Nghiên cứu ứng dụng bài tập chuyên môn nâng cao kỹ năng tính toán cho nữ đội tuyển cờ vua trường trung học phổ thông lương tài bắc ninh - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

BÙI VĂN TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
BÀI TẬP CHUYÊN MÔN NÂNG
CAO KỸ NĂNG TÍNH TOÁN CHO
NỮ ĐỘI TUYỂN CỜ VUA TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LƯƠNG
TÀI - BẮC NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học : Giáo dục Thể Chất

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

BÙI VĂN TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG
BÀI TẬP CHUYÊN MÔN NÂNG
CAO KỸ NĂNG TÍNH TOÁN CHO
NỮ ĐỘI TUYỂN CỜ VUA TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LƯƠNG
TÀI - BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Giáo dục Thể Chất

: Giáo viên

HLV

: Huấn luyện viên

LVĐ

: Lượng vận động

NXB

: Nhà xuất bản

STT

: Số thứ tự

TDTT

: Thể dục thể thao

THPT

: Trung học phổ thông

TN

: Thực nghiệm


2.3.1. Thời gian nghiên cứu ......................................................................... 30


Nội dung công việc ......................................................................................... 30
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 31
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu.......................................................................... 31
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................................. 32
3.1. Đánh giá thực trạng phong trào tập luyện cờ vua và kỹ năng tính toán
của nữ đội tuyển cờ vua trường trung học phổ thông Lương Tài - Bắc Ninh
...................................................................................................................... 32
3.1.1. Thực trạng chương trình môn học GDTC trường THPT Lương Tài Bắc Ninh ...................................................................................................... 32
3.1.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Lương Tài - Bắc
Ninh.............................................................................................................. 33
3.1.3. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC ................... 33
3.1.4. Thực trạng năng lực tính toán của nữ đội tuyển Cờ Vua .................. 34
3.1.5. Lựa chọn bài tập hình thành kỹ năng tính toán cho nữ đội tuyển Cờ
Vua............................................................................................................... 36
3.2. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập hình thành kỹ năng tính toán
cho nữ đội tuyển Cờ Vua trường THPT Lương Tài - Bắc Ninh..................... 37
3.2.1. Nghiên cứu lựa chọn test đánh giá năng lực tính toán cho nữ đội
tuyển Cờ Vua ............................................................................................... 37
3.2.2. Tổ chức thực nghiệm sư phạm .......................................................... 42
3.2.3. Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm.......................... 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 49
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 51


7

thế hệ trẻ, góp phần tích cực bồi dưỡng nhân lực cho con người, đáp ứng yêu
cầu lao động và sẵn sàng bảo vệ tổ quốc trong điều kiện đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Do đó phải đào tạo con người Việt Nam
phát triển cân đối toàn diện, có đạo đức - sức khỏe - thẩm mĩ và khả năng lao
động. Tập luyện TDTT là góp phần vào việc đẩy mạnh sản xuất, phát triển
kinh tế, xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc. TDTT còn được coi là sứ giả
của hòa bình, là cầu nối giữa dân tộc trên thế giới, mở rộng quan hệ ngoại
giao thúc đẩy kinh tế phát triển nâng cao vị thế quốc gia. TDTT là một bộ
phận của văn hóa mỗi dân tộc, cũng như của nền văn minh nhân loại. Trình
độ phát triển TDTT là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ văn hóa,
năng lực sáng tạo của mỗi dân tộc, là phương tiện để giao lưa văn hóa xã hội
nói chung, văn hóa thể chất nói riêng và quan hệ của nước ta với quốc tế.
Trong những năm gần đây nền thể thao nước ta đang dần khẳng định
được vị thế của mình trong tầm Châu lục cũng như trên Thế giới. TDTT nước
nhà đã giành nhiều thành tích vang dội trên đấu trường khu vực và thế giới.
Như bơi lội có Ánh Viên lọt top 10 VĐV xuất sắc nhất thế giới, hay thành
tích đạt HCV của xạ thủ Hoàng Xuân Vinh tại Olympic Rio 2016, hay Việt
Nam xếp thứ 41/173 nước thành viên Liên đoàn cờ vua thế giới (theo bảng
xếp hạng của Liên đoàn cờ vua thế giới tháng 2/2016)….
Cờ vua là môn thể thao có lịch sử phát triển lâu đời, ra đời vào khoảng
thế kỷ VI sau công nguyên tại Ấn Độ. Tuy nhiên cờ vua là môn thể thao còn
non trẻ, mới du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XX song cờ vua Việt Nam
đã và đang chiếm vị trí quan trọng trong khu vực. Đạt được nhiều thành tích
cao tại các giải Châu Á, Thế giới... giành được rất nhiều huy chương như: đại


22

kiện tướng Nguyễn Anh Dũng đoạt 3HCV Tại SEA Game 2005 (Philippines),
đại kiện tướng Nguyễn Ngọc Trường Sơn với thành tích HCV giải Châu Á và

Về tình cảm: Các em đã biểu lộ rõ hơn về tình cảm của bản thân với
ngôi trường mình gắn bó, với các thầy cô giáo đã dạy các em. Vì vậy, việc


55

giáo viên gây được thiện cảm và sự tôn trọng của các em là một trong những
thành công giúp giáo viên có nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy, thúc
đẩy các em tự giác, tích cực trong học tập.
Về trí nhớ: Các em ở tuổi này hầu như không tồn tại việc ghi nhớ máy
móc, do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic chặt chẽ
và lĩnh hội được bản chất, vấn đề cần học tập. Vậy nên, khi giảng dạy GDTC
giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân
tích chi tiết kĩ thuật động tác và vai trò, ý nghĩa cũng như cách sử dụng
phương tiện, phương pháp để các em có thể tự tập một cách độc lập trong thời
gian nhàn dỗi.
Các phẩm chất ý chí đã rõ ràng và mạnh mẽ hơn so với lứa tuổi trước
đó. Các em có thể tiếp thu được những bài tập khó và đòi hỏi cách khắc phục
khó khăn lớn trong tập luyện.
1.1.2. Đặc điểm sinh lí của học sinh THPT
 Hệ
kinh

thần

Đặc điểm lứa tuổi này hệ thần kinh tiếp tục được phát triển và đi đến
hoàn thiện, kỹ năng tư duy, phân tích, tổng hợp và trừu tượng được phát triển
tạo điều kiện cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện. Do hoạt
động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn
của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế chưa cân bằng làm


đối hoàn chỉnh. Mạch đập của nữ 70-80 lần/phút; của nam 75 - 85 lần/phút.
Nhưng vận động mạch, huyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng. Vì vậy, ở
lứa tuổi này có thể tập những bài tập sức bền, những bài tập có khối lượng và
cường độ vận động tương đối lớn nhưng phải thận trọng và thường xuyên
kiểm tra theo dõi tình trạng sức khỏe của các VĐV.
Hệ
hấp


Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện. Vòng ngực trung bình

của nam 67 - 72cm. Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng lúc 16-18 tuổi là
3-4 lít, tần số hô hấp gần giống với người lớn. Tuy nhiên, các cơ hô hấp vẫn
còn yếu nên sức co dãn của lồng ngực ít chủ yếu là co dãn của cơ hoành. Vì
vậy, trong tập luyện cần thở sâu, tập trung chú ý thở bằng ngực và bụng.
1.2. Đặc điểm tâm - sinh lý trong môn Cờ vua
1.2.1. Đặc điểm tâm lý trong môn Cờ vua
Cờ vua là môn thể thao trí lực có đặc trưng là ít đòi hỏi về các tố chất
thể lực, song lại có yêu cầu cao về sự bền bỉ, mưu trí, thông minh óc sáng tạo
của người chơi. Tập luyện và thi đấu Cờ vua giúp cho phát triển hài hòa các
phẩm chất tâm lý của mỗi cá nhân.
Trong quá trình học tập, tập luyện Cờ vua, khả năng tư duy logic và tự
giác được phát triển, trí nhớ linh hoạt hơn, bền vững hơn và dung lượng ghi


77

nhớ lớn hơn, khả năng tập trung chú ý được phát triển và hoàn thiện. Cờ vua
giúp đẩy mạnh việc tập trung suy nghĩ, khả năng lựa chọn quyết định, góp

của VĐV nghĩa là làm mất đi trạng thái sung sức thể thao của VĐV Cờ vua.
Vì vậy, việc định mức áp dụng lượng vận động phù hợp đối với từng
VĐV trong tập luyện và thi đấu Cờ vua là một vấn đề hết sức quan trọng đối
với việc đạt được thành tích cao trong thi đấu.
Lượng vận động tâm lý trong Cờ vua chính là sự căng thẳng về cảm
xúc và thần kinh do mật độ, độ khó của bài tập cờ, tình huống cũng như thời
gian thực hiện bài tập, tình huống đó. Các tác nhân tâm lý (cường độ cảm xúc,
sự căng thẳng về lý trí…) có tác động mạnh thì làm tăng cường hoặc làm
giảm sút khả năng chức phận của cơ thể. Theo giáo sư P.Kunat lượng vận
động tâm lý là một quá trình bao gồm ba bước [1]:
Bước 1: Đạt yêu cầu cơ bản của bài tập, tuy vẫn còn sai sót trong việc
thực hiện cũng như trong các phản xạ. Ở đây có sự căng thẳng lớn về mặt cảm
xúc và lý trí được điều khiển được các năng lực cần thiết trong môn thể thao
chuyên sâu nhằm giải quyết tốt nhiệm vụ tập luyện.
Bước 2: Không có sai sót trong việc thực hiện các bài tập. Bắt đầu điều
khiển được chi tiết hành động trong khi thực hiện bài tập. Giảm sự căng thẳng
về cảm xúc và lý trí.
Bước 3: Thiết lập được sự thích nghi của cơ thể đối với lượng vận động
tâm lý.
Lượng vận động tâm lý trong Cờ vua nằm trong mối quan hệ biện
chứng với sức bền tâm lý. Sức bền tâm lý của VĐV Cờ vua là khả năng hệ
thống tâm thể của VĐV có thể chịu được lượng vận động cao trong tập luyện
và thi đấu, duy trì được sự cân bằng cần thiết trong hệ thống đó.
Sức bền tâm lý trong Cờ vua phụ thuộc vào:
- Trạng thái tâm lý trước vận động
- Loại hình thần kinh của VĐV


99


1
0

tương đối nhanh và hiệu quả là một số VĐV Cờ vua xuất hiện các “khoảng
tối” trong việc nhìn nhận các thế cờ. Nghĩa là việc định vị được trong trí nhớ
chỉ một phần nào đó của bàn cờ, nơi diễn ra các sự kiện quan trọng hơn cả.
Trong quá trình thử nghiệm đã sử dụng tổ hợp các phương pháp về tâm
- sinh lý bao gồm: ghi điện tâm đồ, xác định huyết áp tối đa và huyết áp tối
thiểu, xác định tần số hô hấp và tần số mạch đập.
Những kết quả thu được từ điện não đồ trong quá trình thử nghiệm đã
chứng tỏ rằng: Sự biến đổi hoạt lực điện sinh vật của não trong quá trình thực
hiện ván đấu cho phép đánh giá về độ khó của nhiệm vụ mà nữ VĐV Cờ vua
phải giải quyết. Khi chơi trong giai đoạn khai cuộc, với các phương án quen
thuộc, việc lựa chọn nước đi dường như là tự động, không hề có khó khăn thì
giá trị sinh lý của ván đấu là không cao. Trong giai đoạn trung cuộc và tàn
cuộc, khi mà phần lớn các ván đấu được xác định bởi sự tính toán căng thẳng
thì giá trị sinh lý của ván đấu đạt kết quả cao nhất. Cùng qua các thử nghiệm
cho thấy, giá trị sinh lý của ván đấu còn đạt mức cao nhất trong những tình
thế thiếu thời gian (xêinốt), trong những tình thế sau khi thực hiện nước đi
không chính xác, hoặc sau những nước đi bất ngờ của đối phương.
Đồng thời với những thay đổi trên điện não đồ, khi thực hiện lượng vận
động thi đấu đã làm tăng dần số mạch đập và huyết áp. Những biến đổi đó thể
hiện ở phần lớn các nữ VĐV, trong một mức độ vừa phải. Những thử nghiệm
trong điều kiện hạn hẹp thời gian ở các đối tượng nghiên cứu cho thấy, sự
tăng có tính quy luật của cả tần số hô hấp và tần số mạch đập, chúng được
đánh giá như “Stress phản ứng chuẩn” đối với lượng vận động về cảm xúc.
Kết quả của những thí nghiệm về chức năng hệ tuần hoàn được trình bày ở
bảng sau:




HA

(1/phút)

(mmHg)

(1/phút)

(mmHg)

(1/phút)

(mmHg)

(1/phút)

(mmHg)

120/70

114

140/80

156

140/80

150


94

115/75

114

2.

DBKT

83

140/90

108

3.

KT

70

105/55

60

4.

DBKT


7.

DBKT

84

130/80

100

100

150/80

104

140/90

8.

DBKT

68

120/75

80

82


95/55

120

120/70

116

120

130/70

11.

DBKT

90

120/70

88

90

98

120/75

12.

Trên cơ sở của quy luật các quá trình thu nhận P. Ia. Ganperin đã đưa
ra quy luật nhận thức. đây là cơ sở tâm lý mang tính phương pháp luận trong
công tác giảng dạy - huấn luyện môn Cờ vua.
Quá trình nhận thức là một chuỗi lôgic gồm 5 giai đoạn, sự phát triển
của quá trình này diễn ra theo hình xoáy trôn ốc:


12
1
2

+ Giai đoạn 1: Tác động mang tính vật lý cụ thể (có ý nghĩa từ quan
điểm sư phạm) cần được thực hiện cách đúng đắn việc thực hiện đúng (qua sự
thực hiện của người học) được đảm bảo bởi sự cân nhắc kỹ lưỡng việc phân
tích logic của tác động và những điểm trọng tâm của tác động đó. Trong
những trường hợp đơn giản sự đúng đắn đó là rõ ràng xong trong những
trường hợp phức tạp cần phải có sự phân tích chuyên biệt. Cần lưu ý rằng nếu
ở giai đoạn này việc để tồn tại các sai lầm dù nhỏ thì sau này khó mà sửa chữa
được.
+ Giai đoạn 2: Sự thực hiện tác động vật lý được kèm theo việc mô tả
bằng lời các thao tác cần thực hiện, cũng như ở giai đoạn trên cần phải thận
trọng mô tả một cách chính xác bằng lời, sự tạo ra sai sót đặc biệt là sự mô tả
bằng lời không chính xác đối với một tác động này hay tác động khác sẽ ảnh
hưởng đến độ chuẩn xác của tác động được hình thành trong trí não và điều
đó làm giảm tốc độ hình thành chung của nó.
+ Giai đoạn 3: Trộn lẫn tác động được thực hiện bằng tác động có
hình ảnh với lời nói để lưu giữ được hình ảnh theo quy luật, cần sử dụng các
điều kiện tác động trực quan hay những cách tưởng tượng thay thế, thực chất
của giai đoạn này là ở chỗ đình chỉ tác động đựơc thực hiện về phương diện
vật lý và bắt đầu xây dựng mối liên hệ hình ảnh và ngôn ngữ, trong một vài

1.4.2. Các dạng thức tính toán
Tính toán trong Cờ vua thể hiện thông qua ba dạng thức: Nhánh đơn,
nhánh đa và nhánh phức.
a. Nhánh đơn.
Dùng để tính toán cho những biến thế
ngắn, không phức tạp, chỉ gồm từ 2 đến 3
nước cờ dự bị.
Ví dụ: Tình huống xuất hiện trong ván
đấu giữa Pêtrôxian - Kureitric. 1976 (sơ đồ
1.1 - hình 1.1).
Hình 1


14
1
4

Sau 15 nước đi, ván cờ xuất hiện tình huống như trên, Trắng đạt được
sự chiến thắng nhờ tính toán chính xác một đòn phối hợp không phức tạp: 16.
M:e4 H:e4 17. Td3 Hb4 + 18. H:b4 M:b4 19. T:h7+ Vh8 20. Tb1+ ! Vh8
21. Xc4 a5 (nếu 21... Mc6 22. Th7+ Vh8 23. Tc2+ ! Vg8 24. Xch4 g6 25.
Xh8+ Vg7 26. X1h7+ Vf6 27. X:f8) 22. thế cờ7+ Vh8 23. Tf5+ ! Vg8 24.
Xch4 g6 (24... f6 25. Tg6!) 25. Xh8+ Vg7 26. X1h7+ Vf6 27. X:f8 gf 28.

1 6 . M : e
4

Xhh8. và Đen đầu hàng.

SƠ ĐỒ 1.1. SƠ ĐỒ TÍNH TOÁN THEO CÔNG THỨC NHÁNH ĐƠN


15
1
5

SƠ ĐỒ 1.2. SƠ ĐỒ TÍNH TOÁN THEO CÔNG THỨC NHÁNH ĐA.
c. Nhánh phức
Là dạng thức dùng để tính toán trong những trường hợp thế cờ căng
thẳng, phức tạp, số lượng quân trên bàn cờ nhiều, thường là vào thời điểm
cuối giai đoạn khai cuộc và đầu giai đoạn trung.
Ví dụ: Tình huống trong ván đấu giữa Capenlô - Côtốv, Manta - 1976
(sơ đồ 1.3 - hình 3).
Nhìn vào thế cờ chúng ta thấy, Trắng có thể ăn hơn chất bằng 1. X:f6
V:f6 và 2. H:e8... Tuy nhiên sau nước đi này, liệu Trắng có dẫn được tới một
thế cờ có ưu thế cho mình hay không, đòi hỏi chúng ta phải tính toán ký
lưỡng các phương án có thể nảy sinh.
Sau 1. Xf6 Vf6 2. He8 bc 3. Hf8 + các phương án cần tính là: I.3...
Vg5 và II.3... Hf7.
I.3... Vg5 4. h4 + , và các thế biến nảy sinh cần phải tính toán là:
a/.4... Vh4
b/. Vg4
c/. Vh5


16
1
6

a/.4... Vh4 5. Hh6 + Vg4 6. Md3 Hf7 7. Hh3 + Vg5 8. He3 + Vh5 9.
Mc5 + dc 10. bc .

chuyên môn (Cờ Nhảy, Cờ Vây, Cờ Tướng... ), các tác động xã hội nhằm phát
triển và hình thành nhân cách như: Thăm quan, du lịch, hoặc tác động của các
môn khoa học khác nhằm phát triển các năng lực tâm lý, sinh lý...
- Nhóm bài tập chuyên môn: Bao gồm các bài tập nghiên cứu, các bài
tập hình thành và phát triển năng lực chuyên môn.
- Nhóm bài tập thi đấu: Bao gồm các ván đấu theo quy trình thi đấu (có
thời gian hạn định, kiểm tra nước đi... ) được thực hiện trong các điều kiện
khác nhau.
Chỉ tiêu khối lượng và cường độ của lượng vận động trong tập luyện và
thi đấu Cờ Vua được cụ thể hóa thông qua bảng 1.1 (A. Côtôv - 1982).


Bảng 1.2. Các chỉ tiêu khối lượng và cường độ của lượng vận động trong
tập luyện và thi đấu cờ vua (theo A. Côtôv - 1982).
Chỉ tiêu xác định khối lượng
vận động

Chỉ tiêu xác định cường độ vận động
Tâm lý

- Tổng thời gian tác động - Trình độ đối phương.
(thời gian tác động bài tập).

Sinh lý
- Tần số mạch đập.

- Thời gian hạn định (lần/phút).

- Tổng số bài tập (số lượng cho mỗi nhiệm vụ cần - Huyết áp.
bài tập, số lượng ván đấu).

vào độ lớn của lượng vận động. Nếu các điều kiện như nhau, thì lượng vận
động càng lớn thì thời hạn thích nghi càng dài.
Như vậy, đặc điểm tiêu biểu của sự diễn biến lượng vận động trong tập
luyện và thi đấu Cờ Vua phải là tính tuần tự. Trong quá trình giảng dạy - huấn
luyện có thể sử dụng các hình thức khác nhau để nâng dần yêu cầu đó là: hình
thức đi lên theo đường thẳng, hình thức theo hình bậc thang và hình thức làn
sóng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status