ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN XUÂN PHƯƠNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHO
LÃNH ĐẠO TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - DẠY
NGHỀ CẤP HUYỆN Ở TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ QUANG SƠN
1.3.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển GDTX 18
1.3.5. Sự hình thành và phát triển của Trung tâm GDTX
20
1.4. Những nội dung chủ yếu trong quản lý phát triển GDTX ở Việt Nam
22
1.4.1. Quản lý các đối tượng theo học GDTX 23 1.4.2. Quản lý chương trình GDTX 23
1.4.3. Quản lý các hình thức học tập GDTX 24
1.4.4. Quản lý các cơ sở GDTX
25
1.4.5. Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng GDTX
25
1.4.6. Kiểm tra, đánh giá, cấp phát văn bằng chứng chỉ 26
1.4.7. Quản lý Nhà nước đối với GDTX
26
1.5. Năng lực quản lý của lãnh đạo Trung tâm GDTX
27
1.5.1. Phân cấp cán bộ lãnh đạo trong Trung tâm GDTX
27
1.5.2. Năng lực quản lý của lãnh đạo Trung tâm GDTX
28
Chương 2: Thực trạng năng lực quản lý của lãnh đạo Trung tâm
GDTX - DN cấp huyện ở tỉnh Bắc Giang 34
2.1. Khái quát đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Bắc
Giang 34
2.2.Thực trạng phát triển Trung tâm GDTX - DN ở tỉnh Bắc Giang
35
2.2.1. Sự hình thành và phát triển của các Trung tâm GDTX - DN
93
3.3.5. Nhóm biện pháp đổi mới thanh tra, kiểm tra, đánh giá 96
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
3.5. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
99 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
102
1. Kết luận 102
2. Khuyến nghị 104
2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
104
2.2. Đối với Sở Giáo dục - Đào tạo Bắc Giang
104
2.3. Đối với UBND các huyện
105
2.4. Đối với lãnh đạo các Trung tâm GDTX – DN
105
Học viên
12. HĐND
Hội đồng nhân dân
13. HTCĐ
Học tập cộng đồng
14. NLKHH
Năng lực kế hoạch hóa
15. NLQL
Năng lực quản lý
16. NLCĐ
Năng lực chỉ đạo
17. NLTC
Năng lực tổ chức
18. NLKT
Năng lực kiểm tra
19. QLGD
Quản lý giáo dục
20. QLNN
Quản lý nhà nước
21. THCS
Trung học cơ sở
22. THPT
Trung học phổ thông
23. THCN
Trung học chuyên nghiệp
24. UBND
Uỷ ban nhân dân
25. XHCN
Xã hội chủ nghĩa
26. XMC
Bảng 2.13: Đánh giá mức độ năng lực kế hoạch hóa của Giám đốc, Phó
Giám đốc Trung tâm GDTX – DN 52
Bảng 2.14: Thực trạng năng lực tổ chức của Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm GDTX – DN
54
Bảng 2.15: Đánh giá mức độ năng lực tổ chức của Giám đốc, Phó Giám
đốc Trung tâm GDTX – DN
55
Bảng 2.16: Thực trạng năng lực chỉ đạo của Giám đốc, Phó Giám đốc Trung
tâm GDTX – DN 58
Bảng 2.17: Đánh giá mức độ năng lực chỉ đạo của Giám đốc, Phó Giám
đốc Trung tâm GDTX – DN 59
Bảng 2.18: Thực trạng năng lực kiểm tra của Giám đốc, Phó Giám đốc
Trung tâm GDTX – DN 61
Bảng 2.19: Đánh giá mức độ năng lực kiểm tra của Giám đốc, Phó Giám
đốc Trung tâm GDTX – DN
62
Bảng 2.20: Tổng hợp thực trạng NLQL của Giám đốc, Phó Giám đốc
64
Bảng 2.21: Tổng hợp kết quả đánh giá năng lực quản lý của Giám đốc, Phó
Giám đốc Trung tâm GDTX – DN 66
Bảng 2.22: Tổng hợp đánh giá chung về NLQL của Giám đốc, Phó Giám đốc
Trung tâm GDTX – DN 68
Bảng 2.23: Đánh giá mức độ tác động của các biện pháp 76
Bảng 2.24: Đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp
76
Bảng 3.1: Tổng hợp thăm dò ý kiến về các biện pháp đề xuất 100
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI với sự
phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, sự xuất hiện của nền “kinh
tế tri thức”, “xã hội thông tin” và tiến tới xây dựng một “xã hội học tập” đã và
đang tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho mỗi quốc gia. Trước vận hội
đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập giai
đoạn 2005 - 2010”, tập trung “Xây dựng và phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo
dục thường xuyên”. Tại Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra phương hướng “Chuyển dần mô hình
giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ
thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành
học”. Luật giáo dục 2005 khẳng định vị trí của giáo dục thường xuyên trong
hệ thống giáo dục quốc dân tại Điều 4: “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm
giáo dục chính qui và giáo dục thường xuyên”. Chính vì vậy giáo dục thường
xuyên ngày nay đã trở thành công cụ để mở rộng cơ hội học tập cho mọi
người và xây dựng một xã hội học tập.
Thực tế ở nước ta, giáo dục thường xuyên đã phát triển nhanh chóng và
đáp ứng cho hàng triệu người có nhu cầu học tập liên tục, học suốt đời. Giáo
dục thường xuyên có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con người, góp phần thực
hiện mục tiêu giáo dục của Đảng “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài”. Bên cạnh hệ thống giáo dục chính đào tạo thế hệ trẻ được tổ
chức chặt chẽ về thời gian, độ tuổi, thì giáo dục thường xuyên linh hoạt hơn
về thời gian, độ tuổi, phương thức; có thể vừa học, vừa làm, học từ xa, tự học
có đăng ký. Từ việc xây dựng mục tiêu, xác định nội dung, chương trình,
phương pháp giáo dục, tổ chức thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ đến việc xây
của cán bộ, nhân dân địa phương. Nhưng bên cạnh những thành tích đã đạt
được, các Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện ở tỉnh Bắc Giang cũng
có những khó khăn, bất cập như tình trạng chung trong cả nước. Trung tâm 3
GDTX cấp huyện ở tỉnh Bắc Giang có những đặc thù riêng về chức năng,
nhiệm vụ so với những địa phương khác do được sát nhập bởi ba đơn vị là
Trung tâm GDTX, Trung tâm Hướng nghiệp - Dạy nghề và Trung tâm dạy
nghề cấp huyện nên được lấy tên chung là Trung tâm giáo dục thường xuyên -
Dạy nghề. Tất cả các Trung tâm GDTX - DN cấp huyện đều do Sở Giáo dục
và Đào tạo trực tiếp quản lý và là đơn vị sự nghiệp có thu. Ngoài nhiệm vụ
chính trị được giao, Trung tâm GDTX - DN cấp huyện còn làm công tác phổ
cập bậc trung học theo Đề án của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006- 2015. Được
giao nhiều chức năng, nhiệm vụ như vậy nên công tác quản lý, chỉ đạo hoạt
động của Trung tâm gặp nhiều khó khăn phức tạp. Hiện có không ít những
Trung tâm hoạt động còn kém hiệu quả. Năng lực quản lý của một số Giám
đốc, Phó giám đốc Trung tâm còn yếu. Đa số cán bộ giáo viên chuyển từ khối
phổ thông sang nên thiếu kiến thức về quản lý các cơ sở GDTX - DN, thiếu
năng lực huy động các nguồn lực của cộng đồng và kinh nghiệm tổ chức các
loại hình học tập phong phú và đa dạng, một số giám đốc đã bị kỷ luật vì
thiếu kinh nghiệm quản lý tài chính
Trước thực tế đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo các Trung tâm GDTX
- DN phải có năng lực chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, năng động, sáng tạo
mới đáp ứng được yêu cầu thực tiễn để phát triển ngành học GDTX của tỉnh
Bắc Giang một cách bền vững. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Một số
biện pháp nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo Trung tâm giáo dục
thường xuyên - dạy nghề cấp huyện ở tỉnh Bắc Giang”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn để phát hiện và đánh giá những
Bắc Giang.
7. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu lý luận: 5
- Sưu tầm sách, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp khảo sát, điều tra đánh giá thực trạng
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
+ Phương pháp thống kê toán học:
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
8. Kế hoạch và tiến độ nghiên cứu
- Từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2006 xây dựng và hoàn chỉnh đề cương
chi tiết.
- Từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2006 tiến hành nghiên cứu các nội dung
của đề tài.
- Từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2006 viết và hoàn thiện luận văn.
- Từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 1 năm 2007 bảo vệ luận văn.
9. Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về vấn đề nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo
Trung tâm GDTX - DN cấp huyện.
Chương 2 : Thực trạng về năng lực quản lý của lãnh đạo Trung tâm GDTX
- DN cấp huyện ở tỉnh Bắc Giang.
Chương 3 : Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo Trung
tâm GDTX - DN cấp huyện ở tỉnh Bắc Giang
Đó là lý do để tác giả chọn đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ chuyên ngành
QLGD: “Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo Trung
tâm GDTX - DN cấp huyện ở tỉnh Bắc Giang”.
1.2. Lý luận chung về quản lý và năng lực quản lý
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1. Quản lý 7
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật tác động đến một
hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô cho đến tầm vi mô. Có nhiều cách
tiếp cận và nhiều khái niệm khác nhau về quản lý:
- W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản
lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế
nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [11].
- Một số tác giả nghiên cứu về quản lý hệ thống tổ chức nhà nước lại cho
rằng: “Quản lý là quá trình vận hành của chính quyền” [11].
- Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái
niệm: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ
chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [3].
Tuy có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng, các cơ hội của hệ
thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”
[32].
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
- Quản lý giáo dục là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm
vi trách nhiệm của mình, tức là đưa cơ sở giáo dục vận hành theo lý thuyết
giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục
- Chức năng đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế
- xã hội.
Như vậy, QLGD là hoạt động điều hành các cơ sở giáo dục để giáo dục
vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế.
Từ hai chức năng tổng quát trên, QLGD phải quán triệt, gắn bó bốn
chức năng cụ thể:
- Kế hoạch hoá: Đưa mọi hoạt động giáo dục và đào tạo vào công tác kế
hoạch với mục tiêu, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể, ấn định tường minh các
điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu. 9
- Tổ chức: Hình thành và phát triển có tổ chức tương xứng với sứ mệnh,
với nhiệm vụ chính trị, với mục tiêu dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
- Chỉ huy: Chức năng này thường mang tính tác nghiệp. Trong quá trình
kế hoạch hoá lưu ý sự dân chủ, lấy được ý kiến từ cơ sở, trong chỉ huy điều
hành lưu ý sự tập trung, thống nhất điều khiển.
- Kiểm tra: Công việc này gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm
giáo dục, điều chỉnh mục tiêu.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, chức năng QLGD được cụ thể hoá như
sau:
“Hoạt động tương tác của các yếu tố trên làm nảy sinh các vấn đề và tình
huống có vấn đề (mâu thuẫn, gay cấn, xung đột) trong việc đào tạo để cơ sở
giáo dục phát triển đạt tới chất lượng tổng thể và bền vững, làm cho giáo dục
vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của nền kinh tế” [1].
1.2.1.4. Biện pháp quản lý
Khái niệm “biện pháp” theo Viện ngôn ngữ học (Từ điển Tiếng Việt-
Trung tâm từ điển - Nhà xuất bản giáo dục - 1994) là “cách làm, cách giải
quyết một vấn đề cụ thể”.
Biện pháp quản lý chính là nội dung, cách làm, cách giải quyết một vấn
ngôn ngữ ), là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt
động có hiệu quả. Năng lực riêng biệt là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất
năng lực có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt
động chuyên biệt với kết quả cao, chẳng hạn năng lực toán học, năng lực thơ
ca…
Năng lực chung và riêng có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ, bổ sung cho
nhau. Năng lực riêng được phát triển dễ dàng và nhanh chóng hơn trong điều
kiện tồn tại năng lực chung.
Khi xem xét bản chất của năng lực chúng ta cần lưu ý đến ba dấu hiệu
sau:
- Năng lực là sự khác biệt về tâm lý cá nhân, nó làm cho người này khác
với người kia. 11
- Năng lực là sự khác biệt có liên quan đến hiệu quả của việc thực hiện
một số hoạt động nào đó.
- Năng lực không phải được đo bằng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được
hình thành ở người nào đó, nó chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn. Năng lực không đồng nhất với tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo nhưng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết. Mỗi con người có
một khả năng trong một hoạt động nhất định nào đó.
Năng lực có thể tách ra làm hai trình độ: tái tạo và sáng tạo.
- Ở trình độ tái tạo, nhân cách chỉ tiến hành hoạt động có hiệu quả khi
làm theo mẫu có sẵn. Với trình độ sáng tạo, nhân cách tiến hành hoạt động
theo cách thức với hiệu quả cao hơn. Dĩ nhiên trong tái tạo có ít nhiều sáng
tạo và trong sáng tạo không phải không có yếu tố tái tạo.
Năng lực của mỗi con người dựa trên cơ sở tư chất nhưng chủ yếu
đều được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con
người dưới tác động của sự rèn luyện, dạy học và giáo dục. Việc hình thành
c) Năng lực chỉ đạo (hướng dẫn, lãnh đạo): Nhà quản lý phải có khả
năng truyền đạt và thuyết phục được các đồng sự, nhân viên; thúc đẩy họ
bằng
nhiều biện pháp khác nhau nhằm đạt được mục tiêu.
d) Năng lực kiểm tra: Là quá trình thiết lập các cơ chế thích hợp để đảm
bảo các mục tiêu của tổ chức. Năng lực kiểm tra của nhà quản lý dựa trên các
kỹ năng nhận thức và ra quyết định, quan hệ con người và giao tiếp.
1.2.2.3.Năng lực thực hiện các chức năng quản lý
Năng lực bao gồm tri thức và kĩ năng. Năng lực thực hiện biểu hiện qua
tri thức thực hành ứng dụng và kỹ năng thực hiện.
Như trên chúng tôi đã trình bày, NLQL thể hiện qua bốn mặt công tác
quan trọng là: kế hoach hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Vậy nói năng lực thực
hiện các chức năng quản lý là muốn đi vào cụ thể khả năng tâm lý tương ứng
với từng chức năng: kế hoach hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Đó là khả năng 13
của người cán bộ quản lý, nhờ nó mà người CBQL đạt được kết quả cao trong
hoạt động từng lĩnh vực nói trên.
Việc đạt được kết quả cao trong hoạt động phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
trình độ đào tạo (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…), vào thái độ đối với công việc
(cần mẫn, say sưa…), vào các phẩm chất, ý chí, tính cách…Ở đây chúng tôi
muốn đi sâu tìm hiểu vấn đề kỹ năng quản lý.
Kỹ năng là cách thức hoàn thành hành động được chủ thể lĩnh hội, kỹ
năng được đặc trưng bằng một tổ hợp những tri thức kỹ xảo đã có. Luyện tập
là con đường hình thành kỹ năng. Khi đã có kỹ năng con người ta hoàn thành
tốt hành động không chỉ trong điều kiện bình thường mà còn cả trong những
điều kiện thay đổi.
Kỹ năng thực hiện các chức năng quản lý là cách thức hoàn thành hành
động thực hiện các chức năng quản lý của người CBQL. Kỹ năng của người
- Các khoá học, các lớp bồi dưỡng tri thức về khoa học quản lý;
- Các phương tiện thông tin đại chúng, sách vở, báo chí, tài liệu tham
khảo, tiếp cận với các thông tin về quản lý, nhà quản lý chắc chắn sẽ học
được nhiều điều bổ ích;
- Học tập các gương quản lý giỏi qua tham quan, tìm hiểu các điển
hình tiên tiến…
- Quá trình điều hành quản lý để học tập những gương người tốt việc
tốt, ngay tại đơn vị, tổ chức mình quản lý;
- Tự giáo dục, tự rèn luyện bằng cách lựa chọn những tri thức
khoa
học, vốn sống của các cá nhân để biến nó thành tri thức, vốn sống, kinh
nghiệm của chính mình nhằm nâng cao NLQL của bản thân.
+ Giao tiếp: NLQL được hình thành trong giao tiếp với môi truờng
xung quanh. Có giao tiếp người quản lý mới hiểu cấp dưới. Không có giao
tiếp, người quản lý sẽ mắc bệnh quan liêu và kết quả là sẽ ra các quyết định
không phù hợp. Giao tiếp giúp người quản lý điều chỉnh hành vi, cách nghĩ
cách làm của mình thích hợp với ý kiến của tập thể. 15
+ Rèn luyện trong tập thể: Một tập thể tốt sẽ là điều kiện để rèn luyện
nhân cách trong đó có năng lực quản lý.
Tóm lại, NLQL của người CBQL chỉ được hình thành và phát triển
trong hoạt động quản lý tích cực, năng động, trong các quan hệ xã hội, trong
môi trường lành mạnh.
1.3. Một số nét cơ bản về Trung tâm giáo dục thường xuyên
1.3.1. Giáo dục thường xuyên (Continuing Education)
Về phương châm giáo dục thì “GDTX được hiểu một cách khái quát là
cung ứng cơ hội cho mọi người để học tập suốt đời nhằm thúc đẩy tài nguyên
con người thông qua các chương trình xóa mù chữ, chương trình tương
lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã
hội”; Điều 4 qui định “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính qui
và giáo dục thường xuyên”.
Như vậy, GDTX là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc
dân nhằm góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng
nhân tài, đồng thời là một phương tiện để tạo cơ hội thường xuyên, tốt nhất
cho mọi người có thể thỏa mãn nhu cầu hiểu biết.
1.3.2 Vị trí, vai trò của Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân
* Trung tâm GDTX (Continuing Education Centre)
Tại Hội nghị về Trung tâm GDTX được tổ chức ở Srilanca tháng 11
năm 1994 đã nêu định nghĩa: “Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa
phương, ngoài hệ thống giáo dục chính qui, thuộc các làng hoặc các cộng
đồng thành phố, thường được quản lý bởi nhân dân địa phương có nhiệm vụ
cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển của địa phương và việc học tập
định hướng trong gia đình và cung cấp thông tin về câu hỏi cái gì? Làm sao?
Ở đâu? Khi nào? Các cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học tập
khác nhau của GDTX”.
Trung tâm GDTX là nơi mà ai có nhu cầu học tập đều tìm thấy ở đó
một tổ chức hoạt động giáo dục có nội dung học, hình thức học mà mình hài
lòng nhất, giúp mình thêm những hiểu biết cần thiết để hòa nhập với cộng
đồng, vươn tới nhu cầu hạnh phúc.