Luận văn thạc sỹ - Năng lực quản lý của Lãnh đạo các chi nhánh trực thuộc Công ty TNHH Một thành viên Khai thác Công trình thủy lợi tỉnh Đắk Nông - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


NGUYỄN THỪA ANH

NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA LÃNH ĐẠO CÁC CHI
NHÁNH TRỰC THUỘC CÔNG TY TNHH MTV KHAI
THÁC CTTL TỈNH ĐẮK NÔNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. MAI VĂN BƯU

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành được đề tài Luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn
PGS.TS. Mai Văn Bưu đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Khoa học quản lý và
Viện Đào tạo Sau đại học đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu luận văn của mình.
Tôi xin cam đoan luận văn “Năng lực quản lý của Lãnh đạo các chi nhánh

trực thuộc Công ty TNHH Một thành viên Khai thác Công trình thủy lợi tỉnh
Đắk Nông” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép toàn bộ hoặc
một phần luận văn của người khác và tôi cũng không nhờ bất cứ ai hoặc tổ chức nào
viết luận văn này hộ tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ

NLQL

: Năng lực quản lý

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

MTV

: Một thành viên

CTTL

: Công trình thủy lợi

PTNT

: Phát triển nông thôn

PC

: Phẩm chất

ĐĐ

: Đạo đức


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

đăng ký kinh doanh số 6400204746, đăng ký lần đầu ngày 14/12/2010, đăng
ký thay đổi lần thứ 1 ngày 17/11/2011, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày
05/04/2012. Là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sở hữu 100% vốn
Nhà nước, thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, thực hiện hoạt động
kinh doanh theo quy định của pháp luật. Thời gian hoạt động của Công ty là
dài hạn kể từ ngày được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh. Công ty có thể ngừng hoạt động khi có quyết định của
Chủ sở hữu hoặc theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Mục
tiêu: Quản lý, khai thác hiệu quả hệ thống các công trình thủy lợi đã và sẽ xây
dựng trên địa bàn tỉnh phục vụ tốt nhất cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Đắk Nông, chống xuống cấp và tiết kiệm chi phí sửa chữa, bảo dưỡng cho
Nhà nước, bảo đảm an toàn cho công trình, tính mạng và tài sản của nhân dân
khu vực gần công trình.
Hiện tại Công ty được giao quản lý 187 công trình thủy lợi trên địa bàn
toàn tỉnh. Toàn bộ các công trình thủy lợi, Công ty giao cho các Chi nhánh tại
các huyện, thị xã trực tiếp quản lý, duy tu, bảo dưỡng và vận hành, gắn liền
với quá trình sản xuất cung ứng dịch vụ tại đơn vị. Các công trình được quản
lý bằng mã số tài sản theo quy định hiện hành, thường xuyên được theo dõi,
tổng hợp, cập nhật thông tin diễn biến thay đổi giá trị của từng công trình,
cũng như đánh giá năng lực phục vụ và hiện trạng của từng công trình sau
mỗi mùa vụ sản xuất nông nghiệp.


2
Trong điều kiện và yêu cầu như vậy để đáp ứng được nhiệm vụ của
Công ty thì vai trò của Lãnh đạo các chi nhánh trực thuộc Công ty là vô cùng
quan trọng. Tuy nhiên, trong điều kiện Công ty mới thành lập năng lực quản
lý của Lãnh đạo chi nhánh hiện nay còn nhiều bất cập, rất khó khăn cho việc
thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ của công ty. Để khắc phục được vấn đề nêu
trên, Công ty cần quan tâm, có kế hoạch trong việc đào tạo, nâng cao năng lực

Năng lực quản lý của Lãnh đạo các chi nhánh trực thuộc Công ty TNHH
Một thành viên Khai thác Công trình thủy lợi tỉnh Đắk Nông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực quản lý của
Lãnh đạo doanh nghiệp: Kiến thức, năng lực chuyên môn; kỹ năng quản lý;
phẩm chất đạo đức nghề nghiệp; học hỏi, sáng tạo phát triển bản thân.
+ Về địa bàn nghiên cứu: Các chi nhánh trực thuộc Công ty TNHH Một
thành viên Khai thác Công trình thủy lợi tỉnh Đắk Nông nằm trên địa bàn 7
huyện, 01 thị xã thuộc tỉnh Đắk Nông.
+ Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2011 - 2015 và
các giải pháp đề xuất đến năm 2020.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Các yếu tố ảnh
hưởng:
- Yếu tố bên trong
- Yếu tố bên ngoài

Nội dung năng lực
quản lý
- Về kiến thức trình
độ chuyên môn
- Về kỹ năng quản lý
- Về phẩm chất đạo
đức, nghề nghiệp
- Về năng lực học
hỏi, sáng tạo và phát
triển bản thân

Mục tiêu
- Nâng cao kiến thức

Công ty. Nội dung phiếu đánh giá được thiết kế tập trung vào trình độ, kỹ
năng quản lý, và hành vi thái độ cùng tố chất quản lý. Các câu hỏi được sử
dụng là những câu hỏi đóng được thiết kế trên thang điểm 5. Qui trình thiết kế
Bảng câu hỏi sử dụng trong nghiên cứu đánh giá được thực hiện như sau
Thiết kế Bảng
câu hỏi
Thử nghiệm
Hoàn chỉnh
Bảng câu hỏi

- Thiết kế câu hỏi dựa trên khung năng
lực
- Phỏng vấn quản đốc phân xưởng
- Công nhân tự trả lời


5
Bước 4: Tiến hành khảo sát, phát phiếu và thu thập phiếu điều tra: phiếu
điều tra đã được phát cho 17 cán bộ lãnh đạo chi nhánh trực thuộc Công ty
TNHH Một thành viên Khai thác Công trình thủy lợi tỉnh Đắk Nông, 05 cán
bộ Ban Giám đốc và phòng chuyên môn Công ty, những người trực tiếp làm
việc và quản lý các giám đốc chi nhánh và 60 cán bộ, nhân viên, người lao
động trong toàn Công ty. Việc phát phiếu điều tra đã giúp ta thấy được các
góc nhìn khác nhau từ nhiều góc độ về năng lực quản lý của các lãnh đạo chi
nhánh qua đó có được những kết luận đúng mức về thực trạng năng lực quản
lý của các lãnh đạo chi nhánh trong công ty cũng như nhận diện các nguyên
nhân và yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý. Những tiêu thức đưa ra trong
bản điều tra dựa trên khung năng lực cán bộ quản lý cấp cơ sở.
Mức độ đồng ý được đánh số từ 01 - 05. Mức độ 1: Tuyệt đối không
đồng ý; mức độ 2: Không đồng ý; mức độ 3: Bình thường; mức độ 4: Đồng ý;


100

18

18

100

60
84

60
84

100
100

Kết quả phỏng vấn đã được tập hợp trên các bảng so sánh với các tiêu
thức khác nhau để làm căn cứ xây dựng yêu cầu năng lực quản lý đối với lãnh
đạo các chi nhánh
Kết quả điều tra khảo sát sẽ được phân tích trên Excel để thấy được các


6
góc nhìn khác nhau về thực trạng năng lực đội ngũ lãnh đạo các chi nhánh và
mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của lãnh đạo
các chi nhánh.
6 Kết cấu luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương với các phần chính sau đây:

người lãnh đạo làm việc độc lập và không có liên quan đến bất kỳ một người
nào khác thì sẽ không có hoạt động lãnh đạo. Nói đến lãnh đạo là nói đến mối
quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo.
Lãnh đạo thể hiện một sự tác động gây ảnh hưởng và lôi cuốn người
khác. Đây là một đặc trưng hết sức quan trọng của lãnh đạo. Cụ thể là khi có
ít nhất hai người trở lên cùng làm việc và có mối quan hệ với nhau nếu một


8
người có tác động đến người khác gây ảnh hưởng đến hành vi làm việc của
người khác như lôi cuốn, động viên người khác làm việc nhằm đạt được mục
tiêu đã đề ra thì có hoạt động lãnh đạo.
Sự tác động, ảnh hưởng và lôi cuốn của lãnh đạo mang tính tình nguyện
không ép buộc. Điều này có nghĩa người bị lãnh đạo sẽ bị lôi cuốn và sẵn
sàng làm việc vì lợi ích của bản thân mình. Người bị ảnh hưởng sẽ tự giác làm
việc chứ không phải bị bắt buộc vì họ thấy hài lòng vì được đáp ứng nhu cầu
của cá nhân khi thực hiện công việc như nhu cầu phát triển nghề nghiệp, nhu
cầu thăng tiến hoặc nhu cầu được tôn trọng.
Lãnh đạo là quá trình tác động và quan tâm đến con người sao cho họ
cố gắng một cách tự nguyện và nhiệt tính phấn đấu để đạt được các mục
tiêu của tổ chức. Người lãnh đạo không đứng đằng sau để thúc đẩy hay
thúc dục mà họ đặt mình lên phía trước động viên mọi người hoàn thành
nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra. Bất kể một người quản lý lập kế hoạch tổ
chức và kiểm tra có tốt đến đâu, người đó vẫn phải hỗ trợ những hoạt động
đó bằng cách đưa ra những chỉ dẫn cho mọi người thông tin đầy đủ và lãnh
đạo tốt. Việc lãnh đạo phải dựa trên sự hiểu biết động cơ của con người là
gì và điều gì làm cho họ thỏa mãn khi họ góp sức vào việc hoàn thành các
mục tiêu của tổ chức.
“Thuật lãnh đạo không chỉ đơn thuần là khả năng lôi cuốn người khác vì
đôi khi đó là sự mị dân. Đó cũng không phải là khả năng gây cảm tình và

bán hàng. Người Lãnh đạo là người có tầm nhìn ở mức cao hơn, và thường
hướng việc thực hiện công việc tới một tiêu chuẩn cao hơn và phát triển tính
cách con người vượt qua những giới hạn thông thuờng”. Với những quan
điểm như vậy, người Lãnh đạo có thể một người rất kiệt xuất, có sức “thu hút
và khơi dậy” lòng nhiệt huyết và sự cống hiến hết mình của người khác.


10
Chúng ta có thể kể ra đây rất nhiều tên các Nhà Lãnh đạo kiệt xuất trong lịch
sử như Hồ Chí Minh - Người Anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hoá
lớn của Việt Nam; Mahatma Gandhi - Vị lãnh tụ của phong trào đấu tranh
giành quyền tự chủ của nhân dân Ấn Độ; Nelson Mandela - Vị tổng thống da
mầu đầu tiên của đất nước Nam Phi; Bà Emmeline Pankhurst – Nhà lãnh đạo
trong phong trào đấu tranh giành quyền tham gia bầu cử của phụ nữ
Anh....Mỗi nhà Lãnh đạo kể trên đều để lại những dấu ấn vẻ vang trong lịch
sử. Bên cạnh đó còn có nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lĩnh vực công
nghiệp và kinh doanh thương mại. Đó là những nhà lãnh đạo trong doanh
nghiệp. Chúng ta cũng gặp rất nhiều doanh nhân có khả năng thu hút người
khác, lôi cuốn và khích lệ sự nhiệt tình làm việc của nhân viên vì mục đích
phát triển doanh nghiệp. Nếu chỉ lấy tiêu thức “khả năng lôi cuốn và động
viên người khác” để xác định ai là người lãnh đạo trong doanh nghiệp thì có
thể kể đến một Giám đốc công ty, cũng có thể là một cán bộ quản lý cấp trung
gian trong công ty và cũng có thể là một trưởng nhóm bán hàng hoặc có thể là
một người không có một chức danh quản lý nào trong công ty nhưng có khả
năng lôi cuốn người khác rất lớn. Ta có thể nói tất cả những người trong
doanh nghiệp có khả năng khiến người khác làm việc vì mục tiêu phát triển
doanh nghiệp một cách tự nguyện đều là người có khả năng lãnh đạo. Những
người có chức danh quản lý trong doanh 3 nghiệp ở các cấp độ từ giám đốc,
phó giám đốc, trưởng phó các đơn vị trong doanh nghiệp đều có những vai trò
lãnh đạo ở những mức độ khác nhau. Như vậy có thể thấy, trong doanh

hướng tới mục tiêu chung của doanh nghiệp.


12
- Thực hiện công việc của nhà quản lý cấp cao: Xây dựng, thực thi chiến
lược, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, lực của doanh nghiệp, Kiểm tra đánh
giá mực độ thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.3. Vị trí, vai trò của lãnh đạo doanh nghiệp
Lãnh đạo doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong thành công
của doanh nghiệp. Với vai trò là đầu tàu trong mỗi doanh nghiệp, lãnh đạo
doanh nghiệp tham gia vào toàn bộ quá trình quản lý điều hành mọi hoạt động
của doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, lãnh đạo doanh nghiệp chính là
bộ mặt là linh hồn của doanh nghiệp. LĐDN giỏi có thể hoàn thành mọi chỉ
tiêu hoạt động của doanh nghiệp nhưng ngược lại có thể thể làm phá sản
doanh nghiệp một các nhanh chóng.
Trong thực tiễn hoạt động, người LĐDN phải thực hiện nhiều công việc
khác nhau thậm chí phải ứng theo những cách khác nhau: trong doanh nghiệp
với cấp trên, cấp dưới, các cổ đông …. Ngoài doanh nghiệp với khách hàng,
đối tác, chính quyền. Vai trò của người LĐDN được biểu hiện qua 03 vai trò
chính đó là:
Vai trò thông tin
Vai trò người theo dõi thông tin: vai trò này đòi hỏi người LĐDN phải
thu thập, phân tích, đánh giá thông tin về những biến động, cơ hội và những
vấn đề khác có thể tác động đến doanh nghiệp. Những mối quan hệ giao tiếp
chính thức và không chính thức được xây dựng trong vai trò liên lạc thường
có ích cho vai trò theo dõi thông tin
Vai trò người phổ biến thông tin: LĐDN là người trực tiếp nhận nhiệm
vụ từ cấp trên vì vậy họ cần cung cấp thông tin đầy đủ, cần thiết cho người
dưới quyền để họ có cơ sở thực hiện các nhiệm vụ được giao


14
Vai trò người phân bổ nguồn tài nguyên: LĐDN phải quyết định việc
phân phối các tài nguyên cho ai với số lượng bao nhiêu trong thời gian nào…
các tài nguyên có thể là tiền bạc, nhân lực, trang thiết bị… Vì doanh nghiệp
không bao giờ có tài nguyên cho tất cả mọi người, người LĐDN cần sử dụng
tối ưu, phân phối hợp lý, tiết kiệm các tài nguyên ấy. Việc phân phối tài
nguyên là vai trò rất quan trong của LĐDN.
Vai trò người thương lượng: LĐDN phải thực hiện vai trò thương lượng
khi tiến hành đàm phán ký kết hợp động với các đối tác trong các hoạt động
SXKD, thương lượng với tổ chức công đoàn về quyền lợi, nghĩa cụ của người
lao động trong doanh nghiệp …
Người lãnh đạo doanh nghiệp có thể cùng lúc thức hiện nhiều vai trò và
sự phối hợp cũng như tầm quan trọng của các vai trò này để hoàn thành nhiệm
vụ quản lý và điều hành doanh ngiệp của mình.
1.2. Năng lực quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm năng lực và năng lực quản lý của
lãnh đạo doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm năng lực
Năng lực không phải là một khái niệm mới nhưng việc hiểu chính xác
và đầy đủ khái niệm này đến nay còn chưa thống nhất. Trước đây, năng lực
được hiểu như một khái niệm trừu tượng không thể lượng hóa được. Một
cách đơn giản năng lực được hiểu là khả năng thực hiện được một công việc
với một kết quả nhất định. Năng lực là yếu tố tiềm ẩn trong mỗi con người
nó có thể do bẩm sinh và cũng có thể do quá trình học tập, tích luỹ, rèn
luyện mà có được.
Hiện nay, có khá nhiều khái niệm về năng và các yếu tố cầu thành năng


15
lực. Những khái niệm này được hiểu và trình bày trong những tác phẩm khác

đố trong tương lai. Thực tiễn cho thấy có những năng khiếu xuất hiện sớm
nhưng về sau lại không phát triển như mong muốn. Vì vậy muốn đánh giá
mức độ năng lực cần phải đặt thành tích đạt được trong mối quan hệ với
những điều kiện nhằm đạt được thành tích ấy.
Cũng trong giáo trình này, tác giả đã nêu lên mối quan hệ giữa năng lực
và tư chất, năng lực và tri thức, năng lực và nguyện vọng:
Mối liên hệ giữa năng lực và tư chất: Khoa học xác nhận ngay từ khi
được sinh ra, giữa những con người khác nhau có thể đã có sự khác nhau
trong kiểu hoạt động thần kinh cấp cao, trong cấu tạo của các cơ quan cảm
giá, vận động… sự khác nhau bẩm sinh về tư chất làm cho sự phát triển về
năng lực khác nhau ở những con người khác nhau. Tuy vậy không thể suy
luận năng lực khác nhau đến từ tư chất khác nhau. Trong điều kiện cụ thể của
hoạt động, tư chất có thể được phát triển theo những hướng khác nhau. Có thể
nói tư chất là điều kiện cần nhưng không phải là điều kiện đủ của sự phát triển
năng lực.
Mối liên hệ giữa năng lực và tri thức: Do năng lực gắn liền với một hoạt
động nào đó nên muốn có năng lực nhất thiết phải có tri thực trong lĩnh vực
hoạt động áy. Không thể có năng lực toán học nếu hoàn toàn không có tri thức
về toán, không có năng lực kinh doanh nếu không hiểu biết về các quy luật
kinh tế, thị trường…tuy nhiên sẽ sai lầm nếu đồng nhất năng lực với tri thức.
Một người được coi có năng lực trong một lĩnh vực nào đó, khi trong lĩnh vực
đó người áy có những tri thức nhất định. Nhưng khi một người có tri thức


17
trong một lĩnh vực nào đó người đó chưa chắc đã có năng lực trong lĩnh vực
ấy. Trên thực tế, không phải bất kỳ ai có tri thức kinh doanh là tự động trở
thành nhà kinh doanh có năng lực. Năng lực kinh doanh và tri thức kinh
doanh là những vấn đề rất khác nhau. Để có năng lực kinh doanh người ta
phải làm hàng loạt các công việc trong đó có việc tiếp thu tri thức kinh doanh.

- Năng lực được hiểu là khả năng thực hiện một hoạt động nào đó. Do đó
khi nói đến năng lực là phải nói đến năng lực cụ thể của một hoạt động trong
một lĩnh vực. Khi nghiên cứu năng lực cần xem xét năng lực trong mối quan
hệ với môi trường hoạt động, đồng thời cần phải xem xét cả vấn đề năng
khiếu, tư chất, mức độ phát triển của năng lực
- Năng lực có thể thay đổi thông qua hoạt động. Do vậy, người ta có thể
chủ động tạo ra năng lực.
- Các bộ phận cấu thành năng lực bao gồm: thuộc tính tam lý phù hợp
với những yêu cầu của một dạng hoạt động nào đó. Tuy nhiên việc tìm ra các
thành phần của cấu trúc năng lực không đơn giản nhưng các tác giả cũng chỉ
ra một số yếu tố cấu thành năng lực cụ thể như: kiến thức, kỹ năng, thái độ,
kinh nghiệm, các mối quan hệ, động cơ, các phẩm chất cá nhân.
Từ những phân tích trên ta có thể khái quát lại: năng lực lả khả năng vận
dụng những kiến thức, kỹ năng, thái độ, hứng thú để hành động một cách phù
hợp nhất và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống. Hoặc
năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức kỹ năng, thái độ và
vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải
quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống.


19

1.2.1.2 Khái niệm năng lực quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp
Năng lực quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp là tổng hợp những kiến thức
quản lý, kỹ năng quản lý, thái độ, phẩm chất cá nhân của lãnh đạo doanh nghiệp
trong hoạt động quản lý để đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
nhất định. Năng lực quản lý không chỉ được đánh giá thông qua bằng cấp mà
còn được đánh giá thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của người đó.
Như vậy muốn biết lãnh đạo doanh nghiệp nào có năng lực quản lý hay
không ta cần dựa vào từng nhiệm vụ, mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ

Kiểm soát: Là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt
động để đảm bảo sự thực hiện theo kế hoạch. Kiểm soát giúp xác định khoảng
cách giữa kết hoạch và kết quả thực tế. Kiểm soát là một chức năng quan
trọng trong quá trình quản lý bởi vì nó đưa ra các biện pháp để đảm bảo rằng
hệ thống đang được vận hành đúng hướng về các mục tiêu đã đề ra.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành năng lực quản lý của
lãnh đạo doanh nghiệp
Năng lực quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp được tiếp cận trên 4 nhóm
yếu tố:
- Kiến thức của người lãnh đạo doanh nghiệp;
- Kỹ năng quản lý của người lãnh đạo doanh nghiệp;
- Phẩm chất, đạo đức của người lãnh đạo doanh nghiệp;
- Năng lực học hỏi, sáng tạo và phát triển bản thân của người lãnh đạo
doanh nghiệp.
Tất cả LĐDN đều phải có những năng lực trên, để có thể quản lý, lãnh
đạo doanh nghiệp mình hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu một cách đạt hiệu quả



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status