài, với các kiến thức mà mình có được, tôi luôn cố
gắng để hoàn thiện đề án một cách tốt nhất. Tuy nhiên, việc tổng hợp và trình bày
những kiến thức giữa lý luận khoa học và thực tiễn cũng như những hạn chế về kiến
thức và chuyên môn nên không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót mà bản thân
chưa thấy được. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các đồng
chí học viên để đề tài luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
5
I.
Tổng
quan
về
quản
trị
chuỗi
cung
ứng
(SCM)
9
1.
2 3
. 53
3
. 84
4
. 25
5
. 15
K
t 7
C
H
Ư
I 5
3.
C
3.
1.
3.
2.
3.
3.
II
.
1.
Á
2.
H
3.
C
K
ết
C
H
3.
1.
3.
2.
3.
3.
3.
4.
C
H
7
2
7
3
7
4
7
8
8
3
8
6
8
7
8
7
9
1
9
1
9
3
1
0
1
0
1
0
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
cao hiệu quả của nó thì phải đánh giá được mức độ tích hợp của chuỗi cung ứng trong
từng trường hợp cụ thể, từng doanh nghiệp cụ thể. Chính vì vậy, trong đề tài này, tôi
muốn tìm hiểu và đánh giá mức độ tích hợp chuỗi ung ứng nước sạch tại doanh nghiệp
tôi đang công tác, từ đó góp phần hoàn thiện hơn công tác quản trị của doanh nghiệp
trong giai đoạn mới. Tích hợp một chuỗi cung ứng bao gồm tích hợp bên trong
(internal integration) và tích hợp bên ngoài (external integration); tuy nhiên do giới hạn
về thời gian và nguồn lực của bản thân nên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu tích hợp
bên trong với Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung
ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh doanh nước sạch số 2 Hải Phòng” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp.
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
doanh
nước
sạch số 2 Hải Phòng ”
Trang 5/113
2. Tổng quan nghiên cứu
Với mỗi doanh nghiệp, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng có liên quan
đến việc đáp ứng yêu cầu khách hàng (phát triển sản phẩm, marketing, vận hành, phân
phối, tài chính, dịch vụ khách hàng…). Quản trị chuỗi cung ứng có ý nghĩa to lớn đối
với mỗi doanh nghiệp bởi vì đó là một chuỗi các hoạt động gắn kết chặt chẽ với nhau
xuyên suốt hầu hết các hoạt động của doanh nghiệp từ việc quyết định mua nguyên
liệu nào, sản xuất như thế nào, phân phối cho ai, số lượng bao nhiêu … Cùng với đó là
một hệ thống thông tin được tổ chức khoa học và cập nhật thường xuyên giúp các bộ
phận phối hợp ăn ý với nhau nhằm phản ứng nhanh nhạy với những biến động
thường xuyên và liên tục của môi trường.
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công
Mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty CP Kinh doanh
nước sạch số 2 Hải Phòng như thế nào?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hoạt động của chuỗi cung ứng trong Công ty Cổ phần
Kinh doanh nước sạch số 2 Hải Phòng; điều tra được tiến hành với các cán bộ quản lý
và toàn thể cán bộ công nhân viên đang làm việc tại công ty.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá mức độ tích hợp bên
trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty CP Kinh doanh nước sạch số 2 Hải Phòng.
+ Về địa bàn nghiên cứu: Công ty CP Kinh doanh nước sạch số 2 Hải Phòng.
+ Thời gian nghiên cứu: Năm 2018
5. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
+ Thu thập số liệu: dựa trên các báo cáo tài chính, kết quả hoạt động của công ty
từ năm 2013-2017
+ Điều tra bằng phiếu hỏi: xây dựng bộ câu hỏi, lấy ý kiến phản hồi về qui trình
hoạt động, sự phối hợp giữa các bộ phận trong công ty tham gia chuỗi cung ứng được
nghiên cứu.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn hữu ích cho doanh nghiệp và cán bộ quản
lý trong việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Kinh doanh
nước sạch số 2 Hải Phòng; từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty trong thời
gian tới.
- Giúp tổ chức, doanh nghiệp nhìn nhận rõ hơn về các quy trình và sự phối hợp
cộng tác của các bộ phận, đơn vị trong thực hiện kế hoạch, mục tiêu của công ty;
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
doanh
nước
sạch số 2 Hải Phòng ”
VÀ TÍCH HỢP CHUỖI CUNG ỨNG
Chương này sẽ cung cấp những khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận về quản lý chuổi
cung ứng trên cơ sở tham khảo một số tài liệu như Tinh hoa quản trị chuỗi cung ứng
(Micheal Hugos, 2010), Quản lý chuỗi cung ứng (Nguyễn Kim Anh, 2006) và một số tài
liệu khác.
I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
1. Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management -SCM)
1.1 . Khái niệm về chuỗi cung ứng
Hiện nay, đã có rất nhiều khái niệm về chuỗi cung ứng được nhắc đến, đây là một
trong số những khái niệm gần gũi và phù hợp nhất với thị trường:
Chuỗi cung ứng (Supply chain) được định nghĩa là một hệ thống các tổ chức, con
người, thông tin, hoạt động và các nguồn lực liên quan tới công tác chuyển sản
phẩm/dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng. Như vậy, chuỗi cung ứng không chỉ bao
gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp mà còn bao gồm cả các công ty vận tải, nhà kho, nhà
bán lẻ và khách hàng của họ. Hoạt động chuỗi cung ứng liên quan đến việc chuyển đổi
các nguyên liệu, tài nguyên thiên nhiên và các thành phần khác thành một sản phẩm
dịch vụ hoàn chỉnh đưa tới khách hàng cuối cùng.
Cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào hiện nay đòi hỏi
các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như
khách hàng của nó. Điều này yêu cầu các doanh nghiệp khi đáp ứng sản phẩm hoặc
dịch vụ mà khách hàng cần phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật
liệu, cách thức thiết kế và đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức
vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn thành và những điều mà người tiêu dùng hoặc
khách hàng cuối cùng thực sự yêu cầu. Hơn nữa, trong bối cảnh cạnh tranh khốc
liệt ở thị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệu sản phẩm mới với chu kỳ sống ngày
càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng đã thúc đẩy
các doanh nghiệp phải tự đầu tư và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng của nó. Điều
này cùng với
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
Trang 10/113
nhằm phân phối hàng hóa được sản xuất đến đúng địa điểm, đúng lúc với đúng yêu cầu
về chất
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
doanh
nước
sạch số 2 Hải Phòng ”
Trang 11/113
lượng, với mục đích giảm thiểu chi phí toàn hệ thống trong khi vẫn thỏa mãn những
yêu cầu về mức độ phục vụ.
Vào năm 1980, cụm từ Quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management –
SCM) được phát triển nhằm diễn tả vai trò và sự cần thiết của hoạt động liên kết các quá
trình kinh doanh chính, từ người sử dụng cuối cùng đến các nhà cung cấp đầu tiên. Các
doanh nghiệp gắn kết với nhau trong một chuỗi cung ứng thông qua việc trao đổi các
thông tin về các biến động của thị trường cũng như năng lực sản xuất. Thông qua việc
chia sẻ các thông tin liên quan, các công ty có thể tối ưu chuỗi cung ứng, từ đó đưa ra
một kế hoạch tổng quát và hiệu quả hơn về hoạt động sản xuất, phân phối; cắt giảm các
chi phí, đồng thời đưa ra các sản phẩm cuối cùng hấp dẫn hơn. Hoạt động tối ưu hóa
chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị còn bao gồm cân bằng chi phí nguyên liệu, tối ưu hóa
dòng sản xuất, công việc hậu cần, phân bổ vị trí, phân tích tuyển phương tiện…
Tất cả các sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua một vài hình thức của
chuỗi cung ứng, có một số thì lớn hơn và một số thì phức tạp hơn rất nhiều. Với ý tưởng
chuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận
duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng. Khi các doanh nghiệp riêng lẻ
luân chuyển trong toàn chuỗi cung ứng.
Trong một ví dụ khác, khi khách hàng mua trực tuyến máy tính Dell, bên cạnh
các thành viên khác, chuỗi cung cấp bao gồm khách hàng. Trang web của công ty Dell sẽ
nhận đơn đặt hàng của khách hàng, nhà máy lắp ráp của Dell và tất cả nhà cung cấp của
Dell. Trang web cung cấp cho khách hàng thông tin về sản phẩm, chủng loại sản phẩm
và tính sẵn sàng của sản phẩm. Khách hàng khi truy cập vào trang web, tìm hiểu thông
tin về sản phẩm, giá cả và thực hiện việc đặt hàng đi kèm với thủ tục và phương
thức thanh toán qua mạng. Sau đó khách hàng sẽ trở lại trang web để kiểm tra tình trạng
của đơn hàng. Các giai đoạn sâu hơn trong chuỗi cung cấp sử dụng thông tin về đơn
hàng của khách hàng để đáp ứng yêu cầu. Tiến trình liên quan đến dòng thông tin thêm,
về sản phẩm và tài chính giữa các giai đoạn khác nhau của chuỗi cung ứng.
Những ví dụ này minh họa rằng khách hàng là thành tố tiên quyết của chuỗi cung
ứng. Mục đích then chốt cho sự hiện hữu của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là để thỏa mãn
nhu cầu khách hàng, trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó. Các hoạt động chuỗi
cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh
toán đơn đặt hàng của họ. Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc
cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và
đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng. Điều quan trọng là phải mường tượng dòng
thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này. Trong thực tế, nhà sản
xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối.
Vì vậy, đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng lưới.
Tính nhất quán thể hiện trong định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng đó chính là
ý tưởng của sự phối hợp và hợp nhất số lượng lớn các hoạt động liên quan đến sản phẩm
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
doanh
nước
sạch số 2 Hải Phòng ”
Trang 13/113
chức của tất cả thành viên tham gia trong chuỗi cung ứng làm cho họ có lợi hơn và
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
doanh
nước
sạch số 2 Hải Phòng ”
Trang 13/113
quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng. Với các công ty có văn hóa tổ chức theo kiểu
truyền thống,
Đề tài: “Đánh giá mức độ tích hợp bên trong chuỗi cung ứng nước sạch tại Công ty Cổ phần Kinh
doanh
nước
sạch số 2 Hải Phòng ”
Trang 14/113
quan tâm đến lợi ích ngắn hạn vì thế hành động theo định hướng thành tích theo
nhiều cách có thể tạo ra xung đột với mục tiêu của việc quản trị chuỗi cung ứng. Quản trị
chuỗi cung ứng nhấn mạnh đến việc định vị các tổ chức theo cách thức giúp cho tất
cả các thành viên trong chuỗi đều được lợi. Vì thế, quản trị chuỗi cung ứng một cách
hiệu quả lệ thuộc rất lớn vào mức độ tin tưởng, sự hợp tác, sự cộng tác và thông tin
một cách trung thực và chính xác.
Các nhà quản trị phụ trách thu mua, sản xuất, hậu cần và vận tải không chỉ phải
được trang bị những kiến thức cần thiết về các chức năng chuỗi cung ứng quan trọng mà
còn phải đánh giá và am hiểu mức độ tương tác và ảnh hưởng của các chức năng này đến
toàn chuỗi cung ứng. Rebecca Morgan, chủ tịch của Fulcrum Consulting Works,
sản xuất; khi họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing, họ gọi chúng là kênh phân
phối; khi họ nhìn ở góc độ tạo ra giá trị, họ gọi chúng là chuỗi giá trị, khi họ nhìn nhận
về cách thức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, họ gọi nó là chuỗi nhu cầu. Ở đây
chúng ta tập trung vào sự dịch chuyển nguyên vật liệu và thuật ngữ chung nhất là chuỗi
cung cấp.
Một câu hỏi thường đặt ra nhưng chưa có câu trả lời rõ ràng liên quan đến việc
phân biệt và làm rõ sự khác nhau giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung cấp. Micheal Porterngười đầu tiên phát biểu khái niệm chuỗi giá trị vào thập niên 1980, biện luận rằng
chuỗi giá trị của một doanh nghiệp bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ
trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi được cấu hình một cách thích hợp. Tuy nhiên khái
niệm chuỗi giá trị cũng đã được phát triển như là một công cụ để phân tích cạnh tranh
và chiến lược. Porter phân biệt các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ. Các hoạt động
chính là những hoạt động hướng đến việc chuyển đổi về mặt vật lý và quản lý sản phẩm
hoàn thành để cung cấp cho khách hàng. Như minh họa ở hình 1-2 dưới đây thì hậu cần
đến và hậu cần ra ngoài là các thành tố quan trọng và then chốt của chuỗi giá trị, đây
chính là yếu tố tạo ra “giá trị” cho khách hàng của doanh nghiệp và mang lại lợi ích tài
chính cho công ty. Việc tích hợp một cách sâu rộng các chức năng sản xuất, bán hàng,
marketing với hậu cần cũng là một tiêu thức quan trọng của chuỗi giá trị. Các hoạt
động bổ trợ cho phép hoặc hỗ trợ các hoạt động chính. Chúng có thể hướng đến việc
hỗ trợ một hoạt động chính cũng như hỗ trợ các tiến trình chính.
Hình 1-2: Chuỗi giá trị chung
Cơ sở hạ tầng của doanh nghi ệp
Quản trị ngu ồn nhân l ực Phát
hoạt
động
bổ trợ
tri ển công ngh ệ
Thu mua
Hậu
liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà
cung cấp.
•
Sản xuất. Các họat động tương ứng với việc chuyển đổi đầu vào thành sản phẩm
hoàn thành, chẳng hạn như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết
bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất.
•
Hậu cần ra ngoài (outbound logistics). Đây là những hoạt động kết hợp với
việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến người mua,
chẳng hạn như quản lý kho bãi cho sản phẩm hoàn thành, quản trị nguyên vật
liệu, quản lý phương tiện vận tải, xử lý đơn hàng và lên lịch trình, kế hoạch.
•
Marketing và bán hàng. Những hoạt động này liên quan đến việc quảng cáo,
khuyến mãi, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ giữa các thành viên
trong kênh và định giá.
•
Dịch vụ khách hàng. Các hoạt động liên quan đến việc cung cấp dịch vụ
nhằm gia tăng hoặc duy trì giá trị của sản phẩm, chẳng hạn như cài đặt, sửa chữa
và bảo trì, đào tạo, cung cấp thiết bị thay thế và điều chỉnh sản phẩm.
Các hoạt động bổ trợ được nhóm thành bốn loại:
•
hoạt động này chính là việc quản trị, lập kế hoạch, tài chính, kế toán, tuân thủ
quy định của luật pháp, quản trị chất lượng và quản trị cơ sở vật chất. Trong các
doanh nghiệp lớn, thường bao gồm nhiều đơn vị hoạt động, chúng ta có thể
nhận thấy rằng các hoạt động này được phân chia giữa trụ sở chính và các
công ty hoạt động. Cơ sở hạ tầng chính là đề tài được bàn cải nhiều nhất về lý
do tại sao nó thay đổi quá thường xuyên đến vậy.
Như đã thảo luận, quản trị chuỗi cung ứng trở nên thịnh hành trong suốt mấy thập
niên vừa qua và tiếp tục là tâm điểm giúp các tổ chức nâng cao khả năng cạnh tranh
trong thị trường toàn cầu. Quản trị chuỗi cung ứng được xem như đường ống hoặc dây
dẫn điện nhằm quản trị một cách hữu hiệu và hiệu quả dòng sản phẩm/nguyên liệu, dịch
vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung cấp của nhà cung cấp xuyên qua các tổ chức/
công ty trung gian nhằm đến với khách hàng của khách hàng hoặc một hệ thống mạng
lưới
hậu cần giữa nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng. Chúng ta có thể xem
chi tiết hơn ở hình 1-3
Hình 1-3: Chuỗi cung ứng tổng quát
Như vậy chúng ta có thể thấy được phần nào mối liên hệ giữa chuỗi cung ứng
và chuỗi giá trị ở hai hình trên.
Cách thức nhằm xem xét sự khác biệt giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng là khái
niệm hóa chuỗi cung ứng như là tập hợp con của chuỗi giá trị. Tất cả nhân viên bên
trong một tổ chức là một phần của chuỗi giá trị. Điều này lại không đúng đối với chuỗi
cung ứng. Các hoạt động chính đại diện cho bộ phận hoạt động của chuỗi giá trị, và đây
chính là những điều ám chỉ đến chuỗi cung ứng. Ở cấp độ tổ chức, chuỗi giá trị là rộng
hơn chuỗi cung ứng vì nó bao gồm tất cả các hoạt động dưới hình thức của các hoạt
động chính và hoạt động bổ trợ. Hơn nữa, khái niệm chuỗi giá trị ban đầu tập trung
chủ yếu vào các hoạt động nội bộ, trong khi chuỗi cung ứng, theo định nghĩa, tập
khi mua máy tính từ công ty Dell phải trả 2.000 USD, đại diện cho doanh thu mà chuỗi
cung ứng nhận được. Dell và các giai đoạn khác của chuỗi cung ứng phát sinh chi phí để
thu thập thông tin, sản xuất bộ phận và sản phẩm, lưu trữ chúng, vận tải, dịch chuyển tài
chính…Sự khác biệt giữa 2.000 USD mà khách hàng trả và tổng chi phí phát sinh trong
chuỗi cung ứng trong việc sản xuất và phân phối máy vi tính đến khách hàng đại diện
cho lợi nhuận của chuỗi cung ứng. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận
được chia sẻ xuyên suốt chuỗi. Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự
thành công của chuỗi cung cấp càng lớn. Thành công của chuỗi cung ứng nên được đo
lường dưới góc độ lợi nhuận của chuỗi chứ không phải đo lường lợi nhuận ở mỗi
giai đoạn riêng lẻ. Vì vậy, trọng tâm không chỉ đơn giản là việc giảm thiểu đến mức
thấp nhất chi phí vận chuyển hoặc cắt giảm tồn kho mà hơn thế nữa chính là vận dụng
cách tiếp cận hệ thống vào quản trị chuỗi cung ứng. Một khi chúng ta đã thống nhất về
cách thức đánh giá sự thành công của chuỗi cung cấp dưới góc độ lợi nhuận của toàn
chuỗi, bước kế tiếp
là tìm hiểu xem nguồn gốc của doanh thu và chi phí. Đối với bất kỳ chuỗi cung
ứng nào, chỉ có một nguồn doanh thu: khách hàng. Tại hệ thống siêu thị bán lẻ G7,
khách hàng mua chất tẩy rửa đơn thuần chỉ là một nguồn của dòng ngân quỹ dương của
chuỗi cung ứng. Tất cả các dòng ngân quỹ khác chỉ là những thay đổi ngân quỹ đơn giản
xảy ra trong chuỗi ở những giai đoạn khác nhau và với những chủ sở hữu khác nhau.
Khi G7 trả
tiền cho nhà cung cấp của nó, nó lấy một phần từ nguồn của khách hàng và chuyển cho
nhà cung cấp. Tất cả dòng thông tin, sản phẩm và tài chính tạo ra chi phí của chuỗi cung
ứng. Vì vậy quản lý một cách hiệu quả các dòng này là yếu tố then chốt làm nên sự
thành công của chuỗi. Quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến việc quản lý các dòng dịch
chuyển giữa và trong suốt các giai đoạn của chuỗi nhằm tối đa hóa lợi nhuận của toàn
chuỗi. Cuối cùng, bởi vì quản tri chuỗi cung ứng tập trung vào việc tích hợp một cách
hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, nhà kho và các cửa hàng, nó bao gồm những hoạt
động của công ty ở nhiều cấp độ, từ cấp độ chiến lược đến chiến thuật và tác nghiệp.
Thập niên 1980 được xem như là thời kỳ bản lề của quản trị chuỗi cung ứng.
Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên sử dụng một cách rộng rãi trên nhiều tờ
báo cụ thể là ở tạp chí vào năm 1982. Cạnh tranh trên thị trường toàn cầu trở nên khốc