ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ NĂM 1858 ĐẾN
CUỐI THẾ KỈ XIX) Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NAM
(chương trình chuẩn)
Sinh viên thực hiện
: Trương Công Hoài Thư
Chuyên ngành
: Sư phạm Lịch sử
Lớp
: 14SLS
Người hướng dẫn
: Ths. Trương Trung Phương
Đà Nẵng, 4/2018
1858 – cuối thế kỉ XIX……………………………………………………...............37
Hình 3.1: Lược đồ khởi nghĩa Yên Thế…………………………………………… 38
Hình 3.2: Lược đồ khởi nghĩa Hương Khê………………………………………
42
Sơ đồ 3.1: Tình hình Việt Nam trước khi Pháp xâm lược……………………….....39
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
HS
Học sinh
GV
Giáo viên
LS
Lịch sử
THPT
Trung học phổ thông
THCS
Trung học cơ sở
1.2.3. Nội dung điều tra ................................................................................................16
1.2.4. Kết quả điều tra...................................................................................................16
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI HỌC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ
NĂM 1858 ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX) Ở TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH
CHUẨN) .......................................................................................................................18
2.1 Nội dung cơ bản phần lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX .....18
2.2. Năng lực thực hành cần phát triển cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở
trường THPT ...............................................................................................................24
2.3. Xây dựng hệ thống bài học phục vụ phát triển năng lực thực hành cho học
sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1858 đến cuối thế kỉ XIX), ở trường THPT
(chương trình chuẩn)...................................................................................................27
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ NĂM 1858 CUỐI
THẾ KỈ XIX) Ở TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN).........................29
3.1. Yêu cầu khi phát triển năng lực thực hành lịch sử cho học sinh .....................29
3.2. Một số biện pháp phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học
lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) ở trường THPT (Chương
trình chuẩn) ..................................................................................................................32
3.2.1. Hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức về phương pháp thực hành lịch sử
.......................................................................................................................................32
3.2.2. Hướng dẫn luyện tập các kĩ năng thực hành lịch sử .......................................35
3.2.2.1. Kĩ năng lập niên biểu lịch sử ............................................................................35
3.2.2.2. Kĩ năng xây dựng và sử dụng bản đồ lịch sử ...................................................37
3.2.2.3. Kĩ năng vẽ sơ đồ lịch sử ...................................................................................39
3.2.2.4. Kĩ năng tìm hiểu và tập trình bày một vấn đề lịch sử ......................................40
3.2.2.5. Kĩ năng khai thác kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử ..............................41
3.2.2.6. Kĩ năng sử dụng máy tính và khai thác tài liệu trên mạng Internet ............43
chỉ là những câu chuyện với kiểu học thuộc lòng, cho rằng học lịch sử không cần bài
tập, không cần thực hành và nếu có thì chủ yếu là tập trung vào việc rèn luyện các bài
tập Lịch sử. Sự nhận thức chưa đúng đắn này không chỉ làm hạn chế hiệu quả bài học
mà còn thực hiện không đúng những tính chất, nguyên lí giáo dục của một nền giáo
dục hiện đại. Trong giáo dục nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng, nguyên lí “học đi
đôi với hành’’ được xem là nguyên tắc giáo dục cơ bản nhất, nó chỉ đạo việc xác định
những nhiệm vụ, nội dung, phương pháp giáo dục cụ thể. “Học đi đôi với hành”- một
trong bốn nội dung của nguyên lí giáo dục, là một tư tưởng giáo dục vừa có tính khoa
học, vừa có tính thực tiễn. Phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học
Lịch sử thông qua việc tăng cường tổ chức các hoạt động, hành động học tập cho học
sinh là biện pháp đa dạng hóa các hình thức dạy học, tích cực hóa, hoạt động hóa học
sinh, hạn chế những giờ học trên lớp nhàm chán thường xuyên lặp đi lặp lại, gắn học
1
với hành, gắn kiến thức lí luận với thực tiễn, là biện pháp khắc phục tình trạng quá coi
trọng lí thuyết và xem nhẹ thực hành, thực tiễn.
Do vậy việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử là
một trọng những việc làm cần thiết, giúp học sinh tăng hứng thú học tập và rèn luyện
kỹ năng góp phần giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nước và nếu làm tốt sẽ góp phần
nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông. Vì thế việc phát
triển năng lực thực hành cho học sinh là một biện pháp cần chú trọng thực hiện. Với
những lí luận nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực thực hành cho học
sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) ở trường
THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam’’ (Chương trình chuẩn) làm công trình nghiên
cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước ở
những góc độ khác nhau, tiêu biểu:
giáo viên Lịch sử lớp 11” (Phan Ngọc Liên - Nguyễn Ngọc Cơ chủ biên, NXB Giáo
dục, 2007)….đã đề cập đến việc rèn luyện kĩ năng cho HS thông qua mục tiêu cụ thể
của từng bài học.
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực thực
hành cho HS phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam là không ít. Tuy nhiên, đa số các công
trình đều trình bày một cách khái quát, chưa đi sâu vào thiết kế cho từng giai đoạn đặc
biệt là giai đoạn (từ năm 1858 – cuối thế kỉ XIX). Chính vì vậy công trình nghiên cứu
này sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn chi tiết cụ thể hơn về vấn đề phát triển năng lực
thực hành phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 – cuối thế kỉ XIX).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam (từ
năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các năng lực thực hành của HS THPT qua
phần LS Việt Nam lớp 11, THPT (chương trình chuẩn).
Khóa luận không đi vào nghiên cứu năng lực học tập môn LS nói chung mà tập
trung vào làm rõ những vấn đề lí luận, thực tiễn của năng lực thực hành lịch sử. Trên
cơ sở đó đề xuất một số biện pháp phù hợp có thể thực hiện được trong điều kiện ở các
3
nhà trường THPT hiện nay nhằm phát triển năng lực thực hành lịch sử của HS.
Để khẳng định tính khả thi của công trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành điều
tra, thực nghiệm sư phạm các biện pháp đề xuất trong hoạt động nội khóa và ngoại
khóa chủ yếu ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ kết quả TN, chúng
tôi rút ra kết luận khái quát và kiến nghị.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm, đường lối của Đảng, nhà nước ta về
giáo dục lịch sử và nhận thức LS. Đề tài cũng dựa vào lí luận dạy học của Giáo dục
học, Tâm lí học, Lý luận và Phương pháp dạy học môn LS,...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tuân thủ những nguyên tắc của nghiên cứu khoa học nói chung và căn cứ vào
đặc thù của bộ môn cũng như nội dung, tính chất của đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục sau:
- Nghiên cứu các tài liệu Tâm lý học, Giáo dục học, nhất là lí luận dạy học bộ
môn liên quan đến vấn đề thực hành của HS trong dạy học LS ở trường phổ thông
cùng các tài liệu khác có liên quan.
- Nghiên cứu thực tiễn khâu thực hành ở trường THPT trên nhiều tỉnh, thành
của cả nước qua các phiếu điều tra, dự giờ, phỏng vấn,...
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa LS cấp THPT, nhất là lớp 11 phần
LS Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) để xác định những nội dung có thể
áp dụng các biện pháp thực hành cho HS.
- Soạn bài và thực nghiệm sư phạm theo những biện pháp đề xuất trong khóa
luận để kiểm chứng tính khả thi của đề tài.
- Sử dụng phương pháp toán học thống kê, tập hợp và xử lí số liệu đã thu được
để phân tích, nhận xét và rút ra những kết luận rồi nêu kiến nghị.
5
6. Đóng góp của khóa luận
- Đề tài khóa luận góp phần khẳng định rõ vai trò, ý nghĩa của việc phát triển
năng lực thực hành cho HS trong dạy học Lịch sử ở trường THPT.
- Đánh giá đúng thực trạng việc dạy học Lịch sử và thực trạng vấn đề phát triển
năng lực thực hành học tập Lịch sử cho HS ở trường THPT.
hiện ở mức độ khác nhau thông qua chất lượng và sự nhạy bén làm chủ tình huống để
thực hiện tốt hành động ở một lĩnh vực nào đó trong các tình huống khác nhau.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về năng lực, với những cách tiếp cận khác
nhau thì các nhà nghiên cứu khoa học có thể định nghĩa khác nhau về năng lực:
Theo giáo sư Hoàng Phê trong từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều
kiện chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một công việc nào đó; Phẩm chất tâm lý
và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất
lượng cao”.[25]
Theo PGS. TSKH Thái Duy Tuyên trong Giáo dục học hiện đại : “Năng lực Là
những đặc điểm tâm lí của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một
dạng hoạt động nhất định. Năng lực có quan hệ với kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. Năng lực thể
hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động ở tính
sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động. Một số năng lực có thể đo được
bằng trắc nghiệm”. [31]
Theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn trong Giáo trình tâm lí học đại cương: “Năng
lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình
huống phức tạp nào đó”. [34]
Theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn trong Giáo trình tâm lí học đại cương: “Năng
lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một
hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đó hoạt động có kết quả”. [34]
7
Theo OEDC (Tổ chức kinh tế các nước phát triển) : “Năng lực là khả năng cá
nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối
cảnh cụ thể” [14;107]
Theo Chương trình giáo dục Quécbec (Chương trình GDTH Quécbec- Bộ giáo
dục Canada -2004): “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu
quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng
con người.
Từ những khái niệm như đã trình bày ở trên và căn cứ vào những đặc trưng của
bộ môn lịch sử có thể hiểu “Thực hành trong học tập Lịch sử là những hoạt động,
hành động học tập của học sinh trên cơ sở vận dụng những hiểu biết về kiến thức lịch
sử và phương pháp học tập bộ môn để giải quyết những nhiệm vụ học tập và những
vấn đề của cuộc sống đặt ra”.
Đối tượng của thực hành lịch sử là những kiến thức lịch sử cơ bản thuộc
chương trình SGK và những kĩ năng học tập bộ môn. Phương thức tiến hành các hoạt
động thực hành trong dạy học lịch sử rất phong phú, đa dạng, chủ yếu phụ thuộc vào đặc
trưng kiến thức, điều kiện vật chất cho phép thực hiện cũng như khả năng hiện có của HS.
Hình thức thực hành sẽ chi phối hành động, thao tác học tập của HS.
Căn cứ vào lí luận dạy học và đặc trưng của kiến thức lịch sử, vấn đề thực hành bộ
môn lịch sử bao gồm:
Thực hành bộ môn bao gồm tất cả những công việc cần thiết học sinh phải làm để
hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào tiếp thu kiến thức mới. Đó là những phương thức,
biện pháp cụ thể hóa tri thức như “đọc”, biết vẽ, biết sử dụng bản đồ lịch sử, xây dựng các
đồ dung trực quan quy ước khác ngoài bản đồ như biểu đồ, sơ đồ, đồ thị, làm các mô hình,
sa bàn, đồ phục chế đơn giản nhưng chính xác, khoa học.
Sử dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống như vận dụng những
hiểu biết về lịch sử quá khứ để hiểu, giải thích hiện tại và biến thành hành động thực
tiễn; tập dượt các công việc nghiên cứu lịch sử, tham gia sưu tầm tài liệu để biên soạn
và học tập LS địa phương; tham gia vào những hoạt động mang tính công ích xã hội:
xây dựng phòng, nhà truyền thống địa phương, hành quân theo bước chân người anh
hùng, đi tìm địa chỉ đỏ, gìn giữ chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ.
1.1.3. Đặc điểm của kiến thức lịch sử và nhận thức lịch sử của học sinh
Khác với kiến thức của các môn học khác, kiến thức lịch sử trong nhà trường
9
10
việc dạy học ở trường phổ thông đòi hỏi giáo viên phải tạo điều kiện cho các em lĩnh
hội kiến thức một cách chủ động, sáng tạo và bền vững hơn.
Những đặc điểm của kiến thức lịch sử nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp tới quá
trình nhận thức lịch sử của học sinh. Học sinh không được trực tiếp quan sát đối tượng
nhận thức. Quá trình nhận thức bắt đầu trên cơ sở nắm bắt lại những nét cơ bản của sự
kiện để khôi phục lại bức tranh lịch sử, tìm hiểu bản chất, rút ra tính quy luật, bài học
kinh nghiệm cá nhân, giải thích hiện tại, dự đoán tương lai. Quá trình nhận thức lịch sử
của học sinh đi từ xa đến gần ngược lại với nhận thức của các em phải đi từ gần đến
xa. Các biện pháp thực hành giúp học sinh tạo ra các biểu tượng lịch sử, khắc phục
tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử. Khôi phục lại bức tranh lịch sử chính xác, khoa học
là cơ sở, là điều kiện bắt buộc cho quá trình nhận thức lí tính tiếp theo. Ngoài ra, các
công việc như sưu tầm tư liệu, tập nghiên cứu lịch sử; các hoạt động mang tính công
ích xã hội như xây dựng phòng, nhà truyền thống địa phương, đi tìm địa chỉ đỏ, gìn
giữ, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ là hình thức gắn kiến thức đã học vào thực tiễn và có
tác dụng giáo dục học sinh. Từ đó, có thể khẳng định đặc điểm của kiến thức lịch sử
không chỉ tạo khả năng mà còn đòi hỏi quá trình dạy học lịch sử phải thực hiện các
biện pháp thực hành lịch sử.
1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong
dạy học lịch sử ở trường THPT
Mục tiêu của giáo dục phổ thông được xác định rõ tại điều 27, Luật giáo dục là:
giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị
cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. “Trong đó, mục tiêu của giáo dục THPT nhằm: giúp HS củng cố và phát
triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những
liên quan trực tiếp đến chiến sự: Đại đồn Chí Hòa, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long hay
các kí hiệu có tính chất quy ước: hướng tấn công của địch của ta,… Khi đọc lược đồ, học
sinh biết cách khai thác thông tin cần thiết, biến những kí hiệu quy ước thành lời nói hay
viết. Nhờ đó các e có thể nhanh chóng nắm được diễn biến tình hình chiến sự. Năng lực
khai thác lược đồ còn được thể hiện qua khả năng phân tích, nhận xét, đánh giá mối liên
hệ giữa các thông tin thể hiện qua cách nhìn khái quát toàn bộ chiến sự trên lược đồ.
Chẳng hạn như học sinh có thể đánh giá được tại sao Pháp lại tấn công Gia Định, hay HS
có thể phân tích những khó khăn mà Pháp gặp phải khi tấn công Gia Định…Qua đó, HS
12
thấy được ý đồ của Pháp khi tấn công Gia Định cũng như những khó khăn mà Pháp gặp
phải trong quá trình chiếm Gia Định.
Ngoài ra, năng lực thực hành còn giúp học sinh vận dụng tốt những kiến thức đã
học vào thực tiễn cuộc sống, nổi bật đó là nó luôn mang lại cho học sinh những bài học
mà HS gặp ở mọi lúc mọi nơi, những tiết học lịch sử thực sự phát huy tác dụng khi học
sinh biết vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết nhu cầu nào đó hay để nâng cao
sự hiểu biết của mình và năng lực thực hành là yếu tố cần thiết giúp học sinh đáp ứng
chính nhu cầu ấy một cách nhanh chóng và hiệu quá nhất. Ví dụ, tổ chức cho HS đi thăm
quan thành Điện Hải (Đà Nẵng). Nếu có năng lực tốt thì các em sẽ vận dụng năng lực
thực hành đã được học vào việc tìm hiểu khu di tích đó như quan sát vị trí địa lí để phát
hiện ra sự lợi hại của khu di tích đã góp phần đẩy lui cuộc tấn công của quân Pháp 1858 –
1860. Ngoài sự quan sát, HS có thể tìm hiểu khu di tích qua việc đưa ra những câu hỏi
nhờ sự giải đáp của người hướng dẫn tham quan, hoặc tìm mua sách, báo đọc thêm
hay tra cứu trên mạng internet,... Nhờ đó các em hiểu rõ hơn tầm quan trọng của thành
Điện Hải trong những ngày đầu chống Pháp xâm lược.
* Về kĩ năng:
Năng lực thực hành cho học sinh những hiểu biết về lựa chọn hoạt động thực
hành phù hợp với nội dung kiến thức. Ví dụ, học về diễn biến một chiến dịch cụ thể
như nhu cầu được tham gia vào các hoạt động cụ thể và ý chí vượt khó để hoàn thành
nhiệm vụ. Tâm lí học quan niệm ý chí là một phẩm chất tâm lí của cá nhân, một thuộc
tính tâm lí của nhân cách. Trong ý chí có những phẩm chất quan trọng, cơ bản của
nhân cách như tính mục đích, tính độc lập, tính quyết đoán, tính bền bỉ và tính tự chủ
[34, tr.166-168]. Tổ chức các hoạt động thực hành lịch sử có tác dụng rèn luyện ý thức
học tập và góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh. Yêu cầu của thực
hành càng cao thì sự nỗ lực, ý chí phấn đấu càng lớn. Bên cạnh những phẩm chất trên,
các hoạt động thực hành còn rèn luyện tinh thần tự giác trong lao động, tạo thói quen
dám nghĩ, dám làm và phong cách làm việc khoa học cho học sinh.
Phát triển năng lực thực hành cho học sinh thông qua việc tổ chức các hoạt
động thực hành trong dạy học lịch sử là một hình thức đa dạng hóa các hoạt động
nhận thức ở các điều kiện sư phạm khác nhau. Sự đa dạng cả về môi trường học tập
và hành động học tập đã khắc phục được tình trạng nhàm chán của giờ học nội khóa
khi các hành động tương tự cứ bị lặp đi lặp lại nhiều lần. Môi trường học phong phú,
tạo ra các tình huống học tập khác nhau có tác dụng kích thích trí tò mò, tạo động cơ
14
cho học sinh hăng hái giải quyết nhiệm vụ, rèn luyện sự năng động nhạy bén của tư
duy. Tạo hứng thú học tập cho HS là một nghệ thuật sư phạm giúp học sinh thấy yêu
thích môn lịch sử hơn, là yếu tố kích thích tính tự giác, sáng tạo trong suốt quá trình
học tập của các em. Nhờ đó mà quá trình học tập thu được kết quả được tốt hơn.
Ví dụ như khi giáo viên dùng lược đồ trận Cầu Giấy để tường thuật diễn biến
trận phục kích trong bài 20 (Lịch sử 11) ‘’Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc kháng
chiến của nhân dân ta từ năm 1873 đến năm 1884. Nhà Nguyễn đầu hàng’’ học sinh
sẽ thấy chiến thắng Cầu Giấy có ý nghĩa vô cùng to lớn, khiến cho nhân dân ta vô
cùng phấn khích, làm cho thực dân Pháp vô cùng hoang man, lo sợ, chúng tìm cách
thương lượng với triều đình Huế. Tình hình đó đã tạo ra một cơ hội để quân ta tấn
công tiêu diệt địch buộc chúng rút khỏi bắt kì bằng tấn công quân sự. Nâng cao lòng
tra về việc giáo viên có quan tâm đến việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh
trong dạy học lịch sử.
+ Nhận thức của giáo viên về năng lực thực hành và tổ chức các hoạt động thực
hành.
+ Việc tổ chức các hoạt động thực hành cho học sinh gặp những khó khăn,
thuận lợi nào.
1.2.4. Kết quả điều tra
Đối với học sinh: sau khi điều tra chúng tôi đã tiến hành xử lí số liệu bằng
phương pháp thống kê toán học. Chúng tôi thấy học sinh tập trung vào nội dung thực
hành (xem phụ lục 3)
Đối với giáo viên: chúng tôi thấy rằng đa số giáo viên đều thấy được tầm quan
trọng của việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt
Nam ở trường THPT. Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau
nên việc phát triển năng lực thực hành còn hạn chế, mà chủ yếu do cơ sở vật chất của
trường và do tiết học quá ngắn so với lượng kiến thức cần cung cấp. (xem phụ lục 4)
Từ kết quả điều tra học sinh và giáo viên chúng tôi rút ra kết luận rằng: việc
phát triển năng lực thực hành phục vụ việc dạy học lịch sử, học sinh hứng thú với
phương pháp này, tuy nhiên kết quả đạt được chưa cao. Qua đó, chúng tôi thấy được
nguyên nhân mà đa số thầy cô đưa ra là:
16
Thứ nhất, do quan niệm sai lệch về bộ môn lịch sử của các cấp quản lý, giáo
viên, học sinh và xã hội, coi lịch sử là môn phụ không cần chú ý nhiều. Từ việc coi
thường bộ môn dẫn đến coi thường việc đổi mới trong dạy học nói chung và rèn
luyện kĩ năng thực hành lịch sử nói riêng
Thứ hai, hầu hết giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức
các hoạt động thực hành cho học sinh. Nhưng hiện nay ở nhiều trường học, đồ dùng hỗ
trợ dạy học môn lịch sử còn rất hạn chế. Chính vì điều này làm cho bài học lịch sử trở
Sau nhiều lần khiêu khích, lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô, Pháp đem quân xâm lược
Việt Nam. Chiều 31/8/1858, 3000 quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển
Đà Nẵng. Âm mưu của Pháp là chiếm xong Đà Nẵng sẽ kéo thẳng ra Huế, nhanh
chóng buộc nhà Nguyễn đầu hàng.
18
Rạng sáng 1/9/1858, quân Pháp nổ súng mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Quân
dân ta, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, anh dũng chống trả. Quân Pháp bước
đầu thất bại. Sau 5 tháng xâm lược, chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà.
Thấy không thể chiếm được Đà Nẵng, Pháp quyết định đưa quân vào Gia Định.
Tháng 02/1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định nhưng gặp nhiều khó khăn do hoạt
động của các dân binh. Kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp thất bại, chúng
phải chuyển sang kế hoạch “chinh phục từng gói nhỏ”.
Từ năm 1960, Pháp bị sa lầy trong cuộc chiến ở Trung Quốc, Xi-ri, phải rút
quân từ Đà Nẵng về Gia Định. Lực lượng địch rất mỏng, tình thế cực kì khó khăn.
Triều Nguyễn không tranh thủ phản công mà cử Nguyễn Tri Phương vào xây dựng
phòng tuyến Chí Hoà để “thủ hiểm”.
Các nghĩa dũng do Dương Bình Tâm lãnh đạo tiếp tục tấn công giặc ở đồn Chợ
Rẫy (07/1960), trong khi triều đình Huế xuất hiện tư tưởng chủ hòa.
Ngày 23/2/1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, gặp sự kháng cự quyết
liệt của quân Nguyễn. Sau hai ngày chiến sự ác liệt, quân Nguyễn bị tổn thất nặng.
Nguyễn Tri Phương bị thương, còn em là Nguyễn Duy thì tử trận. Quân Nguyễn phải
bỏ đại đồn Chí Hòa, rút về Biên Hòa.
Sau khi phá được đại đồn Chí Hòa, quân Pháp chiếm đánh Định Tường (Mỹ
Tho), đặt đồn lũy khắp nơi để kiểm soát. Triều đình Huế cử phái bộ do Phan Thanh
Giản cầm đầu vào nghị hòa và ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhường ba tỉnh miền
Đông cho Pháp.
Trong khi triều đình Huế nhường từng bước trước quân Pháp và sau đó là cắt