TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
TRẦN THỊ ĐỊNH
THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC
CHƯƠNG: “SẮT VÀ MỘT SỐ KIM LOẠI
QUAN TRỌNG” – SGK HÓA HỌC 12
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TỰ HỌC CHO HỌC SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Hóa học
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
TRẦN THỊ ĐỊNH
THIẾT KẾ MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC
CHƯƠNG: “SẮT VÀ MỘT SỐ KIM LOẠI
QUAN TRỌNG” – SGK HÓA HỌC 12
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
TỰ HỌC CHO HỌC SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Hóa học
Người hướng dẫn khoa học
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTH
Bảng tuần hoàn
DHDA
Dạy học dự án
DHHH
Dạy học hóa học
DHTH
Dạy học tích hợp
DH
Dạy học
ĐC
Đối chứng
ĐHSP
Đại học sư phạm
Phương trình hóa học
TBDH
Thiết bị dạy học
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TNSP
Thực nghiệm sử phạm
NT
Thí nghiệm
NXB
Nhà xuất bản
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................... 1
VÀ MỘT SỐ KIM LOẠI QUAN TRỌNG” .............................................. 32
2.1. Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức chương trình trong chương ..... 32
2.1.1. Mục tiêu của chương......................................................................... 32
2.1.2. Cấu trúc nội dung kiến thức trong chương ....................................... 37
2.1.3. Đặc điểm nội dung kiến thức trong chương...................................... 37
2.2. Xây dựng một số chủ đề dạy học chương “Sắt và một số kim loại quan
trọng” – SGK Hóa học 12. .......................................................................... 38
2.3. Thiết kế bộ công cụ để đánh giá năng lực tự học của học sinh thông
qua dạy học theo chủ đề.............................................................................. 65
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................... 69
3.1. Mục đích thực nghiệm ......................................................................... 69
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm......................................................................... 69
3.3. Nội dung thực nghiệm.......................................................................... 69
3.3.1. Lựa chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm .................................... 70
3.3.2. Phương pháp thực nghiệm ................................................................ 70
3.3.3. Tiến hành thực nghiệm...................................................................... 71
3.4. Phân tích kết quả thực nghiệm............................................................. 71
3.4.1. Kết quả định lượng............................................................................ 71
3.4.2. Kết quả định tính............................................................................... 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................. 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................... 83
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Chuẩn kiến thức, kĩ năng chương: “Sắt và một số kim loại quan
trọng”........................................................................................................... 34
Bảng 2.2. Bảng mô tả các mức yêu cầu cần đạt cho chủ đề ....................... 62
Bảng 2.3. Bảng kiểm quan sát đánh giá NLTH của HS ............................. 66
Bảng 2.4. Phiếu tự đánh giá NLTH của HS................................................ 67
đào tạo là một trong những trọng tâm của sự phát triển, trong đó sự thay đổi
về phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá là vô cùng quan trọng. Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu: “Đổi mới phương pháp dạy và học,
phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực
hành, thí nghiệm, làm chủ kiến thức tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay. Đổi
mới và tổ chức thực hiện nghiêm minh chế độ thi cử”. Điều 28 luật giáo dục
(2005) nước ta đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc diểm của
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc
theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Do vậy người
giáo viên trong nhà trường giữ một vai trò rất quan trọng.Việc đổi mới
phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh đã được triển khai từ hơn 30 năm qua. Tuy nhiên ,
việc thực hiện các phương pháp dạy học tích cực trong thực tiễn còn chưa
thường xuyên và hiệu quả. Nguyên nhân là chương trình hiện hành được thiết
kế theo kiểu “xoáy ốc”nhiều vòng nên trong nội bộ mỗi môn học, có những
nội dung kiến thức được chia ra các mức độ khác nhau để học ở các cấp học
khác nhau (nhưng không thực sự hợp lý và cần thiết); việc trình bày kiến thức
trong sách giáo khoa theo định hướng nội dung, nặng về lập luận, suy luận,
diễn giải hình thành kiến thức; cùng một chủ đề/vấn đề nhưng kiến thức lại
được chia ra thành nhiều bài/tiết để dạy học trong 45 phút không phù hợp với
phương pháp dạy học tích cực; hình thức dạy học chủ yếu trên lớp theo từng
bài/tiết nhằm “truyền tải” hết những gì được viết trong sách giáo khoa, chủ
yếu là “hình thành kiến thức”, ít thực hành, vận dụng kiến thức.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang biên soạn các tài liệu tập huấn và
có những chỉ đạo khuyến khích giáo viên chủ động lựa chọn nội dung sách
giáo khoa hiện hành để xây dựng các bài học theo chủ đề, đặc biệt là các chủ
Đánh giá thực trạng về năng lực tự học của HS phổ thông qua dạy học
theo
chủ đề.
Nghiên cứu quy trình thiết kế các chủ đề dạy học.
Xây dựng một số chủ đề dạy học chương: “Sắt và một số kim loại
quan
trọng” SGK Hóa học 12.
Thực nghiệm sư phạm.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được một số chủ đề và tổ chức dạy học hiệu quả trong
chương: “Sắt và một số kim loại quan trọng” – SGK Hóa học 12 thì sẽ phát
triển được năng lực tự học cho học sinh, qua đó nâng cao chất lượng dạy và
học Hóa học ở trường trung học phổ thông (THPT), giúp người học vận dụng
tốt kiến thức, phát triển hứng thú, óc sáng tạo, phát huy tính tích cực, tự giác
trong quá trình học.
7. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ
thống hóa…trong nghiên cứu tổng quan tài liệu lý luận có liên quan.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm
sư
phạm. Quan sát tiết dạy của giáo viên, thăm dò ý kiến của giáo viên và học
sinh về phương pháp dạy học theo chủ đề.
Phương pháp chuyên gia: Lập phiếu hỏi ý kiến của chuyên gia về dạy
học theo chủ đề.
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng một số công cụ toán học để
thống kê và xử lý các kết quả điều tra, thực nghiệm
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ CHỦ ĐỀ DẠY
Như vậy đã có nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực tự
học cho HS và dạy học theo chủ đề trong dạy học hóa học. Tuy nhiên chưa có
tác giả nào nghiên cứu cụ thể việc dạy học theo chủ đề trong chương “Sắt và
một số kim loại quan trọng” – SGK Hóa học 12 nhằm phát triển năng lực tự
học cho HS, góp phần thực hiện quá trình đổi mới giáo dục mà Bộ Giáo dục
và Đào tạo (GD&ĐT) đang triển khai hiện nay.[3,4]
1.2. Định hướng đổi mới giáo dục ở trường phổ thông
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa
là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học
sinh làm được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải
thực hiện thành công việc chuyển tử phương pháp dạy học năng về truyền thụ
kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng,
hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết
quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận
dụng kiến thức giải quyết vấn đề, chú trọng kiểm tra đánh giá trong quá trình
dạy học để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt
động dạy học và giáo dục.
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: “Đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra
theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trong giáo
dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách
nhiệm xã hội”.[1]
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm
theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ:
“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn
luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng
1.3. Năng lực tự học của học sinh phổ thông
1.3.1. Khái niệm tự học
Theo tài liệu “Học và dạy cách học” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn
viết: “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm
vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành trên
lớp, theo hoặc không theo chương trình sách giáo khoa đã được quy định. Tự
học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao
và mang đậm sắc thái cá nhân”
Theo tài liệu “Quá trình dạy-tự học” của tác giải Nguyễn Cảnh Toàn
viết: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, vv) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử
dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cá
nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ,
không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn
thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu
biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”.
Theo từ điển giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001: “Tự học là
quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khóa học và rèn luyện kĩ năng
thực hành”.
Như vậy, tự học là hoạt động do bản thân người học quyết định thực
hiện và điều chỉnh một cách tự giác, tích cực nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.
1.3.2. Năng lực tự học
Năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng vì tự học là chìa khóa
tiến vào thế kỉ XXI – một thế kỉ với quan niệm học tập suốt đời. Năng lực tự
học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình
huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao.
Các năng lực tự học cơ bản
- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề: hết sức quan trọng
dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn
cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt. Nếu dùng tài liệu thì HS càng
gặp khó khăn và không biết hỏi ai.
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Tự lực thực hiện một số hoạt động học
dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp, với hình thức này cũng đem lại
hiệu quả nhất định song vẫn sẽ gặp khó khăn khi tiến hành các thí nghiệm.
1.3.4. Cấu trúc của năng lực tự học.
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã mô tả năng lực tự học
gồm 3 năng lực thành phần với các biểu hiện của năng lực tự học.
Bảng 1.1. Bảng mô tả NLTH
Năng lực thành phần
Biểu hiện của năng lực
a) Xác định mục tiêu học tập Xác định nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả
đã đạt được; đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ
thể, khắc phục những khía cạnh còn yếu kém.
b) Lập kế hoạch và thực hiện Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học
cách học
tập; hình thành cách học tập riêng của bản
thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các
mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; thành
thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và
làm thư mục phù hợp với từng chủ đề học tập
của các bài tập khác nhau; ghi chép thông tin
đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận
lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi
cần thiết; tự đặt được vấn đề học tập.
+ Học sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
+ Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao
+ Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của học sinh để dùng khi
chấm.
+ Người ra đề không nhất thiết phải tham gia chấm bài
Thông thường, để thiết kế một đề kiểm tra cần tuân thủ các bước sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu đánh giá.
- Bước 2: Xác định hình thức kiểm tra đánh giá.
- Bước 3: Xác định nội dung cần đánh giá và bậc nhận thức tương ứng
với các nội dung đó, tỉ lệ các bậc nhận thức phù hợp, đáp ứng mục đích đánh
giá.
- Bước 4: Viết câu hỏi kiểm tra tương ứng với nội dung và bậc nhận
thức của nội dung đó.
- Bước 5: Tổ hợp các câu hỏi thành đề kiểm tra đúng với tỉ lệ đã quy
định trong ma trận đề kiểm tra.
- Bước 6: Giải đề, chỉnh sửa nội dung và hình thức cho phù hợp.
Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn hay bài kiểm tra nói chung dùng để kiểm tra đánh giá kết
quả học tập hoặc đối với nội dung học tập của các môn học trong chương
trình của từng lớp, nhấn mạnh vào kĩ năng trình bày, giao tiếp của học sinh.
GV có thể tiếp cận một hoặc một nhóm HS, thậm chí là cùng với cả bố mẹ
HS, vào hình thức đánh giá này để có thông tin quý giá về quá trình học thật
của HS.
Phương pháp tự đánh giá và đánh giá đồng cấp
Thông thường quá trình để đánh giá HS thông qua hoạt động kiểm tra
là: ra đề
tiến hành kiểm tra
Phương pháp qua các bài xemina
Xemina là một trong những bài học thực hành cơ bản, phân tích để sinh
viên thảo luận những thông báo, báo cáo, bảng tóm tắt về kết quả nghiên cứu
khoa học một cách độc lập và họ đã làm dưới sự hướng dẫn của giáo sư hoặc
thầy cô giáo hoặc chuyên gia đưa ra trong các lĩnh vực hẹp.
1.4. Xây dựng chủ đề dạy học
1.4.1. Nguyên tắc xây dựng chủ đề
Nguyên tắc 1: Đảm bảo mục tiêu giáo dục, hình thành và phát triển
các năng lực cần thiết cho người học
Theo chương trình phổ thông tổng thể, mục tiêu của chương trình giáo
dục phổ thông nhằm giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận
dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa
chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan
hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có
được cuộc sống có nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước
và nhân loại. Các năng lực cần hình thành và phát triển cho HS phổ thông
gồm có: (1) Những năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao
tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo); (2) Những năng lực
chuyên môn (năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự
nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ,
năng lực thể chất); (3) năng lực đặc biệt (năng khiếu) của HS.[2]
Như vậy, việc lựa chọn nội dung trong các chủ đề phải hướng tới việc
phát triển những năng lực cần thiết, đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức
được học vào việc giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn; năng lực sáng
tạo... đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Nguyên tắc 2: Đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, mang tính
thiết thực, có ý nghĩa với người học
Hiện nay, Việt Nam đang tích cực thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa
kiến thức được nghiên cứu cần được đi từ mức độ dễ đến khó, từ lí thuyết đến
những vấn đề của đời sống thực tiễn và đặc biệt gắn với nhu cầu và vừa sức
với HS.
Nguyên tắc 5: Tăng tính thực hành, tính thực tiễn; quan tâm tới những vấn đề
mang tính xã hội của địa phương
Mọi khoa học đều là kết quả nhận thức của con người trong quá trình
hoạt động thực tiễn. Vì thế, những nội dung các chủ đề lựa chọn cần tăng
cường tính hành dụng, tính thực tiễn nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận
dụng tri thức vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn
đề của thực tiễn, góp phần đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống.
Cần quan tâm tới các vấn đề mang tính xã hội của địa phương nhằm
giúp HS có những hiểu biết nhất định về nơi các em đang sống, từ đó chuẩn bị
cho HS tâm thế sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội của địa
phương.
Nguyên tắc 6: Việc xây dựng các chủ đề tích hợp dựa trên chương
trình hiện hành
Các chủ đề được xác định dựa vào những nội dung kiến thức có mối
liên hệ mật thiết với nhau trong một môn học hoặc một số môn học khác
nhau của chương trình hiện hành và những vấn đề giáo dục mang tính quốc
tế, quốc gia và có ý nghĩa đối với cuộc sống của HS.
Các chủ đề không chỉ được thực hiện giữa các nội dung trong môn
học mà có thể thực hiện giữa các môn học khác nhau.
1.4.2. Quy trình xây dựng chủ đề
Mỗi chủ đề dạy học phải giải quyết trọn vẹn một vấn đề học tập. Vì
vậy, việc xây dựng chủ đề dạy học cần thực hiện theo quy trình như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết trong dạy học chủ đề sẽ xây
dựng
Xác định vấn đề cần giải quyết là một trong những yêu cầu mang tính
huống đó [9]. Trong quá trình tìm hiểu, HS phải lập luận, bảo vệ ý kiến của
mình, đưa ra tập thể thảo luận những suy nghĩ và những kết luận cá nhân, từ
đó có những hiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không
đủ tạo nên. Những hoạt động do GV đề xuất cho HS được tổ chức theo tiến
trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho
các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho HS một phần tự chủ
khá lớn. Mục tiêu chính của quá trình dạy học là giúp HS chiếm lĩnh dần dần
các khái niệm khoa học và kĩ thuật, HS được thực hành, kèm theo là sự củng
cố ngôn ngữ viết và nói. Những yêu cầu mang tính nguyên tắc nói trên của
phương pháp dạy học tích cực là sự định hướng quan trọng cho việc lựa chọn
các chủ đề dạy học. Như vậy, việc xây dựng tiến trình dạy học chủ đề được
tiến hành bắt đầu từ xây dựng tình huống xuất phát, tiếp theo là các hoạt động
học như: đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề; thực hiện giải pháp để giải quyết
vấn đề; báo cáo, thảo luận; kết luận [7,8]... .
Bước 5: Kiểm tra đánh giá
Để đánh giá kết quả học tập của HS sau khi nghiên cứu chủ đề, GV xây
dựng bảng mô tả 4 mức độ nhận thức của HS (nhận biết, thông hiểu, vận
dụng, vận dụng cao) và xây dựng các câu hỏi/bài tập tương ứng với mỗi
loại/mức độ yêu cầu được mô tả. Ngoài ra, GV cần thiết kế và sử dụng các
công cụ khác như bảng kiểm quan sát; phiếu hỏi GV, HS; phiếu tự đánh giá
của HS; phiếu đánh giá sản phẩm HS,… dựa trên cấu trúc, biểu hiện của năng
lực được đánh giá sau khi tổ chức dạy học các chủ đề.
1.4.3. Cấu trúc trình bày chủ đề dạy học
Một chủ đề dạy học có cấu trúc gồm các nội dung sau đây:
I. Tên, nội dung chủ đề, thời lượng thực hiện
1. Tên chủ đề
2. Nội dung chủ đề (chủ đề chia làm mấy nội dung lớn, là những nội dung
nào)