TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
---------***--------
TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ 2
TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
ĐẾN TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN
NAY
Nhóm: 5
Lớp: KTE402.1
Khóa: 56
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hồng
Hà Nội, tháng 3 năm 2019
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Khoa học và công nghệ là một bộ phận nguồn lực không thể thiếu trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội, thay đổi bộ mặt của nền kinh tế theo cả chiều rộng và chiều sâu. Ngày nay, khoa
học công nghệ ngày càng tiến bộ và phát triển với tốc độ vũ bão từ đó cũng tạo ra cơ hội lớn để
nay, thế giới đã chứng kiến 3 cuộc CMCN lớn. CMCN lần thứ nhất diễn ra tại Vương quốc
Anh vào cuối thế kỷ XVIII, khi phát minh ra động cơ hơi nước và ứng dụng vào việc cơ
giới hóa các ngành sản xuất. CMCN lần thứ hai bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX ở khu vực
châu Âu và Bắc Mỹ khi năng lượng điện được sử dụng để sản xuất hàng loạt với quy mô
lớn. CMCN lần thứ ba bắt đầu khoảng thập kỷ 70 của thế kỷ XX ảnh hưởng rộng lớn trên
toàn cầu cùng với sự phát triển của máy tính, các thiết bị điện tử và công nghệ thông tin
được sử dụng để tự động hóa sản xuất.
Tới ngày nay, Cuộc CMCN lần thứ 4 (The Fourth Industrial Revolution) đang được
hình thành trên nền tảng của CMCN lần thứ 3, đó là cuộc cách mạng số, đã bắt đầu xuất
hiện từ giữa thế kỷ trước. Cuộc cách mạng này có đặc trưng là sự kết hợp các công nghệ
giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học. Các công nghệ số với
phần cứng máy tính, phần mềm và hệ thống mạng đang trở nên ngày càng phức tạp hơn,
được tích hợp nhiều hơn và vì vậy đang làm biến đổi xã hội và nền kinh tế toàn cầu.
Công nghiệp 4.0 dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ
thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; với những công nghệ đang và sẽ
có tác động lớn như công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công
nghệ tự động hóa, robot…
1.2. Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến nền kinh tế
Đặc trưng lớn nhất của công nghiệp 4.0 là tính kết nối giữa các chủ thể và chu trình
kinh tế nhờ vào sự phát triển của hạ tầng công nghệ thông tin và Internet, mà đỉnh cao là
mạng lưới vạn vật kết nối.
Tính kết nối này đang tạo ra một xu hướng mới thường được gọi với khái niệm
“kinh tế chia sẻ”. Theo đó, các mô hình chia sẻ nguồn lực trực tiếp giữa cá nhân với cá
nhân được hiện thực hóa nhờ nền tảng công nghệ thông tin và Internet, hướng tới mục tiêu
tối ưu hóa nguồn lực toàn xã hội.
Nói một cách khác, công nghiệp 4.0 đang xóa nhòa khoảng cách giữa thế giới thực
với thế giới ảo thông qua các công nghệ tiên tiến, sự đổi mới, sáng tạo không ngừng.
5
Mỗi cuộc chuyển đổi cách mạng công nghiệp đều đặt ra yêu cầu phải thay đổi kỹ
năng để đáp ứng điều kiện làm việc mới và cuộc cách mạng 4.0 cũng không phải ngoại lệ.
6
Tuy nhiên, nếu không có cách tiếp cận đúng và bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới
và khu vực, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về công nghệ, tình
trạng dư thừa lao động kỹ năng thấp và sự bất bình đẳng trong xã hội.
Bên cạnh đó, sự liên kết và gắn kết trong thời đại CMCN 4.0 dẫn tới vấn đề biên giới
mềm, quyền lực mềm, vấn đề an ninh không gian mạng và an ninh phi truyền thống, tội
phạm công nghệ cao xuyên quốc gia, từ đó đòi hỏi cần có sự ứng phó chủ động và kiểm
soát tốt để bảo đảm chủ quyền và an ninh cho người dân và đất nước.
CMCN 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam
cần phải có những đổi mới mạnh mẽ: Xây dựng một hành lang pháp lý chặt chẽ cho nền
kinh tế số, các mô hình sản xuất và dịch vụ thông minh; thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ,
giải pháp về quản trị công quốc gia và phát triển các mô hình sản xuất, dịch vụ thông minh;
phát triển cơ sở hạ tầng kết nối số; đào tạo, bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao; cải
cách hành chính; nâng cao năng lực cạnh tranh...
CHƯƠNG 2.
TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG
NGHIỆP 4.0 ĐẾN TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.1. Thực trạng thị trường lao động Việt Nam
2.1.1. Quy mô thị trường lao động
Theo báo cáo điều tra Lao động việc làm quý 2/2018 của Tổng cục Thống kê, dân
(Tổng hợp từ Báo cáo Lao động việc làm của Tổng Cục Thống kê quý 2/2018)
Tuy nhiên bên cạnh lực lượng lao động đã qua đào tạo, nguồn nhân lực chưa qua
đào tạo chiếm một tỷ lệ khá cao (78%). Đây thực sự là rào cản, hạn chế lớn của nhân lực
Việt Nam trong cuộc CMCN 4.0 này. Đồng thời, những hạn chế này đã đưa đến nhiều hệ
lụy khác như năng suất lao động thấp, năng lực cạnh tranh cũng như giá trị nguồn nhân
lực Việt Nam trên thị trường lao động không cao.
9
Hình 3. Tỷ lệ lực lượng lao động Việt Nam năm 2017 phân theo trình độ chuyên môn
kỹ thuật
(Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo Điều tra Lao động việc làm 2017)
2.1.2. Chất lượng lực lượng lao động
Lao động hiện nay của chúng ta mới chỉ tập trung vào các phân khúc lao động phổ
thông, lao động bậc thấp và bậc trung. Do đó, ở từng nhóm ngành cụ thể vẫn thiếu hụt lao
động chất lượng cao, bản thân các doanh nghiệp cũng phải cạnh tranh gay gắt để thu hút
lao động. Đơn cử như những ngành liên quan đến công nghệ thông tin, công nghệ cao,
công nghệ sạch, công nghệ xanh, công nghệ tái tạo vẫn đang “khát’ nhân lực ở phân khúc
cao. Theo như dự báo, trong vòng 5 năm tới, nước ta sẽ thiếu hụt lượng lớn lao động về
công nghệ thông tin (CNTT), chuyên viên cấp cao khi nguồn nhân lực trong nước mới chỉ
đáp ứng được từ 60-70% nhu cầu của thị trường. Trong báo cáo về mức độ sẵn sàng cho
nền sản xuất trong tương lai do Diễn đàn Kinh tế Thế giới mới đây công bố, Việt Nam
thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng cho cuộc CMCN 4.0, chỉ xếp thứ 70/100 về nguồn
nhân lực và 81/100 về lao động có chuyên môn cao.
Trong 1 số lĩnh vực như tài chính ngân hàng, kiểm toán, nhà hàng khách sạn, chúng
ta cũng vẫn đang rất thiếu đội ngũ chuyên viên cấp cao, CEO, nhà quản lý, phải thuê lao
động nước ngoài. Một số ngành nghề hiện nay có nhu cầu lớn nhưng các trường trong
nước lại chưa thể đào tạo như tự động hóa về máy học, xử lý số lớn…
thu ứng dụng, trình độ khoa học công nghệ khi tham gia hội nhập.
Nghiên cứu của Đại học Oxford và Tập đoàn tư vấn McKensey đã đưa ra dự báo
50% công việc tại các nước phát triển sẽ được thay thế bởi các quy trình tự động hóa trong
15 năm tới. Tỷ lệ này sẽ còn cao hơn ở các nước đang phát triển như Việt Nam, vì giá trị
gia tăng của lực lượng lao động trong nước hiện rất thấp so với mức trung bình của thế
giới. “Những ưu thế về lực lượng lao động trẻ dồi dào và chi phí thấp của Việt Nam sẽ
không còn là thế mạnh”.
Ngoài những tác động đa chiều, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách
mạng công nghiệp 4.0) đã, đang làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu lao động và thị trường
lao động. Các hệ thống tự động hóa sẽ thay thế dần lao động thủ công trong toàn bộ nền
kinh tế, máy móc và trí tuệ nhân tạo thay thế sức người, nhu cầu sử dụng nhân lực trình độ
cao tăng lên trong khi nhu cầu sử dụng lao động kỹ năng thấp ngày càng giảm. Điều này sẽ
tạo áp lực lớn đối với thị trường lao động, các quốc gia đang phát triển sẽ đối mặt với tình
trạng dư thừa lao động và gia tăng thất nghiệp. Theo dự báo, “trong một số lĩnh vực, với sự
xuất hiện của rô-bôt, số lượng nhân viên sẽ giảm đi còn 1/10 so với hiện nay, theo đó, 9/10
nhân lực còn lại sẽ phải chuyển nghề hoặc thất nghiệp. Lao động giá rẻ không còn là lợi
thế cạnh tranh của các thị trường mới nổi ở khu vực Mỹ La-tinh và châu Á. Đặc biệt, cuộc
11
cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp
mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được
trang bị những kỹ năng mới - kỹ năng sáng tạo cho nền kinh tế 4.0.
2.2.2. Thách thức thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, nhạy bén với sự
phát triển không ngừng của công nghệ
CMCN 4.0 yêu cầu nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao, trong khi đó,
nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện nay lại thiếu hụt cả về số lượng và kỹ
năng tay nghề. CMCN 4.0 là cuộc cách mạng số nhưng nhân lực chất lượng cao trong các
đào tạo lại mà còn là đào tạo mới.
12
Tốc độ thay đổi trong giáo dục cũng đang gia tăng. Người ta ước tính rằng gần 50%
kiến thức môn học trong năm đầu tiên của 4 năm học kỹ thuật của một sinh viên sẽ trở nên
lỗi thời khi ra trường.
Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đánh giá, với cuộc cách
mạng này, những ngành gắn với lao động thủ công sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, tiếp theo là
các ngành gắn với quá trình tự động hóa. Ông Thiên nhận định thêm, nguy cơ gần nhất có
thể thấy là ngành lái xe. Theo đó, trước tiên các lái xe taxi có thể bị loại khỏi cuộc chơi
trong khoảng 20 năm tới khi những loại xe ô tô tự động xuất hiện ngày càng nhiều. Còn
với ngành lắp ráp điện tử, rô-bốt cũng sẽ dần thay thế. Chính vì vậy mà vấn đề thách thức
là sự chuyển mình nhanh chóng theo sự thay đổi của vòng quay công nghệ.
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NHẰM
HẠN CHẾ TÁC
ĐỘNG TIÊU CỰC
CỦA CUỘC CÁCH
MẠNG CÔNG
NGHIỆP 4.0 ĐẾN
TÌNH TRẠNG THẤT
NGHIỆP CỦA VIỆT
NAM
3.1. Chủ động đón đầu xu thế và yêu cầu của thị trường lao động
Vòng quay công nghệ chắc chắn sẽ còn tiếp diễn liên tục không ngừng nghỉ. Công
nghệ 4.0 ngày hôm nay mai sau có thể là 5.0…Chính vì thế áp lực thích ứng nhanh với sự
thay đổi của công nghệ cũng như đón đầu xu thế và yêu cầu của thị trường chính là chiếc
Dự báo nhu cầu lao động (quy mô, cơ cấu, chất
Xây dựng kế hoạch, chiến lược
Yếu tố ảnh hưởng
Nhu cầu lao động
Đây là nội dung cần được đặc biệt quan tâm, bởi cuộc CMCN 4.0 sẽ có tác động rất
lớn tới cơ cấu của nền kinh tế, khả năng suy giảm, thậm chí mất đi của nhiều ngành nghề
cũng như sự xuất hiện mới của những ngành nghề trong tương lai là hoàn toàn có thể xảy
ra, điều này sẽ dẫn tới những thay đổi rất lớn trong cơ cấu việc làm.
Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động đã phối hợp với trường
Đại học Maryland (Hoa Kỳ) và Trường Đại học kinh tế quốc dân áp dụng các mô hình dự
báo cung - cầu lao động, xây dựng mô hình và dự báo lực lượng lao động, nhu cầu việc
làm theo nghề đến năm 2020. Trung tâm dự báo ngắn hạn hàng năm về việc làm theo nghề,
xây dựng biểu nghề cho từng tỉnh, thành phố và cả nước; đánh giá mức độ cung đáp ứng
cầu lao động trong những năm tới; tham gia tổ chức thu thập thông tin, xây dựng và quản
lý cơ sở dữ liệu thị trường lao động; quản lý và vận hành cổng thông tin điện tử việc làm,
báo cáo đánh giá hàng năm xu hướng việc làm…”
Định hướng tăng cường công tác dự báo thị trường lao động được đặt ra là: Hoàn
thiện mô hình dự báo dài hạn và ngắn hạn phù hợp với điều kiện Việt Nam; hoàn thiện hệ
thống thông tin thị trường lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thị trường lao động
đáp ứng yêu cầu phân tích và dự báo; giao nhiệm vụ cho các Trung tâm giới thiệu việc làm
14
thực hiện nhiệm vụ dự báo thị trường lao động phục vụ xây dựng chiến lược, kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
học mà phải gắn rất chặt với môi trường kinh doanh, với thực tiễn đặt hàng của xã hội…
Nhà trường cũng cần trang bị cho học viên, nghiên cứu sinh các kỹ năng cần thiết
như: giao tiếp, nghiên cứu tài liệu nước ngoài, sử dụng công nghệ thông tin, sự sáng tạo,
thích nghi, nắm bắt được xu thế phát triển của xã hội… nhằm đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ
giữa đào tạo với sử dụng, đáp ứng yêu cầu đang đặt ra. Việc lựa chọn nguồn đi đào tạo, bồi
dưỡng không chỉ đặt lên hàng đầu tiêu chí về nhận thức mà còn phải rất coi trọng đến các
vấn đề ngoại ngữ, tin học, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực lãnh đạo, quản
lý.
15
Đặc biệt, nhà trường cần chủ động kết nối với các doanh nghiệp để tạo cơ hội và
định hướng cho sinh viên nỗ lực phấn đấu vừa hock vừa thực tập, cọ sát với môi trường
thực tế ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Bên cạnh đó có những hội chợ việc làm
do DN và nhà trường tổ chức, buổi gặp mặt chia sẻ kinh nghiệm với các chuyên gia trong
lĩnh vực đào tạo, những thế hệ đi trước đã và đang hoạt động tại các DN để mang tới cho
sinh viên những kiến thức thực tế và định hướng nghề nghiệp kịp thời.
3.4. Đào tạo lại lao động phổ thông có trình độ chuyên môn thấp
Để tận dụng tốt thời cơ và vượt qua những nguy cơ, thách thức từ cuộc Cách mạng
công nghiệp 4.0, vấn đề khai thác nguồn lực con người, nhất là xây dựng, phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao, cụ thể là đào tạo lại lao động phổ thông có trình độ chuyên môn
thấp là vấn đề đang đã được đặt ra đối với Việt Nam. Đối với Việt Nam, từ trước đến nay,
nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào các ngành sử dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên
thiên nhiên, trình độ của người lao động còn lạc hậu. Đây là một trong những thách thức
lớn nhất khi đối diện với cuộc CMCN 4.0.
Để biến những thách thức thành cơ hội, người lao động sẽ cần những kỹ năng mới để
có thể tìm được cơ hội việc làm. Về đào tạo nghề: Đào tạo, chuyển hướng cho một bộ phận
bị mất việc do áp dụng công nghệ mới; phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các trường
nào cho nguồn nhân lực tương lai đang ngồi trên ghế nhà trường? Sự chủ động, khả năng
thích ứng và học hỏi không ngừng sẽ là chiếc chìa khóa cho nguồn nhân lực? Để làm chủ
công nghệ, đứng vững trong dòng chày không ngừng ấy, Việt Nam sẽ phải nỗ lực hơn nữa
để nâng cao “chất” trong nguồn nhân lực chứ không thể dựa vào “ lượng” như trước đây
nữa.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
• Ban Chấp hành Trung ương (2016), Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 1/11/2016 về
•
một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng
cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế;TS.
Chu Thị Bích Ngọc - Đại học Kinh tế Quốc dân.
Chính phủ (2017), Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/09/017 về đào tạo, bồi
•
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.
Thủ tướng Chính phủ ( 2011), Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 phê
duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020
• Tài liệu Hội nghị khoa học “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ
•
cách mạng công nghiệp 4.0” năm 2018
Tạp chí tài chính ( />
•