(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển cây nhãn tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La - Pdf 56

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI HOÀNG DŨNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY NHÃN
TẠI HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2019


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI HOÀNG DŨNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY NHÃN
TẠI HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 8 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Trần Ngọc Ngoạn

THÁI NGUYÊN - 2019


cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy, cô giáo,
gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 02 năm 2019
Học viên
Bùi Hoàng Dũng


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ vi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SĨ ............................................................. vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 2
4. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 2
5. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn ............................... 3
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI............................................ 4
1.1.

Cơ sở lý luận ......................................................................................... 4

1.1.1. Cây ăn quả ............................................................................................. 4
1.1.2. Cây Nhãn (Dimocarpus longan) ........................................................... 6


iv
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp............................................... 31
2.3.3. Phương pháp tổng hợp thông tin......................................................... 32
2.4.

Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu .............................................................. 34

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 34
3.1.

Thực trạng sản xuất và tiêu thụ nhãn trên địa bàn huyện Sông Mã ... 34

3.1.1. Tình hình sản xuất nhãn ...................................................................... 34
3.1.2. Thực trạng sản xuất nhãn trên địa bàn huyện Sông Mã ..................... 35
3.1.3. Tình hình thu hoạch, tiêu thụ và chế biến nhãn .................................. 39
3.2.

Nghiên cứu, phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển
cây nhãn tại huyện Sông Mã ............................................................... 42

3.2.1. Đặc điểm của các hộ trồng nhãn ......................................................... 42
3.2.2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc nhãn tại các hộ điều tra .......................... 44
3.2.3. Tình hình sâu bệnh hại nhãn tại các hộ điều tra ................................. 48
3.3.

Đánh giá hiệu quả sản xuất cây nhãn tại các hộ điều tra .................... 50

3.4.


: Hợp tác xã


vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.

Diện tích và sản lượng cây ăn quả trên địa bàn huyện ............... 34

Bảng 3.2.

Diện tích đất trồng nhãn huyện Sông Mã giai đoạn 2016 - 2018 ... 36

Bảng 3.3.

Diện tích, năng suất, sản lượng nhãn tại huyện Sông Mã giai
đoạn 2016 - 2018 ........................................................................ 37

Bảng 3.4.

Một số đặc điểm của các hộ trồng nhãn ..................................... 43

Bảng 3.5.

Đặc điểm vườn nhãn tại các hộ điều tra ..................................... 44

Bảng 3.6.

Tình hình sử dụng phân bón cho nhãn........................................ 46


xuất nhãn đạt hiệu quả, nâng cao thu nhập cho các nông hộ sản xuất nhãn trên
địa bàn huyện Sông Mã.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra, thu thập thông tin từ các cơ quan chức năng; khảo sát, lấy
thông tin, số liệu từ thực địa thông qua phỏng vấn, điều tra bằng bảng hỏi.
- Áp dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học để xử lý số liệu
và đánh giá kết quả đảm bảo yêu cầu khách quan và độ chính xác cho phép với
sự hỗ trợ của phần mềm Exel, SPSS.
7. Kết quả nghiên cứu chính
- Tình hình và thực trạng sản xuất nhãn trên địa bàn huyện Sông Mã,
diện tích, sản lượng nhãn trong các năm 2016, 2017, 2018.
- Đặc điểm các hộ trồng nhãn; kỹ thuật trồng và chăm sóc; tình hình sâu
bệnh hại nhãn; tình hình thu hoạch, bảo quản, chế biến nhãn.
- Đánh giá hiệu quả sản xuất nhãn trên 1 ha: chi phí vật tư, giá trị công
lao động, sản lượng nhãn hằng năm, giá bán và lợi thuận thu được trong việc
sản xuất nhãn.
- Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc phát triển sản xuất
nhãn. Từ đó, đưa ra mục tiêu, giải pháp để phát triển sản xuất đạt hiệu quả, đem
lại thu nhập cao cho người nông dân.


viii
8. Kết luận chủ yếu của luận văn
- Nhãn khá dễ trồng, không đòi hỏi kỹ thuật quá cao, là loại hoa quả có
giá trị dinh dưỡng và hương vị thơm ngon nên rất có tiềm năng phát triển tai
huyện Sông Mã nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung. Năng suất và sản lượng
nhãn tăng nhanh qua các năm, mang lại thu nhập ngày càng tăng cho các hộ
trồng nhãn.
- Trình độ kỹ thuật sản xuất nhãn chưa đồng đều, một số hộ còn mang
nặng tập quán sản xuất cũ, đội ngũ cán bộ kỹ thuật chưa nhiều, chưa đáp ứng

Đông y chữa các chứng bệnh hay quên, thần kinh kém, suy nhược, hay hoảng
hốt, khó ngủ... Những năm gần đây sản phẩm nhãn chiếm vị trí quan trọng trong
sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế của tỉnh Sơn La nói chung và của
huyện Sông Mã nói riêng. Cây nhãn đem lại thu nhập cao cho đồng bào các dân
tộc trong vùng đồng thời đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa
phương.
Sông Mã có điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi cho cây nhãn sinh trưởng
và phát triển tốt. So với những cây trồng khác cây nhãn là cây trồng cho thu
nhập chủ yếu của người dân trong huyện. Theo đánh giá sơ bộ về hiệu quả kinh


2
tế của huyện Sông Mã thì cây nhãn đem lại thu nhập tương đối cao và ổn định
so với cây trồng khác. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng quả chưa thực sự cao
so với tiềm năng thế mạnh của địa phương bởi gần đây do ảnh hưởng của khí
hậu toàn cầu, suy thoái rừng đầu nguồn, giá cả nhiều lúc bấp bênh. Mặt khác
người dân sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa mạnh dạn đầu tư, cây nhãn mới chỉ phát
triển ở một số xã chứ chưa mở rộng ra toàn huyện.
Từ chính những lý do trên chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Đánh
giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển cây nhãn tại huyện Sông Mã,
tỉnh Sơn La” góp phần đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả của việc sản xuất
nhãn đồng thời thấy được những tồn tại trong sản xuất từ đó đưa ra một số giải
pháp nhằm phát triển sản xuất nhãn đạt hiệu quả cao.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm về nhãn trên địa bàn
huyện Sông Mã.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi trồng cây nhãn trên địa bàn
huyện Sông Mã qua nghiên cứu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình
sản xuất nhãn của các nông hộ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất nhãn đạt hiệu quả

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cây ăn quả
1.1.1.1. Vị trí cây ăn quả trong kinh tế nông nghiệp hiện nay
Cây ăn quả là các loại cây trồng hoặc quả rừng mà trái cây được dùng
làm thức ăn riêng biệt hoặc ăn kèm. So với cây lương thực là nguồn cung cấp
chính về năng lượng và chất bột cacbohydrat trong khẩu phần thức ăn thì cây
ăn quả là nguồn dinh dưỡng quý cho con người về chất khoáng, đặc biệt nhiều
vitamin nhất là các vitamin A và vitamin C rất cần cho cơ thể con người. Tùy
theo nguồn gốc, xuất xứ và vùng sinh thái mà có thể chia ra cây ăn quả nhiệt
đới, cây ăn quả cận nhiệt đới, cây ăn quả ôn đới...
Lịch sử loài người cho thấy rằng ngay từ xa xưa trái cây đã là nguồn thức
ăn có sẵn trong tự nhiên của con người nguyên thuỷ. Giá trị dinh dưỡng và sinh
tố của các loại quả đã khiến chúng được con người sử dụng ngày càng nhiều
trong cuộc sống hàng ngàn năm nay.
Do giá trị dinh dưỡng và hương vị phong phú mà các loại hoa quả và rau
quả nói chung là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống con người
và mức tiêu thụ ngày càng tăng.
1.1.1.2. Vai trò của sản xuất cây ăn quả
Cây ăn quả là loại cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao.
Trong những năm gần đây, cây ăn quả góp phần tích cực vào việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng nông nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo môi
trường sinh thái nhất là các tỉnh trung du miền núi. Trong xu thế phát triển kinh
tế - xã hội hiện nay, khi mà vấn đề lương thực cơ bản đã được giải quyết, đời
sống nông dân được cải thiện thì nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm quả ngày càng
cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Có thể nói rằng cây ăn quả có vai trò hết sức
to lớn đối với con người cụ thể là:


5

6
thôn, về cơ bản đã đưa nước ta ta thoát khỏi tình trang nghèo nàn, lạc hậu, xây
dựng một nền nông nghiệp hiện đại, văn minh. Đời sống của nông dân được
nâng lên, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị trên một số mặt đáp ứng được nhu cầu
của người dân nông thôn. Bên cạnh đó còn không ít những hạn chế như: tệ
nạn xã hội, phân hoá giàu nghèo... ngày càng gia tăng. Một trong những vấn
đề rất được quan tâm đó là ô nhiễm môi trường sinh thái. Sử dụng một cách
bất hợp lý thuốc trừ sâu, phân bón đã làm cho tài nguyên đất, nước, không khí
bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Việc chuyển dịch cơ cấu giống
cây trồng sang trồng những giống cây vừa mang lại hiệu quả kinh tế, ít ảnh
hưởng đến môi trường là một hướng đi mới của nước ta. Trong những năm
gần đây những mô hình sản xuất cây ăn quả không những đã mang lại hiệu
quả về mặt kinh tế mà còn đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, hạn chế sâu
bệnh hại, duy trì độ phì nhiêu màu mỡ của đất, không khí trong lành.
1.1.2. Cây Nhãn (Dimocarpus longan)
1.1.2.1. Nguồn gốc
Nhãn có tên khoa học là Dimocarpus longan là loài cây nhiệt đới lâu năm
thuộc họ Bồ hòn, có nguồn gốc miền nam Trung Quốc. Loài này còn được gọi
là quế viên trong tiếng Trung, lengkeng trong tiếng Indonesia, mata kucing
trong tiếng Mã Lai. Đây là một loại trái cây điển hình của vùng nhiệt đới thuộc
thân gỗ, sống lâu. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nhãn)
Cây nhãn được trồng nhiều ở Việt Nam, miền nam Trung Quốc, Thái
Lan, Ấn Độ và Indonesia. Cây cao 5-10 m. Vỏ cây xù xì, có màu xám. Thân
nhiều cành, lá um tùm xanh tươi quanh năm. Lá kép hình lông chim, mọc so le,
gồm 5 đến 9 lá chét hẹp, dài 7-20 cm, rộng 2,5-5 cm. Mùa xuân vào các tháng
2, 3, 4 ra hoa màu vàng nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành hay kẽ lá, đài 5-6
răng, tràng 5-6, nhị 6-10, bầu 2-3 ô. Quả tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu
như nhẵn. Hạt đen nhánh, có áo hạt màu trắng bao bọc. Mùa quả là vào khoảng
tháng 7-8. Cây nhãn tương đối chịu rét hơn so với các cây cùng họ như vải,




8
người già, cao tuổi. Sách của Hải Thượng Lãn Ông chép lại cũng rất đề cao vị
thuốc từ quả nhãn. Ông cho rằng đây là vị thuốc uống nhiều thì mạnh chí, thông
minh; dùng lâu thì nhẹ mình, trẻ lâu.
1.1.2.3. Đặc tính kỹ thuật của cây nhãn
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hoàng và Lê Xuân Lâm (2010) cho
thấy nhãn có tính thích ứng rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất. Mùa quả là
vào khoảng tháng 7, 8. Kỹ thuật trồng cây nhãn không khó đồng thời cây nhãn
tương đối chịu rét hơn so với các cây cùng họ như vải, đồng thời cũng ít kén
đất hơn. Nhãn là cây trồng cho năng suất cao tuy nhiên đòi hỏi phải đảm bảo
kỹ thuật từ khâu chuẩn bị đất trồng, chăm sóc, bón phân... và phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố khác. Sau đây là một số đặc tính kỹ thuật của cây nhãn.
* Nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Nhiệt độ: Cây nhãn chịu được nóng và lạnh tốt nên được trồng ở các
vùng trong cả nước. Nhiệt độ thích hợp từ 21°C - 27°C.
- Lượng mưa cần cho cây nhãn sinh trưởng và phát triển là
1200mm/năm. Độ ẩm không khí 70 - 80%. Thời kì phân hoá mầm hoa và phát
triển quả cần nhiều nước. Là cây chịu hạn nhưng nếu bị ngập nước từ 3 - 5 ngày
cùng không bị ảnh hưởng như các cây ăn quả khác.Nếu có đủ nước tưới thì nên
trồng vào cuối mùa mưa, khoảng tháng 10 - 11 vì đến mùa nắng có đầy đủ ánh
sáng cây sẽ phát triển tốt hơn. Nếu trồng vào mùa mưa, khoảng tháng 4 - 5 thì
cần chú ý thoát nước vì nếu mưa nhiều đất bị lèn... nhãn bị chết do nghẹt rễ.
- Ánh sáng: Cây cần đủ ánh sáng, nhưng không ưa ánh sáng mạnh và
chịu được bóng râm.
- Đất: Cây nhãn không kén đất nên trồng được trên nhiều loại đất, trong
đó đất phù sa là thích hợp nhất. Bộ rễ nhãn chịu nước kém, nếu bị ngập trong
thời gian dài sẽ bị thối rễ, chết cây. Do đó, muốn trồng nhãn cần chú ý đến việc
bờ bao, cống bọng thoát nước cho nhãn trong mùa mưa lũ. Nên trồng nhãn trên

thấp,...


10
+ Tháp bo: Đây là phương pháp đang được nông dân sử dụng để cải tạo
những vườn nhãn cũ. Thường tháp bo nhãn tiêu da bò hoặc nhãn xuồng lên gốc
long nhãn, sau khi xác định việc tháp bo đã thành công thì tiến hành cắt bỏ toàn
bộ tán cây nhãn long phía trên chỗ tháp. Cây nhãn long 1-2 năm tuổi thì có thể
tháp trực tiếp lên gốc, cây lớn hơn thì tháp lên cành, nhưng không nên tháp ở
vị trí cao và cành lớn vì dễ bị tét, gãy nhánh sau này.
- Cách trồng
Khoảng cách: Nhãn tiêu thường được trồng với khoảng cách 8 - 10m,
nhãn long 6 - 8m. Trong những năm đầu, khi cây chưa giao tán, có thể trồng
xen những cây ngắn ngày như rau, đậu, ổi, đu đủ hoặc trồng nhãn dày hơn với
khoảng cách 4m/cây. Đến khi giáp tán thì tỉa bỏ cây giữa.
Cách trồng: Khoét lỗ trên mô vừa với bầu cây con, nhẹ nhàng xé bỏ bọc
nylon rồi đặc bầu cây vào lỗ lấp đất lại vừa khuất mặt bầu, ém đất xung quanh
gốc, cắm cọc để buộc cây con vào (để tránh rễ bị lung lay dễ làm đứt rễ, cây
con phát triển kém, nếu đứt nhiều rễ, cây sẽ chết) và tưới đẫm nước, sau đó
thường xuyên giữ ẩm cho cây.
- Chăm sóc
+ Đắp mô, bồi liếp: Trong hai năm đầu, hàng năm cần đắp thêm đất khô
vào chân mô, giúp mô cao hơn, rộng hơn. Tới năm thứ ba trở đi, hàng năm nên
vét bùn non ở đáy mương bồi thêm một lớp mỏng 2-3cm ngay sau khi làm gốc,
bón phân, nếu trồng nhãn trên đất thịt pha sét thì hàng năm nên bón thêm phân
hữu cơ giúp đất thông thoáng hơn, tạo điều kiện tốt cho bộ rễ phát triển.
+ Làm cỏ, xới xáo: Cần thường xuyên làm cỏ để tránh cạnh tranh dinh
dưỡng, hạn chế sự cư trú, xâm nhập của sâu bệnh gây hại. Kết hợp xới xáo đất
giúp đất thông thoáng nhằm giúp bộ rể tăng cường trao đổi chất, không dùng
cuốc lưỡi và không xới sâu vì làm tổn thương bộ rễ. Tuyệt đối không diệt cỏ

hoa khoảng 1-1,5 tháng.


12
- Thu hoạch
Khi vỏ quả chuyển từ màu nâu hơi xanh sang màu nâu sáng, vỏ quả hơi
sù sì hơi dày chuyển sang mọng và nhẵn, bóc quả xem thấy hạt có màu nâu đen
(trừ giống có hạt màu đỏ) thì có thể thu hoạch. Nên thu hoạch quả vào ngày trời
tạnh ráo, vào buổi sáng và buổi chiều, tránh thu hoạch vào đúng giữa trưa khi
trời quá nóng.
Không cắt trụi hết cành lá của cây vì có thể ảnh hưởng đến khả năng nảy
lộc vụ sau. Đối với những cây nhãn có tình trạng sinh trưởng khỏe hoặc đối với
những giống chín sớm, cắt chùm quả có kèm theo một đoạn cành quả chỗ có lá
mọc sít nhau. Đối với những cây nhãn có tình trạng sinh trưởng yếu hoặc đối
với những giống chín muộn, cắt chùm quả không kèm theo lá của cành quả.
Khi thu hoạch quả, nên có thang và sử dụng kéo cắt chùm quả để tránh gãy
cành. (Nguyễn Hữu Hoàng, Lương Xuân Lâm, 2010)
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới
Từ lâu, cây nhãn được trồng nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước
vùng Đông Nam châu Á như Thái Lan, Malaisia, Philippin và Việt Nam. Đến
thế kỷ XIX, cây nhãn được di thực đến một số vùng thuộc châu Mỹ, châu Phi
và châu Đại Dương.
Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn nhiều nhất thế giới với các
vùng trồng tập trung tại Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Vân
Nam, Quý Châu, Hải Nam và Đài Loan. Trong đó, Phúc Kiến là nơi trồng nhiều
và lâu đời nhất, chiếm 48,7% diện tích của cả nước. Tại đây, còn tồn tại những
vườn nhãn trên 100 năm, đặc biệt có một số cây trên 380 năm. Tuy nhiên, do
cây nhãn chỉ được trồng ở một số tỉnh phía nam nên Trung Quốc vừa là nước
sản xuất nhiều nhất, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ nhãn lớn nhất thế giới.

và đứng thứ 3 sau chuối và cam về sản lượng. Tính đến năm 2007, tổng diện
tích nhãn của cả nước đạt 97.900 ha , phân bổ ở 8 vùng sản xuất bao gồm
Đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam
Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Các
vùng trồng có diện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long (35.900 ha), Tây


14
Bắc (16.800 ha) và Đông Nam bộ (16.500 ha). Trong số trên 60 tỉnh thành
trồng nhãn trong cả nước, tỉnh Sơn La có diện tích trồng nhãn lớn nhất là 13.500
ha. Trong đó, diện tích cho thu hoạch là 9.800 ha, đạt năng suất bình quân 4,0
tấn/ha và sản lượng 39.400 tấn/năm.
Năng suất nhãn bình quân của cả nước hiện rất thấp, chỉ đạt 7,08 tấn/ha.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt năng suất cao nhất (10,1 tấn/ha), tiếp theo
là Đồng bằng sông Hồng (9,2 tấn/ha) và Tây Nguyên (8,0 tấn/ha). Vùng Duyên
hải Nam Trung bộ đạt năng suất thấp nhất (1,5 tấn/ha). Tổng sản lượng nhãn
năm 2007 của cả nước khoảng 578.000 tấn. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
đạt sản lượng lớn nhất là 340.900 tấn.
Sản xuất nhãn của nước ta phục vụ nhu cầu tiêu thụ quả tươi ở trong
nước là chính nên giá trị hàng hoá không cao. Những năm được mùa, quả
nhãn mất giá và khó tiêu thụ. Sản phẩm nhãn sấy khô được bán sang Trung
Quốc bằng con đường tiểu ngạch. Theo tài liệu của Sở Nông nghiệp và PTNT
tỉnh Hưng Yên, nhãn chế biến đồ hộp chiếm 5%, nhãn sấy khô 45% và nhãn
quả tươi 50%.
Trước đây, cây nhãn đa số đều được nhân giống bằng phương pháp gieo
hạt, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc nên cây rất cao, năng suất không ổn
định, quả nhỏ, chất lượng quả kém, mã quả xấu và sâu bệnh phá hại nặng, do vậy
hiệu quả kinh tế của các vườn nhãn rất thấp (Trần Thế Tục, 2009).
1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.3.1. Nghiên cứu thúc đẩy tăng năng xuất nhãn

đậu quả của vải, nhãn tốt nhất là phun thuốc đậu quả. Đó là các chất kích thích
sinh trưởng như NAA, GA3, Axit Boric và Sun phát đồng. Có thể dùng riêng
rẽ hay dùng hỗn hợp các nguyên tố vi lượng với các chất kích thích sinh trưởng
phun khi hoa bắt đầu nở và khi hoa nở rộ có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả,
giảm tỷ lệ rụng quả non (Trần Thế Tục, 2009).
Nghiên cứu trên các giống vải thiều Phú Hộ và vải thiều Thanh Hà, các
tác giả Phạm Minh Cương và Nguyễn Thị Thanh (2002) cũng khẳng định
phun các chất kích thích sinh trưởng như NAA, GA3, Axit Boric và Sun phát
đồng làm tăng tỷ lệ cây ra hoa, năng suất quả và cải thiện đáng kể mã vỏ quả.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status