VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MẠNH HÙNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ
MÔI TRƯỜNG RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MẠNH HÙNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ
MÔI TRƯỜNG RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HỒ VIỆT HẠNH
HÀ NỘI, năm 2019
cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học.
Đà Nẵng, ngày 25 tháng 02 năm 2019
Tác giả
Lê Mạnh Hùng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG....................8
1. 1. Môi trường rừng và dịch vụ môi trường rừng...........................................8
1.2. Chi trả dịch vụ môi trường rừng................................................................ 9
1.3. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng............................................ 10
1.4. Thực hiện chính sách chi trả DVMTR.....................................................18
1.5. Kinh nghiệm về thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của
một số địa phương...........................................................................................20
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách chi trả DVMTR...........22
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ
DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG..........28
2.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu...................................................................28
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại thành phố Đà Nẵng .. 36
2.3. Đánh giá chung về thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại thành phố Đà
Nẵng................................................................................................................48
2.4. Hạn chế và nguyên nhân.......................................................................... 54
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
Doanh nghiệp
MTR
Môi trường rừng
PES
Chi trả dịch vụ môi trường rừng
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
tác hại của thiên tai như hạn hán và lũ lụt.
Thành phố Đà Nẵng có diện tích rừng tương đối lớn và vai trò rất quan
trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, tạo cảnh quan thiên nhiên phục vụ
cho dịch vụ du lịch, duy trì nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; phòng
chống tác hại của lũ lụt, đảm bảo an toàn cho các vùng sản xuất nông nghiệp
và dân cư ở vùng hạ du. Tuy nhiên, Chính sách chi trả DVMTR mới được
thành phố Đà Nẵng triển khai từ năm 2014 với việc thành lập Quỹ Bảo vệ và
Phát triển rừng thành phố và chính thức đi vào hoạt động từ giữa năm 2017,
nhưng được đánh giá là một trong những tỉnh thực hiện tốt chính sách chi trả
dịch vụ môi trường rừng. Theo số liệu báo cáo của Quỹ bảo vệ môi trường
rừng thành phố Đà Nẵng thì tổng diện rừng được chi trả DVMTR toàn thành
phố là 42.087,5 ha, với 11 đơn vị phải nộp tiền sử dụng dịch vụ môi trường
rừng; 15 tổ chức, đơn vị và 598 hộ gia đình, cá nhân được chi trả tiền dịch vụ
môi trường rừng.Tuy vậy, trong thực tiễn triển khai vẫn có một số tồn tại, bất
cập trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR cần được khắc phục, điều
chỉnh như: địa vị pháp lý của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng chưa được xác
định rõ ràng; nhận thức của chính quyền hay các tổ chức, cá nhân về DVMTR
còn hạn chế; các thể chế và quy định về chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn
1
còn sơ sài...
Xuất phát từ các vấn đề trên thì việc nghiên cứu thực trạng thực hiện
chính sách chi trả DVMTR để từ đó nêu ra những định hướng và giải pháp
nhằm hoàn thiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
nhằm góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách chi trả
DVMTR, làm cho chính sách này thực sự đi vào cuộc sống của người dân,
của chính quyền địa phương là hết sức cần thiết.
Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện
chính sách môi trường ở Việt Nam. Nghiên cứu này còn cung cấp cho các nhà
hoạch định chính sách những đánh giá và phân tích cụ thể về tính hiệu quả, hiệu
ích và công bằng của PFES trong quá trình triển khai từ năm 2008 đến nay.
-
Nguyễn Chí Thành, (2014). “Báo cáo đánh giá việc thực hiện chính
sách chi trả DVMTR ở tỉnh Nghệ An từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2014”.
Báo cáo này khái quát tình hình thực hiện Chính sách chi trả DVMTR trên địa
bàn tỉnh Nghệ An từ thời điểm thành lập Quỹ BV&PTR tỉnh Nghệ An (Tháng
11/2011) đến thời điểm tháng 6/2014, bao gồm những quy định bằng văn bản
đến các hoạt động thực tế đã triển khai. Báo cáo phân tích, đánh giá rút ra
những nội dung gì là phù hợp, những nội dung gì cần điều chỉnh, những bài
học kinh nghiệm nhằm cung cấp cho các cơ quan có trách nhiệm của tỉnh xem
xét, sử dụng và Dự án VFD xem xét hỗ trợ để thực hiện chính sách chi trả
DVMTR trên địa bàn tỉnh Nghệ An đạt được kết quả tốt hơn.
Nhìn chung các công trình trên đã nghiên cứu tổng quan về thực trạng
chi trả DVMTR ở một số địa phương. Tuy nhiên, nội dung chi trả DVMTR ở
thành phố Đà Nẵng hiện nay chưa có tác giả nào nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan, luận văn làm rõ
thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách chi trả
DVMTR trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Phân tích thực trạng thực hiện chính sách chi trả DVMTR tại thành
5. Cơ sở lý luận và phương pháp ngiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Chính sách chi trả DVMTR thực hiện dựa trên các văn bản Luật, Nghị
định, Thông tư hướng dẫn và các văn bản có liên quan như:
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03 tháng 12
năm 2004;
-
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 16/2017/QH14 ngày 15 tháng 11
năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019);
-
Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 10/4/2008 của Chính phủ về Chính
sách chi trả dịch vụ môi trường rừng;
-
-
Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 Quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật lâm nghiệp (có hiệu lực từ ngày
01/01/2019);
Thông tư số 80/2011/TT-BNNPTNT ngày của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Hướng dẫn phương pháp xác định tiền chi trả DVMTR.
-
Thông tư số 20/2012/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục nghiệm thu thanh toán tiền chi trả
-
+
Các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng,
khoán bảo vệ rừng là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất (70
phiếu).
Mục đích điều tra, phỏng vấn nhằm thu thập thông tin đánh giá thực
trạng công tác quản lý chi trả DVMTR tại thành phố Đà Nẵng.
5.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
Thứ nhất, thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu, thông tin, dữ liệu có liên quan đến
các nội dung nghiên cứu như kết quả nghiên cứu, các báo cáo, thống kê, các
kết quả điều tra có sẵn, số liệu về đặc điểm kinh tế, môi trường và xã hội...
Các số liệu này được khai thác từ những nguồn đáng tin cậy như: Chính
phủ; Bộ Nông nghiệp và PTNT; Quỹ BV&PTR Việt Nam; UBND thành phố
Đà Nẵng; Sở Nông nghiệp và PTNT thành phố Đà Nẵng; Quỹ BV&PTR
thành phố Đà Nẵng; Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng, cùng với UBND
các quận, huyện, xã, phường, Hạt Kiểm lâm các quận, huyện và kết quả
nghiên cứu của các ngành khoa học khác...
Thứ hai, thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu bằng phương pháp điều tra, phỏng
vấn thông qua các phiếu điều tra, phỏng vấn đã được chuẩn bị sẵn.
* Đối với hộ dân:
5
Các hộ dân nhận được tiền chi trả DVMTR chi dùng như thế nào, cách
thức nhận kinh phí chi trả DVMTR;
-
+ Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong
lĩnh vực liên quan;
Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở các nội dung đã phân tích ở các
chương, tác giả dùng phương pháp này để tổng hợp thành báo cáo hoàn chỉnh.
-
5.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn
-
Chỉ tiêu phản ánh tình hình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp của
tỉnh: Diện tích đất lâm nghiệp; diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng
sản xuất; diện tích rừng giao cho ban quản lý rừng, cộng đồng, cá nhân;
Chỉ tiêu phản ánh số tiền thu từ DVMTR: Tổng số tiền thu, số tiền thu
của từng cơ sở, lãi thu được từ nguồn DVMTR;
-
-
Chỉ tiêu phản ánh công tác chi trả DVMTR: số tiền chi trả tiền
6
DVMTR, định mức chi trả, hình thức chi trả, đối tượng chi trả,….;
-
Chỉ tiêu phản ánh tác động của quản lý chi trả DVMTR: thu nhập của
hộ gia đình sau khi chi trả DVMTR, tỷ lệ hộ nghèo, tình hình an ninh trật tự
1.1.1. Khái niệm môi trường rừng
Theo Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) thì môi trường rừng
(MTR) bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi
sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. MTR có các giá trị sử
dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của MTR,
gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven
biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ cacbon, du
lịch, nơi cu trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác.
Theo Khoản 8, Điều 3 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018
của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp thì
môi trường rừng (MTR) là một bộ phận của hệ sinh thái rừng bao gồm: đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng và các yếu tố vật chất khác tạo nên cảnh
quan rừng.
1.1.2. Khái niệm dịch vụ môi trường rừng
Theo Khoản 23, Điều 2, Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14, Dịch vụ
môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của MTR để đáp
ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của con người.
Các loại DVMTR bao gồm: Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng
lòng hồ, lòng sông, lòng suối; Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và
đời sống xã hội; Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cacbon của rừng, giảm phát thải
khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm
diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo
tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch;
Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng
8
nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.
Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng DVMTR
được tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng DVMTR.
-
1.2.2. Các loại rừng và loại dịch vụ môi trường rừng được trả tiền
dịch vụ môi trường rừng
Thứ nhất, rừng được chi trả tiền DVMTR là các khu rừng (kể cả rừng
trồng và rừng tự nhiên), thuộc đối tượng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và
rừng sản xuất nằm trong quy hoạch lâm nghiệp của tỉnh, có cung cấp một hay
nhiều DVMTR.
Rừng phòng hộ và rừng đặc dụng được đầu tư chi trả để khuyến khích
bảo vệ và phát triển để đảm bảo chức năng phòng hộ, phòng chống thiên tai,
bảo vệ môi trường, bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học (mức đầu tư theo
9
quy định của Nhà nước về định giá các loại rừng).
Đối với rừng sản xuất (cả rừng trồng và rừng tự nhiên), nếu diện tích
rừng khép tán, bảo đảm chức năng phòng hộ môi trường theo các cấp độ khác
nhau khi phân loại rừng, thì trong giai đoạn chưa khai thác, được chi trả đầu
tư, hỗ trợ như rừng phòng hộ.
Khi khai thác rừng sản xuất (là tác động làm suy giảm chức năng phòng
hộ của rừng) chủ rừng phải chi trả tiền để tái phục hồi phát triển diện tích
rừng theo quy định để bảo đảm chức năng phòng hộ của rừng.
Thứ hai, loại DVMTR được trả tiền DVMTR bao gồm bảo vệ đất, hạn
chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì
nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; hấp thu và lưu giữ cacbon của
rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn
suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; bảo vệ cảnh
(người hưởng lợi) để thanh toán cho người bán (là người sản xuất và cung cấp
dịch vụ môi trường rừng).
Dù thực hiện chi trả DVMTR trực tiếp hay gián tiếp thì thực chất thực
hiện chi trả DVMTR vẫn là quan hệ kinh tế giữa người sản xuất cung ứng
dịch vụ môi trường rừng (người bán) với người hưởng thụ DVMTR (người
mua, người phải chi trả).
1.3.2. Tầm quan trọng của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Thứ nhất, tác động của chính sách chi trả DVMTR đối với người sử
dụng DVMTR.
Chi trả DVMTR đem lại lợi ích cho người chi trả DVMTR (người sử
dụng DVMTR). Việc phải trả tiền khi sử dụng các DVMTR tác động tới sự
tính toán của người sử dụng dịch vụ trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên
từ rừng sao cho tiết kiệm và có hiệu quả nhất, từ đó không những sẽ giảm các
thiệt hại về doanh thu và tăng lợi nhuận của người sử dụng mà còn góp phần
tăng cường công tác bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ.
Thứ hai, tác động của chính sách chi trả DVMTR đối với người cung
ứng DVMTR.
Tại Việt Nam trước đây, khi chưa thực hiện chính sách chi trả DVMTR,
đối với những người chủ rừng hay người dân sinh sống trong khu vực, những
giá trị họ nhận được từ rừng chủ yếu là giá trị trực tiếp. Những giá trị này bao
gồm giá trị về gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị dịch vụ du lịch, giải trí, nghỉ
11
dưỡng… và thực tế thì những giá trị này là rất thấp. Thu nhập trực tiếp của
người dân từ rừng phòng hộ chủ yếu là tiền khoán bảo vệ rừng của Nhà nước.
Khi người làm rừng tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ môi trường rừng,
cụ thể ở đây là phòng hộ đầu nguồn, thay vì phá rừng họ sẽ giữ rừng và nhận
được tiền cho việc cung cấp của mình. Đồng thời, Nhà nước vẫn giao việc
người nghèo. Là một quốc gia đang phát triển, đề cao công tác xóa đói giảm
nghèo, do đó việc thực hiện chi trả DVMTR vừa gắn với người nghèo, vừa
bảo vệ môi trường rất được Chính phủ khuyến khích. Việc thực hiện chi trả
DVMTR có thể đem đến lợi ích cho người nghèo dưới hai hình thức trực tiếp
và gián tiếp. Các lợi ích trực tiếp bao gồm những chi trả bằng tiền để giúp
người cung cấp DVMTR cải thiện thu nhập và đời sống của họ. Các lợi ích
gián tiếp có thể kể đến là việc hỗ trợ người nghèo có tiếng nói mạnh mẽ hơn
trong tiến trình đàm phán hợp đồng, giảm các mâu thuẫn xã hội hay học hỏi
được những kỹ năng tiên tiến.
-
Chính sách chi trả DVMTR đối với DN: Hiện nay, chi trả DVMTR là
một chính sách đầy mới mẻ với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở Việt
Nam, nên nhận thức về lợi ích của Chính sách chi trả DVMTR với bản thân
các DN còn nhiều hạn chế. DN cũng là một thành phần của xã hội, do vậy lợi
ích DN có được cũng trở thành một phần lợi ích của toàn xã hội. Dựa trên
kinh nghiệm của các nước đã thực hiện DVMTR trên thế giới và tiềm năng
mở cửa của Việt Nam, DN có thể nâng cao hình ảnh của mình đối với khách
hàng khi tham gia vào chi trả DVMTR. Việc xây dựng thương hiệu của DN
gắn liền với môi trường đang trở thành một xu hướng của thời đại và các DN
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, để kịp thời tiếp thu và áp dụng
trong điều kiện của mình. Tham gia chi trả DVMTR mang lại hình ảnh thân
thiện với môi trường cho DN, từ đó xuất hiện nhiều cơ hội kinh doanh hơn,
đặc biệt là với các đối tác nước ngoài. Mặt khác, bằng việc chi trả một khoản
tiền để duy trì và bảo tồn rừng, DN đã đóng góp vào hoạt động bảo vệ môi
trường cùng toàn xã hội, đem lại lợi ích cho chính bản thân DN và những
người khác.
-
-
Thực tế cho thấy, cùng với các giải pháp chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của
Chính phủ, chính sách chi trả DVMTR đã phát huy tác dụng, có tác động tới
công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Rừng được bảo vệ tốt hơn, tình
trạng vi phạm các quy định của Pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng, phòng
cháy, chữa cháy giảm dần qua các năm. Chính sách đã từng bước góp phần ổn
định, đảm bảo diện tích, duy trì độ che phủ của rừng, nâng cao chất lượng
rừng và góp phần cải thiện chất lượng môi trường sinh thái.
Tổng diện tích rừng trong các lưu vực có cung ứng DVMTR toàn quốc
khoảng 4,1 triệu ha, hàng năm nguồn tiền DVMTR đã giải ngân, chi trả cho
14
các chủ rừng nhận giao, khoán bảo vệ rừng từ 2,8 đến 3,37 triệu ha rừng/13,8
triệu ha rừng của cả nước (chiếm tỷ lệ 20-27%) góp phần nâng cao trách
nhiệm bảo vệ rừng. Theo Báo cáo Tổng kết năm 2017 của Cục Kiểm lâm,
tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2017 so với năm 2016
của toàn quốc giảm 23%; tổng diện tích bị thiệt hại năm 2017 so với năm
2016 của toàn quốc giảm 68. Do có thu nhập từ chính sách chi trả DVMTR
nên đã khuyến khích chủ rừng, người dân tham gia công tác phát triển rừng.
-
Thực hiện chính sách chi trả DVMTR giải quyết khó khăn về kinh phí
hoạt động cho các chủ rừng; tạo ra nguồn tài chính bền vững, giảm áp lực chi
ngân sách:
Từ năm 2013, Chính phủ có chủ trương tạm dừng khai thác chính gỗ từ
rừng tự nhiên, một số chủ rừng, công ty lâm nghiệp không còn nguồn thu từ khai
giới hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trả tiền chi trả
dịch vụ MTR cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh.
Mức chi trả và số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thực hiện theo
quy định tại Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, phù hợp với từng loại hình cơ sở
sử dụng DVMTR. Chẳng hạn:
-
Đối với các cơ sở sản xuất thuỷ điện: Mức chi trả tiền DVMTR áp
dụng đối với các cơ sở sản xuất thuỷ điện, hiện nay là 20 đồng/1kwh điện
thương phẩm. Sản lượng điện để tính tiền chi trả DVMTR là sản lượng điện
của các cơ sở sản xuất thuỷ điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua
bán điện; Số tiền phải chi trả DVMTR trong kỳ hạn thanh toán (đ) bằng sản
lượng điện trong kỳ hạn thanh toán (kwh) nhân với mức chi trả DVMTR tính
trên 1 kwh (20đ/1kwh).
Đối với các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch: Mức chi trả tiền
DVMTR áp dụng đối với các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch hiện là
-
40đ/m3 nước thương phẩm. Sản lượng nước để tính tiền chi trả DVMTR là
sản lượng nước của các cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch bán cho người
tiêu dùng; Số tiền phải chi trả DVMTR trong kỳ hạn thanh toán (đ) bằng sản
lượng nước thương phẩm trong kỳ hạn thanh toán (m3) nhân với mức chi trả
dịch vụ môi trường rừng tính trên 1m3 nước thương phẩm (40đ/1m3).
-
Đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi
từ dịch vụ môi trường rừng: Mức chi trả tiền DVMTR tính bằng 1% đến 2%
trên doanh thu thực hiện trong kỳ; Số tiền phải chi trả DVMTR trong kỳ hạn