MỤC LỤC
Lời nói đầu………………………………………………………………………..............1
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm chung cơ bản
1.2. Vai trò của tiền lương trong khu vực công
1.3. Nội dung của tiền lương trong khu vực công
1.4. Nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương trong khu vực công
II. THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng tiền lương khu vực công
2.1.1. Tiền lương tối thiểu (Mức lương cơ sở)
2.1.2. Thang bảng lương
2.1.3. Các hình thức trả lương
2.2. Đánh giá chung
2.2.1. Ưu điểm
2.2.2. Nhược điểm
III. CÁC KHUYẾN NGHỊ
3.1. Khuyến nghị chung
3.2. Đối với công chức và lực lượng vũ trang
Danh mục tài liệu tham khảo
LỜI NÓI ĐẦU
Tiền lương có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và có tác động lớn
đến hệ thống kinh tế - xã hội của cả nước trên tầm vĩ mô, tác động lớn đến bản thân
người lao động hưởng lương và gia đình họ; do vậy, tiền lương là mối quan tâm hàng
đầu và là động lực làm việc của người lao động trong bất cứ tổ chức nào. Với tầm quan
trọng đó, việc xây dựng một hệ thống tiền lương khoa học, hợp lý, làm đòn bẩy kích thích
năng suất và chất lượng, hiệu quả lao động luôn là nhiệm vụ lớn đặt ra cho các cơ quan
Nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường lao động của khu vực Nhà nước kém hấp
cả khi tiền lương danh nghĩa tăng lên (do có những thay đổi, điều chỉnh trong chính sách
tiền lương). Đây là một quan hệ rất phức tạp do sự thay đổi của tiền lương danh nghĩa,
của giá cả và phụ thuộc vào những yếu tố khác nhau. Đó cũng là đối tượng quản lý trực
tiếp trong các chính sách về thu nhập, tiền lương và đời sống.
Khu vực công là khu vực phản ánh các hoạt động kinh tế, chính trị xã hội do nhà
nước quy định.
Tiền lương trong khu vực công là số tiền nhà nước trả cho cán bộ, công chức, viên
chức, người lao động làm trong khu vực công căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động
phù hợp với quy luật cung cầu, khả năng ngân sách quốc gia và các quy định, pháp luật.
1.2. Vai trò của tiền lương trong khu vực công
- Tiền lương đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động
- Đảm bảo vai trò kích thích của tiền lương
- Đảm bảo vai trò điều phối lao
- Vai trò quản lý lao động của tiền lương
- Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia
- Lương thể hiện đánh giá chính xác của xã hội với tài năng, trí tuệ, năng lực, kết
quả lao động và cống hiến của mỗi người.
- Tiền lương là một trong nhưng hình thức kích thích lợi ích đối với người lao
động.
- Đảm bảo có dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi người lao động hết khả năng lao
động hoặc gặp bất trắc rủi ro.
1.3. Nội dung của tiền lương trong khu vực công
Tiền lương tối thiểu (Mức lương cơ sở) là một mức lương thấp nhất theo quy định
của Luật lao động do Quốc hội Việt Nam ban hành. Đó là số tiền trả cho người lao động
làm công việc giản đơn nhất trong xã hội với điều kiện làm việc và cường độ lao động
bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề. Số tiền đó đủ để người lao động tái sản
xuất giản đơn sức lao động, đóng bảo hiểm tuổi già và nuôi con. Mức lương tối thiểu này
được dùng làm cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương,
Hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu: Đối với các đơn vị HCSN
phụ thuộc vào nguồn thu và tiết kiệm; đối với đơn vị có hệ số lương tăng thêm như:
ngành Thuế, KBNN, BHXH phụ thuộc vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và
các nhân người lao động (qua bình xét thi đua); phụ thuộc ngân sách của địa phương có
thể hỗ trợ vào lương.
Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: Trình độ lao động:
Với lao động có trình độ cao thì sẽ có được thu nhập cao hơn so với lao động có trình độ
thấp hơn bởi để đạt được trình độ đó người lao động phải bỏ ra một khoản chi phí tương
đối cho việc đào tạo đó. Có thể đào tạo dài hạn ở trường lớp cũng có thể đào tạo tại doanh
nghiệp. Để làm được những công việc đòi hỏi phải có hàm lượng kiến thức, trình độ cao
mới thực hiện được, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp thì việc hưởng lương
cao là tất yếu.
II. THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng tiền lương khu vực công
2.1.1. Tiền lương tối thiểu (Mức lương cơ sở)
Mức lương tối thiểu chung: Từ tháng 01/2003 đ ến 5/2011 qua 7 lần điều chỉnh
mức lương tối thiểu Tháng 01/2003 là 290.000 đ, tháng 10/2005 là 350 000đ, tháng
10/2006 là 450.000đ, tháng 1/2008 là 540 000đ, tháng 5/2009 là 650 000đ, tháng 5/2010
là 730 000đ, tháng 5/2011 là 830.000 đ (mức lương tối thiểu được điều chỉnh tuỳ thuộc
vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao động theo từng thời
kỳ).
Tiền lương danh nghĩa của cán bộ, công chức, viên chức có xu hướng tang do
nhiều lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt giá và tang trưởng
kinh tế, mở rộng quan hệ tiền lương tối thiểu – trung bình – tối đa, từng bước tiền tệ hóa
các khoản ngoài lương nhằm khắc phục bình quân, bao cấp và ổn định đời sống của cán
bộ, công chức, viên chức. Theo Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu
chung cho người lao động trong khu vực hành chính – sự nghiệp đã điều chỉnh 7 lần từ
210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, mới mức tăng gần 4 lần. Từ ngày 1/5/2012,
mức lương tối thiểu đã được quyết định tăng lên mức 1.050.000 đồng/tháng. Việc điều
chỉnh này được thực hiện trên cơ sở các mức đã dự kiến trong Đề án tiền lương giai đoạn
cuộc sống tối thiểu cho người lao động. Chính sách tiền lương tối thiểu thấp đã gây ra
những hệ quả tiêu cực làm cho người hưởng lương không sống được bằng tiền lương và
thu nhập ngoài lương chiếm tỷ lệ cao, lại không được kiểm soát, làm cho chính sách tiền
lương bị bóp méo. Chính sách tiền lương tối thiểu bị ràng buộc bởi những quan hệ kinh
tế, quan hệ lao động, quan hệ xã hội (Chính sách bảo hiểm xã hội, chế độ đóng bảo hiểm
xã hội trong các doanh nghiệp, trợ cấp thôi việc, bồi thường lao động…)
Tiền lương tối thiểu khu vực hành chính Nhà nước gắn liền với tiền lương tối thiểu
chung là một sự bất hợp lý trong quan hệ tiền lương, làm cho tiền lương khu vực này
luôn thấp hơn khu vực thị trường và do đó dẫn đến dòng di chuyển lao động từ khu vực
Nhà nước sang khu vực có tiền lương cao hơn, đồng thời là một trong những nguyên
nhân gây tiêu cực, tham nhũng. Mặt khác, khu vực dịch vụ công (nhất là sự nghiệp công)
với cơ chế tiền lương tối thiểu hiện hành chưa thúc đẩy mạnh lao động khu vực này tham
gia thị trường lao động và trở thành lực cản mạnh nhất trong cải cách hành chính ở nước
ta hiện nay.
Tồn tại rất nhiều cơ chế tiền lương tối thiểu cho các khu vực sản xuất kinh doanh
(cơ chế tiền lương tối thiểu doanh nghiệp ngoài Nhà nước, đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài) dẫn đến phân biệt đối xử về tiền lương trong các loại hình doanh
nghiệp và tạo thành sân chơi không bình đẳng trong cạnh tranh trên thị trường đối với các
loại hình doanh nghiệp.
Việc quy định căn cứ để điều chỉnh lương tối thiểu còn chưa đầy đủ. Ngoài yếu tố
lạm phát của tiền tệ thì việc tăng mức lương tối thiểu cũng cần được xem xét điều chỉnh
khi năng suất lao động trung bình của xã hội tăng lên và theo sự tang trưởng của nền kinh
tế. Song, các quy định của pháp luật và thực tế điều chỉnh tiền lương tối thiểu trong hơn
chục năm qua chưa xác định yếu tố này. Như vậy, pháp luật chưa có sự đảm bảo để người
hưởng lương tối thiểu nói riêng và người lao động nói chung được tham gia đầy đủ vào
sự phồn vinh của nền kinh tế.
Ưu điểm
Thứ nhất, tiền lương tối thiểu đảm bảo tái sản xuất sức lao động giản đơn và một
Nguyên tắc trả lương: Việc trả lương phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của
cán bộ, công chức, viên chức(đảm bảo ngày công và nhiệm vụ được giao) và nguồn trả
lương (từ ngân sách nhà nước cấp hoặc hỗ trợ và từ các nguồn thu theo quy định của
pháp luật dùng để trả lương) của cơ quan, đơn vị.
Nguồn kinh phí để thực hiện chế độ tiền lương
- Tiết kiệm 10% chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương)
đối với từng cơ quan hành chính, từng đơn vị sự nghiệp thuộc các Bộ, cơ quan Trung
ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ của các đơn vị sự nghiệp có
thu (kể cả các đơn vị đã thực hiện cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu).
Riêng các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế sử dụng tối thiểu 35%.
- Sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ của các cơ quan hành chính
có thu.
- Ngân sách địa phương sử dụng 50% số tăng thu giữa dự toán năm kế hoạch so
với dự toán năm trước liền kề do Thủ tướng Chính phủ giao và 50% số tăng thu giữa thực
hiện so với dự toán năm kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao.
- Ngân sách Trung ương bổ sung nguồn kinh phí thực hiện chế độ tiền lương cho
các Bộ, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong trường
hợp đã thực hiện đúng các quy định mà vẫn còn thiếu.
Xếp lương theo 7 bảng lương:
Hiện nay doanh nghiệp nhà nước đang áp dụng 2 thang lương (1 thang lương 6
bậc, 1 thang lương 7 bậc) chia theo 21 ngành nghề khác nhau và 26 bảng lương với quan
hệ tiền lương tối thiểu, trung bình, tối đa là 1 - 1,82 - 7,06 (Có các bảng lương kèm theo).
- Các thang lương công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh;
- Các bảng lương công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh; 17 - Bảng
lương của thành viên chuyên trách Hội đồng quản trị (theo hạng DN);
- Bảng lương của Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc,
Kế toán trưởng (theo hạng DN);
theo mức lương ngày (ML ngày) nhân với ngày công làm thực tế trong tháng. Trong đó
ML ngày = HSL x ML min chung/22 ngày. Chẳng hạn, một công chức phòng nội vụ (cấp
huyện) được xếp bậc 2 trong nhóm ngạch công chức loại B của Bảng lương chuyên môn
nghiệp vụ đối với cán bộ công chức trong các cơ quan Nhà nước có hệ số lương là 2,06.
Mức lương tối thiểu chung là 1.050.000 đồng/tháng. Tiền lương tháng của công chức này
được xác định như sau:
2,06 x 1.050.000 = 2.163.000 đồng/tháng
Nếu trong tháng người công chức này chỉ đi làm 20 ngày còn 2 ngày nghỉ ốm thì
tiền lương chỉ tính cho 20 ngày đi làm còn 2 ngày nghỉ ốm do bảo hiểm xã hội chi trả.
Tiền lương của 20 ngày được tính như sau:
2,06 x 1.050.000/22 x 20 = 1.966.363 đồng
Cách tính lương này cho thấy hạn chế là chưa phản ánh được mức độ phức tạp
công việc và tính trách nhiệm mà công việc đòi hỏi, chưa phản ánh được hiệu quả làm
việc của cán bộ, công chức.
Bảng 2.1.3: Mức độ hợp lý của chế độ tiền lương đối với công chức hành chính hiện nay
Đơn vị tính: % so với tổng số
ST
T
Cấp quản lý
Hoàn toàn
Không hợp
Trung bình
Hợp lý
không hợp
lý
lý
1 Bộ, ngành ở TƯ
cán bộ công chức nói chung và công chức hành chính nói riêng giữ chức danh quản lý
100% đều cho rằng tiền lương không thỏa đáng chính là nguyên nhân dẫn đến tiêu cực và
làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm.
Cách tính trả lương đơn giản như trên đã ảnh hưởng đến mức độ khai thác khả
năng làm việc của công chức hành chính. Tỷ lệ số người trả lời cho rằng mức độ khai
thác ở mức “trung bình”, “thấp” và “rất thấp” chiếm tỷ lệ cao. Cụ thể, công chức hành
chính ở cấp quản lý càng cao thù mức độ đánh giá ở mức “trung bình” càng thấp và
ngược lại ở mức “thấp” và “rất thấp” có xu hướng tăng lên (bảng 2.1.3). Kết quả điều tra
mức độ ảnh hưởng có chế độ tiền lương đến tinh thần trách nhiệm trong công việc của
công chức hành chính cũng cho kết quả tương tự đối với mức độ khai thác khả năng làm
việc.
2.2. Đánh giá chung
2.2.1. Ưu điểm
Về mức lương tối thiểu:
- Mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định là sự cụ thể hoá quy định của Bộ
Luật Lao động, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động
(chống đói nghèo và bóc lột), là cơ sở để người sử dụng lao động và người lao động thoả
thuận mức tiền công (thấp nhất bằng mức lương tối thiểu và phải cao hơn ít nhất 7% với
LĐ đã qua đào tạo nghề) và giải quyết các quyền lợi khác cho người lao động theo pháp
luật quy định.
- Hàng năm tuỳ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung
cầu lao động Nhà nước đã điều chỉnh mức lương tối thiểu phù hợp góp phần ổn định
và cải thiện cuộc sống người L Đ; kích cầu tiêu dùng góp phần chống suy giảm kinh tế;
góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Về thang bảng lương
- Hệ thống thang bảng lương theo Nghị định 204/2004/N Đ- CP và Nghị định
205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 đã có tính yếu tố thị trường và có tiền tệ hoá tiền nhà
vào lương có tác dụng nâng cao vai trò tiền lương trong nền kinh tế;
tăng bằng và lớn hơn tỷ lệ tăng lương tối thiểu nên thực tế là cuộc chạy đua giữu lương
và giá, tức chỉ là lỗ lực để duy trì ổn định lương (lương danh nghĩa tăng nhưng lương
thực tế có thể được duy trì hoặc bị giảm đi)
- Mức lương tối thiểu không đảm bảo cuộc sống tối thiểu chưa nói đến việc tái sản
xuất mở rộng và các nhu cầu khác cho bản thân và gia đình. Từ năm 2003 đến nay, mức
lương tối thiểu chung đã điều chỉnh 7 lần (từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000
đồng/tháng). Việc điều chỉnh mức lương tối thiểu chung mới thực hiện chủ yếu trên cơ sở
chỉ số giá tiêu dùng và khả năng ngân sách, chưa bảo đảm được nhu cầu tối thiểu của
CBCCVC. Mức tăng tiền lương thấp nên đời sống của người hưởng lương còn gặp nhiều
khó khăn. So sánh mức lương tối thiểu chung với kết quả tính toán của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội theo phương pháp nhu cầu tối thiểu (chưa tính đủ tiền nhà) cho
thấy: mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định chỉ đáp ứng được khoảng 50%
mức lương tối thiểu tính theo phương pháp nhu cầu tối thiểu. Cụ thể, năm 2003,
CBCCVC được hưởng lương 290.000 đồng/tháng trong khi nhu cầu tối thiểu phải chi
tiêu là 576.000 đồng/tháng; năm 2008 hưởng lương 540.000 đồng/tháng, nhu cầu tối
thiểu là 1.048.000 đồng/tháng và năm 2011 là 830.000 đồng/tháng và nhu cầu tối thiểu là
1.410.000 đồng/tháng. Mức lương tối thiểu của CBCC cũng thấp hơn nhiều so với mức
lương tối thiểu vùng từ 1,4 triệu (vùng IV - vùng thấp nhất) đến 2 triệu đồng (vùng I vùng cao nhất) của khu vực doanh nghiệp quy định tại Nghị định số 70/2011/NĐ-CP
ngày 22-8-2011 của Chính phủ. Với mức lương tối thiểu 830.000 đồng từ tháng 5-2011
áp dụng với CBCC chỉ bằng 59,3% vùng IV - vùng thấp nhất (vùng có thị trường lao
động kém phát triển nhất như các huyện nghèo) và bằng 41,5% vùng I - vùng cao nhất
(vùng có thị trường lao động phát triển nhất như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội).
Hiện nay mức lương tối thiểu là cơ sở để tính toán tiền lương của cán bộ, công
chức khu vực hành chính Nhà nước, tuy nhiên, lương tối thiểu chưa đáp ứng được mức
sống tối thiểu của chức danh lao động phục phụ, tạp vụ. Tiền lương của các công chức
thấp, không khuyến khích được tính tích cực, tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc
và có hệ lụy thúc đẩy dòng chảy lao động chuyên môn nghiệp vụ từ khu vực này sang
khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước...
- Phân biệt đối xử mức lương tối thiểu theo chủ sở hữu giữa DN có v ốn đầu tư
cao ở nước ta (chỉ số giá tiêu dùng năm 2007 tăng 12,63%, năm 2008: 22,97%), năm
2010 lạm phát cũng đến 2 con số, làm cho tiền lương thực tế của công chức giảm nhanh.
Một số mặt hàng tăng với tốc độ rất nhanh, như tăng giá vàng (tháng 10/2005 là 12 triệu
đồng/10 chỉ, đến 10/2010 là 35,5 triệu đồng/10 chỉ, tăng bình quân 39,16%/năm), tăng
giá bất động sản... trong khi giá cả các mặt hàng này có liên quan đến nhu cầu hàng hoá
để đảm bảo nâng cao mức sống của cán bộ, công chức. (một công chức mức lương
5tr/tháng sống ở Hà nội muốn mua được nhà phải nhịn ăn 20 năm)
III. KHUYẾN NGHỊ
3.1. Khuyến nghị chung
Về lương tối thiểu:
- Nên quy định 02 mức lương tối thiểu, 01 mức cho các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài; 01 mức cho cho doanh nghiệp, các đơn vị còn lại thay cho 03 mức như
hiện nay.
- Duy trì mức lương tối thiểu vùng nhưng có hướng giảm dần khoảng cách chênh
lệc giữa các vùng;
- Coi trọng những giải pháp chống làm phát và kiểm soát bình ổn giá để nâng hiệu
quả của việc tăng lương tối thiểu, không nên thông báo sớm việc tăng lương tối thiểu để
trách tình trạng giá cả tăng trước.
- Hằng năm, căn cứ chỉ số (CPI), tăng trưởng kinh tế của đất nước, thị trường lao
động để điều chỉnh mức lương tối thiểu chung cho hợp lý, làm căn cứ cho từng khu vực
xây dựng mức lương tối thiểu ngành, vùng....mức lương tối thiểu phải đảm bảo mức sống
tối thiểu.
Về hệ thống thang bảng lương:
- Để việc tăng lương có ý nghĩa nên cải cách hệ thống thang bảng lương như là
tăng hệ số khởi điểm của các nhóm, ngạnh lương VD chuyên viên khởi điểm là 3,5 thay
cho 2,34 như hiện nay và khoảng cách giữa các bậc lương 0,5 thay cho hiện nay là 0,33 .