VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU XUÂN HẢI
BỒI DƢỠNG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU XUÂN HẢI
BỒI DƢỠNG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
VIỆT NAM
Ngành: CNDVBC&DVLS
Mã số: 9 22 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Phùng Văn Thiết
1.1. Những nghiên cứu về văn hoá và văn hoá quân sự ........................... 6
1.2. Những nghiên cứu về văn hoá ứng xử và văn hoá ứng xử của quân
nhân quân đội nhân dân Việt Nam .......................................................... 20
1.3. Những kết quả cơ bản và vấn đề đặt ra mà luận án cần tiếp tục giải
quyết ........................................................................................................ 37
Chƣơng 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG VĂN HÓA
ỨNG XỬ CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM .. 42
2.1. Văn hoá ứng xử, và văn hóa ứng xử của thanh niên Quân đội Nhân
dân Việt Nam .......................................................................................... 42
2.2. Thực chất bồi dưỡng văn hoá ứng xử cho thanh niên Quân đội nhân
dân Việt Nam .......................................................................................... 73
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG BỒI
DƢỠNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN
DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY ...................................................................... 98
3.1. Thực trạng bồi dƣỡng văn hoá ứng xử cho thanh niên Quân đội
nhân dân Việt Nam hiện nay................................................................ 98
3.2. Những yêu cầu đặt ra trong bồi dưỡng văn hóa ứng xử cho thanh
niên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay ......................................... 118
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP CƠ BẢN BỒI DƢỠNG VĂN HÓA ỨNG XỬ
CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 124
4.1. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong bồi dƣỡng văn
hóa ứng xử cho thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay . 124
4.2. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng văn
hoá ứng xử của thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay ..... 130
4.3. Xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh ở đơn vị cơ sở
trong Quân đội nhân dân Việt Nam ...................................................... 136
KẾT LUẬN .................................................................................................. 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA
nó tạo nên các mối quan hệ có văn hóa, có đạo đức trong cộng đồng dân cư và
xã hội, đồng thời giúp con người giải quyết đúng đắn và hiệu quả các quan hệ
phức tạp trong cuộc sống.
Là một bộ phận của xã hội, thanh niên QĐNDVN lực lượng đông đảo
nhất, trực tiếp thực hiện chức năng chiến đấu, sản xuất và công tác của quân
đội. Trong thực hiện nhiệm vụ họ phải ứng xử, giải quyết nhiều mối quan hệ
phức tạp, đặc thù. Hơn 74 năm xây dựng và trưởng thành, thanh niên
QĐNDVN đã góp phần tạo dựng nên nét văn hóa ứng xử độc đáo - văn hóa
ứng xử “Bộ đội Cụ Hồ” với những chuẩn mực, giá trị cốt lõi: “Trung với
Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc,
vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt
qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi chiêu đãi
mừng quân đội ta tròn 20 tuổi đã nói: “Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như
ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng,
1
học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau” [57, 435]. Những chuẩn mực, giá trị ấy giữ vai trò
định hướng, là động lực thôi thúc các thế hệ thanh niên quân đội ta không
ngừng phấn đấu, vươn lên hoàn thiện nhân cách, thực hiện thắng lợi mọi
nhiệm vụ được giao.
Hiện nay, trước tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc
biệt sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại chúng làm cho văn hóa ứng
xử của xã hội nói chung, thanh niên QĐNDVN nói riêng có sự biến động theo
hai chiều thuận, nghịch. Một
ặt, những giá trị cốt lõi trong văn hóa ứng xử
của thanh niên quân đội tiếp tục được phát huy, bổ sung nội dung mới và phát
quan tâm đúng mức, thiếu tích cực, chủ động, sáng tạo trong đổi mới nội dung,
phương pháp và hình thức bồi dưỡng văn hóa ứng xử cho thanh niên. Bên cạnh
đó, một số thanh niên chưa thật chủ động trong tự học tập, rèn luyện nâng cao
trình độ văn hóa ứng xử của mình.
Do đó, bồi dưỡng văn hoá ứng xử cho thanh niên QĐNDVN đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ là vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp thiết cần được nhận thức và thực
hiện trên cơ sở khoa học, thực tiễn. Liên quan đến vấn đề này đã có nhiều công
trình nghiên cứu làm sáng tỏ cả lý luận và thực tiễn về văn hóa ứng xử và văn
hóa ứng xử quân nhân QĐNDVN, nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào
đi sâu nghiên cứu dưới góc độ triết học một cách cơ bản, hệ thống về bồi dưỡng
văn hóa ứng xử cho thanh niên QĐNDVN hiện nay.
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề “Bồi dưỡng văn hóa ứng xử cho
thanh niên QĐNDVN hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Tiếp cận dưới góc độ triết học, luận án trình bày làm rõ một số vấn đề lý
luận và thực tiễn bồi dưỡng văn hóa ứng xử cho thanh niên QĐNDVN. Đồng
thời đề xuất giải pháp cơ bản bổ sung, củng cố, phát triển văn hoá ứng xử cho
thanh niên QĐNDVN đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại.
2.2. Nhiệm vụ
Làm rõ một số vấn đề lý luận về văn hóa ứng xử và bồi dưỡng văn hóa
ứng xử cho thanh niên QĐNDVN.
3
Phân tích, đánh giá thực trạng bồi dưỡng văn hoá ứng xử cho thanh niên
QĐNDVN, chỉ ra nguyên nhân và những yêu cầu đặt ra trong bồi dưỡng phát
hợp với việc xử lý chọn lọc kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả ở một
số đơn vị đủ quân, nhà trường quân đội khu vực phía Bắc.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp liên nghành khoa
học xã hội khác như phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, hệ
thống hoá, khái quát hoá. Bên cạch đó, luận án có kết hợp sử dụng phương
pháp điều tra xã hội học ở một số đơn vị đủ quân, nhà trường khu vực phía
Bắc, xin ý kiến chuyên gia và nghiên cứu số liệu báo cáo tổng kết hàng năm
của các cơ quan, đơn vị, của Ban Thanh niên Quân đội.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Dưới góc độ triết học, trên cơ sở nghiên cứu và trình bày một cách hệ
thống, rõ ràng vấn đề dưỡng văn hoá ứng xử cho thanh niên QĐNDVN trong
hoạt động quân sự. Luận án đóng góp thêm về mặt lý luận và thực tiễn xây
dựng, phát triển văn hoá ứng xử cho thanh niên QĐNDVN nói riêng, bồi
dưỡng văn hóa ứng xử nói chung trong tình hình hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thêm cơ sở lý luận khoa học và
thực tiễn cho các chủ thể vận dụng hiệu quả vào bồi dưỡng văn hoá ứng xử cho
thanh niên QĐNDVN đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Luận án có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, ứng dụng trong bồi
dưỡng, xây dựng, phát triển văn hóa ứng xử cho thanh niên QĐNDVN ở các
cơ quan, đơn vị.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 11 tiết.
5
triết học, xã hội học; chỉ ra sự tương tác chặt chẽ giữa văn hoá và nhân
cách; khẳng định: khi nói tới văn hóa không chỉ có ý nói đến các kết quả
hoạt động, mà nói đến cả tính chất hoạt động, trong chừng mực nó góp
phần phát triển tiềm năng tinh thần của con người và toàn bộ các quan hệ
lý luận, kinh tế, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ của con người với thực tại.
Tác giả L.M.Áckhanghenxki, chủ biên “ h nghĩa
hội v nh n
c ch”[04], tuy không bàn trực tiếp về văn hóa nhưng trong chương VI “nhân
cách và văn hóa” đã đưa ra quan niệm và vai trò của văn hóa đối với hình
6
thành nhân cách. Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử tác giả đưa
ra quan niệm về văn hóa: “văn h a ược hiểu như
c ượng ản ch t c a con người trong
họ, như
c ộ th c hi n c c
ọi qu tr nh hoạt ộng
ột phương th c nh t ịnh c a hoạt ộng
hội c a
”[04,187]. Tác giả
7
mỗi bộ phận của thành tố được tác giả chú ý xem xét tới tính lịch đại của nó.
Ở đó, tiến trình văn hoá Việt Nam được trình bày theo một lôgic nhất quán,
bắt đầu từ điều kiện vật chất quy định và định vị văn hoá Việt Nam ở văn hoá
nhận thức và văn hoá tổ chức đời sống cộng đồng. Trong nội dung cuốn sách
tác giả cũng tập trung phân tích, làm rõ cách ứng xử của người Việt Nam với
môi trường tự nhiên và môi trường xã hội; sự giao lưu giữa văn hoá bản địa
với các nền văn hoá khác trong quá khứ, và kết thúc bằng việc xem xét cuộc
“đối mặt” đang diễn ra giữa văn hoá cổ truyền với nền kinh tế thị trường và sự
xâm nhập của văn minh phương Tây hiện đại.
Tác giả Nguyễn Văn Huyên, “Văn h a v văn h a chính trị từ cách nhìn
ti p c n c a tri t học chính trị
c ít” [34], làm rõ phạm trù văn hóa và
chính trị; dưới góc độ triết học văn hoá. Tác giả khẳng định: mục tiêu chính
trị có nhân văn hay phản nhân văn; hệ thống chính trị, thiết chế chính trị, cơ
chế chính trị có khoa học hay không khoa học; phương thức tổ chức và ứng
xử chính trị có phù hợp với đạo lý con người, có dân chủ hay không... nói lên
văn hoá của nền chính trị. Trên cơ sở đó, đưa ra và phân tích quan niệm: văn
ho chính trị
trị, phẩ
ột phương di n c a văn ho ,
ch t, tr nh ộ, năng
niệm văn ho bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và
theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc
theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều
sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn
hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những
giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn
theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng
(văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá
được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn
hoá Đông Sơn…). Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất
cả những gì do con người sáng tạo ra. Tác giả cho rằng, định nghĩa văn hóa của
Hồ Chí Minh: “V ẽ sinh tồn cũng như
ới s ng tạo v ph t
c ích c a cuộc s ng, o i người
inh ra ng n ng , ch vi t, ạo
c, ph p u t, khoa
học, t n gi o, văn học, ngh thu t, nh ng c ng c cho sinh hoạt hằng ng
ăn, ặc,
t c
về
v c c phương th c s d ng To n ộ nh ng s ng tạo v ph t inh
văn h a Văn h a
với iểu hi n c a n
người có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của mình. Theo
tác giả, văn hóa, nói một cách giản dị: “
tr nh ịch s kh c nhau, qua
với nhau Th ng qua
ỗi
nh ng g còn ại sau nh ng chu
người ta c thể ph n i t ược c c d n tộc
ột chu k c a s ph t triển, d n tộc
tương t c
với
nh v với nh ng d n tộc kh c, c i còn ại ược gọi
ản sắc, ha còn
gọi
văn h a”. Từ đó khẳng định: văn hóa là một hiện tượng khách quan, là
tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ
nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Đồng thời đi sâu
phân tích sự khác biệt và quan hệ giữa các khái niệm: văn hóa và văn minh,
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
* Các công trình nghiên cứu về văn hóa quân sự
n về c u trúc văn h a qu n s Vi t
Na ”[24], tác giả chỉ rõ: xuất hiện từ thời đại các vua Hùng, định hình với đầy
đủ vóc dáng, phẩm giá, bản lĩnh trong thời đại Hồ Chí Minh, văn hóa quân sự
Việt Nam có cấu trúc hết sức phức tạp cả về chiều sâu và diện rộng. Đó là sự
dung hợp giữa giá trị văn hóa với giá trị quân sự được biểu hiện ở tất cả các
yếu tố cấu thành vòng cộng đồng văn hóa ấy. Theo chiều s u, giá trị văn hóa
quân sự hiện diện như một dòng chảy liên tục từ trong lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc đến các giá trị văn hóa quân sự đang được sáng tạo theo
xu hướng phát triển ngày càng tiên tiến. Cấu trúc văn hóa quân sự theo chiều
sâu còn được phân định bởi các yếu tố: tư tưởng - văn hóa; tâm lý - văn hóa;
chuẩn mực văn hóa và biểu tượng - văn hóa trong lĩnh vực quân sự. Theo di n
rộng, với tư cách một phương diện của đời sống xã hội văn hóa thâm nhập vào
tất cả mọi phương diện cùng những hoạt động của con người trong cộng đồng.
Chính sự thâm nhập đó làm nảy sinh những hình thái biểu hiện đa dạng của văn
hóa quân sự dưới các loại hình văn hóa: chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu; huấn
luyện, chỉ huy, pháp luật và kỷ luật, chính trị - quân sự, kinh tế, kỹ thuật, ứng
xử và giao tiếp, đạo đức, nghệ thuật, thể chất và thẩm mỹ quân sự. Với cấu trúc
như vậy, văn hóa quân sự Việt Nam có vai trò đặc biệt trong phát triển phẩm
chất, tinh thần của con người quân sự và xây dựng quân đội; xây dựng sức
mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân; xây dựng, phát triển nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc của dân tộc. Đặc biệt với hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ”
- giá trị văn hóa đó là sự đan kết những tinh túy nhất của văn hóa quân sự
11
truyền thống của dân tộc trong dòng sông lịch sử Việt Nam với bản chất cách
mạng của thời đại Hồ Chí Minh.
nhân văn, giá trị văn hóa trong các lĩnh vực trên của hoạt động quân sự Việt
Nam. Từ đó kết luận: chủ nghĩa nhân văn, tính tiến công cách mạng và phẩm
chất “Bộ đội Cụ Hồ” là những nét đặc trưng của văn hóa quân sự Việt Nam.
Minh chứng cho nhận định trên, tác giả trích lời dạy của Hồ Chí Minh trong
khi nói chuyện với cán bộ, giáo viên, học viên trường Chính trị trung cấp quân
đội ở Việt Bắc 25/10/1951 “Ri ng về c c chú, chính trị iểu hi n ra trong úc
nh giặc”. Tác giả nhấn mạnh: chính trị quân sự là vậy, văn hóa quân sự cũng
12
phải như vậy. Văn hóa quân sự với người lính chúng ta - phải là văn hóa đánh
giặc và đánh giặc có văn hóa.
Tác giả Dương Xuân Đống, “Văn h a qu n s Vi t Na
ch n, thi n,
với
c ích
ỹ” [20], tác giả cho rằng, văn hóa quân sự nói chung, đặc biệt
là văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng, cũng là một loại hình văn hóa. Nó là
một chi lưu của dòng sông văn hóa dân tộc Việt Nam. Luận chứng cho nhận
định trên, tác giả xem xét động cơ nào buộc phải tiến hành chiến tranh, chiến
tranh tiến hành theo phương pháp nào để ít tổn thương nhất đối với nhân dân,
đối với kẻ thù đã hạ vũ khí... dưới góc độ văn hóa và chứng minh bằng các
cuộc chiến tranh giữ nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Tác giả kết
luận: hoạt động đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm ở Việt Nam mang tính
nhân văn rõ rệt vì nó luôn luôn hướng tới mục đích chân, thiện, mỹ. Nội dung
ột ộ ph n văn h a
u tranh vũ trang - c a
hội - văn
ột cộng ồng,
i ặc iể , tru ền th ng văn h a c a cộng
, tạo n n
ột nền, kiểu, oại văn h a qu n s khác
nhau. Tác giả cũng khái quát và phân tích rõ cấu trúc của văn hóa quân sự.
Theo tác giả, nếu trừu tượng hóa, tách văn hóa quân sự ra khỏi hệ thống lớn thì
nó tồn tại như tiểu hệ thống bao gồm các phân hệ (vi hệ): hệ thống
ut
ịnh
hướng bao gồm triết lý, tư tưởng, học thuyết, đường lối quân sự (yếu tố cốt
lõi); hệ thống
u t thể ch , thi t ch bao gồm pháp luật, quy chế, quy định,
điều lệnh, hệ thống tổ chức lực lượng quân sự từ cao xuống thấp; hệ thống
như một dòng chảy không dứt của mạch nguồn văn hóa dân tộc, từ thời kỳ mở
nước cho đến thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Trên cơ sở đó, dự báo những nhân tố tác động và đề xuất định hướng,
giải pháp phát huy văn hóa quân sự Việt Nam trong tình hình mới.
Tác giả Văn Đức Thanh, “Ti p c n ản sắc d n tộc c a văn ho qu n s
Vi t Na ” [76], tác giả làm rõ: bản sắc dân tộc của văn hóa và biểu hiện của
nó trong văn hóa quân sự; chỉ ra nét tương đồng, nhất quán, liên giá trị giữa
bản sắc dân tộc của văn hóa quân sự với bản sắc dân tộc của văn hóa nói
chung vừa có những nét riêng phản ánh tính đặc thù của lĩnh vực tổ chức và
hoạt động quân sự. Đặc điểm đặc thù của tổ chức và hoạt động quân sự làm
nảy sinh những nét đặc trưng độc đáo của văn hóa quân sự. Đó là, sự thống
nhất giữa tính mực thước, nghiêm cách của quân sự với tính năng động mềm
dẻo của văn hóa; giữa tính vững chắc của trận địa chính trị - tư tưởng với tính
phong phú của đời sống tâm hồn quân nhân; tính cộng đồng sâu sắc trong tập
thể quân nhân trước ranh giới mỏng manh giữa cái sống và cái chết; tính kết
tinh với chất lượng cao của hệ chuẩn chân - thiện - mỹ’ hướng tới tận chân,
tận thiện, tận mỹ; tính trí tuệ và hiện đại của phương thức hoạt động. Chính vì
vậy, văn hóa quân sự là hệ giá trị kiểm nghiệm sức sống của toàn bộ nền văn
hóa dân tộc trong những bối cảnh sống còn, bản sắc dân tộc của văn hóa quân
sự đánh dấu trình độ tự chủ, tự lực, tự cường vượt qua thử thách của cả nền
văn hóa. Tác giả khẳng định: bản sắc văn hóa quân sự Việt Nam thể hiện như
một dòng chảy liên tục cái “gien văn hóa” từ truyền thống tới hiện đại, kết
tinh trong ba tiểu hệ cơ bản: truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo,
nhân văn và nghệ thuật quân sự mang đậm đà bản sắc dân tộc. Trên cơ sở đó,
đưa ra quan niệm bản sắc dân tộc của văn hoá quân sự Việt Nam: là nh ng
15
tinh hoa mang tính riêng, ền v ng và tiêu iểu nả sinh từ ản thân ĩnh v c
chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Trước bối cảnh thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến
phức tạp, khó lường. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước
cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Tác giả cho rằng: xây
dựng đời sống văn hóa, tinh thần tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, góp phần
vào sự nghiệp xây dựng quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc,
cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tập trung thực hiện tốt một số giải
pháp:
ột
, tổ chức tốt việc quán triệt, học tập, nâng cao nhận thức cho các
đối tượng về vị trí, vai trò của Nghị quyết đối với xây dựng nền văn hóa, con
người mới nói chung, đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh trong
quân đội nói riêng. Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức
đảng, sự quản lý, điều hành của người chỉ huy đối với xây dựng đời sống văn
16
hóa, tinh thần theo Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI). Ba là, tiếp tục nâng
cao chất lượng xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sở theo các mục
tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, làm chuyển biến căn bản đời sống văn hóa, tinh thần
của bộ đội. B n
, thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp hoạt động
cho phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn; đẩy mạnh giao lưu văn hóa
giữa các đơn vị và địa phương nơi đóng quân. Nă
chuẩn mực trong nhân cách quân nhân theo tiêu chí chân, thiện, mỹ; góp phần
xác lập các thang giá trị và khuôn mẫu ứng xử của quân nhân trước hoàn cảnh;
góp phần xây dựng, củng cố trận địa chính trị tư tưởng, đẩy lùi những tác động
tiêu cực, phản văn hóa xâm nhập vào đời sống quân sự. Từ đó, tác giả xác định
yêu cầu và giải pháp cơ bản xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh,
phong phú trong quân đội, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách trong
sáng của người quân nhân cách mạng.
Tác giả Hà Hán, “Vai trò
i trường văn h a qu n s trong gi o d c
thanh ni n qu n ội” [28], khẳng định: môi trường văn hóa quân sự là một bộ
phận hữu cơ của môi trường văn hóa xã hội, đã và đang phát huy vai trò trong
việc xây dựng người quân nhân cách mạng thời kỳ mới và góp phần trực tiếp
nâng cao sức mạnh toàn diện của các đơn vị trong toàn quân. Để xây dựng
môi trường văn hoá đạo đức quân sự trong sạch, lành mạnh và phát huy được
vai trò của nó trong phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên quân đội hiện
nay, theo tác giả, cần tập trung thực hiện tốt những vấn đề cơ bản: xây dựng
môi trường văn hoá đạo đức quân sự phù hợp hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của
từng đơn vị, phù hợp với đặc điểm nhận thức và yêu cầu về nhiệm vụ của
người thanh niên quân đội; xây dựng tập thể quân nhân vững mạnh toàn diện;
quan tâm, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hoá - tinh thần trong từng tập
thể đơn vị và cho thanh niên quân đội; xây dựng và phát huy vai trò của hệ
thống thiết chế văn hoá đạo đức quân sự; tích cực định hướng dư luận tập thể
quân nhân; phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật trong tập thể quân nhân nói
chung và đối với thanh niên quân đội nói riêng.
Tác giả Nguyễn Thanh Hải, “Thanh ni n qu n ội trong
trường văn h a
hóa quân sự Việt Nam trong tư tưởng quân sự Việt Nam, nghệ thuật quân sự
Việt Nam. Những nội dung đó thể hiện một bức tranh tổng thể về quân sự và
văn hóa quân sự Việt Nam từ xưa tới nay. Đặc biệt, tác giả đưa ra quan niệm:
văn h a qu n s kh ng phải
ộ
ột ộ
n khoa học về ịch s qu n s ,
n khoa học về phương ph p h nh ộng qu n s , cũng gọi
văn h a học
qu n s . Tác giả phân tích và chỉ rõ: nó bao gồm 3 thành tố chính: một là, mối
quan hệ giữa con người với đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm trong tương
quan lực lượng luôn phải “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”; hai là, từ đó
xác định ra phương pháp hành động thích hợp và hiệu quả bằng “chiến tranh
nhân dân”; ba là, phương pháp đó được vận dụng sáng tạo, linh hoạt qua thế
giới quan và nhân sinh quan của người Việt. Bởi vậy, nó có một sắc thái riêng,
rất độc đáo, không hề giống bất cứ dân tộc nào trên thế giới, trong quá trình
đấu tranh vũ trang lâu dài và chiến thắng hầu như gần hết mọi đạo quân xâm
lược để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc”. Quan điểm này xuyên suốt toàn bộ
19