Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và các yếu tố nguy cơ tử vong trong ngộ độc cấp trẻ em tại bệnh viện nhi trung ương - Pdf 56

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

NGUYN TN HNG

Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và các
yếu tố
nguy cơ tử vong trong ngộ độc cấp trẻ em
tại Bệnh viện Nhi Trung ơng
Chuyờn ngnh

: Nhi Hi sc

Mó s

: CK 62721650

CNG LUN VN BC S CHUYấN KHOA II

Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS. Trng Th Mai Hng

H NI - 2019


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AAPCC:



MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
ƯCƠHNG1: TỔNG QUAN.................................................................................................3
1.1. Đại cương về ngộ độc cấp......................................................................3
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về chất độc và ngộ độc cấp.....................3
1.1.2. Vài nét về lịch sử ngộ độc cấp........................................................4
1.2. Tình hình ngộ độc cấp............................................................................5
1.3. Đặc điểm ngộ độc cấp ở Việt Nam.........................................................8
1.4. Nguyên nhân ngộ độc cấp ở trẻ em........................................................9
1.4.1. Hoàn cảnh ngộ độc cấp...................................................................9
1.4.2. Tác nhân gây ngộ độc....................................................................11
1.5. Sự hấp thu và thải trừ của chất độc trong cơ thể..................................12
1.5.1. Sự hấp thu......................................................................................12
1.5.2. Sự thải trừ chất độc.......................................................................14
1.6. Biểu hiện lâm sàng của NĐC...............................................................15
1.6.1. Triệu chứng toàn thân....................................................................15
1.6.2. Triệu chứng tổn thương các bộ phận.............................................16
1.6.3. Các hội chứng ngộ độc..................................................................17
1.7. Điều trị NĐC ở trẻ em..........................................................................18
1.7.1. Loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể.....................................................19
1.7.2. Điều trị đặc hiệu về chống độc......................................................21
1.7.3. Điều trị triệu chứng, hồi phục các rối loạn chức năng..................23
ƯCƠHNG2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................24
2.1. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................24
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân vào nghiên cứu.................................24
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân.......................................................24
2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.................................................25



Bảng 2.1: Biến số nghiên cứu mục tiêu 1.......................................................25
Bảng 2.2: Biến số nghiên cứu mục tiêu 2.......................................................29
Bảng 3.1: Phân bố theo địa dư........................................................................33
Bảng 3.2: Phân bố theo đường nhiễm.............................................................33
Bảng 3.3: Tác nhân gây ngộ độc.....................................................................35
Bảng 3.4: Phân bố hoàn cảnh theo tác nhân gây ngộ độc...............................35
Bảng 3.5: Phân bố hoàn cảnh ngộ độc theo nhóm tuổi...................................36
Bảng 3.6: Phân bố hoàn cảnh ngộ độc theo giới.............................................36
Bảng 3.7: Phân bố theo điều trị.......................................................................37
Bảng 3.8: Phân bố kết quả điều trị theo hoàn cảnh nhiễm độc.......................38
Bảng 3.9: Phân bố kết quả điều trị theo tác nhân gây ngộ độc.......................38
Bảng 3.10: Liên quan giữa tử vong và nhóm tuổi...........................................39
Bảng 3.11: Liên quan giữa tử vong và địa dư.................................................40
Bảng 3.12: Liên quan giữa tử vong và hoàn cảnh ngộ độc.............................40
Bảng 3.13: Liên quan giữa tử vong và tác nhân gây ngộ độc.........................40
Bảng 3.14: Liên quan giữa tử vong và thời gian nhập viện............................41
Bảng 3.15: Liên quan giữa tử vong và mức độ nặng khi vào viện.................41


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Động học của chất độc................................................................15
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo nhóm tuổi..............................................................32
Biểu đồ 3.2: Phân bố theo giới........................................................................33
Biểu đồ 3.3: Phân bố theo thời gian................................................................34
Biểu đồ 3.4: Hoàn cảnh ngộ độc.....................................................................34
Biểu đồ 3.5: Phân bố theo triệu chứng............................................................36
Biểu đồ 3.6: Phân bố theo kết quả điều trị......................................................37
Biểu đồ 3.7: Phân bố kết quả điều trị theo phương pháp điều trị....................39



2

những thứ có thể ăn được, đồng thời khi bị ngộ độc trẻ rất dễ bị ảnh hưởng
lâu dài đến sự phát triển cả thể chất lẫn tinh thần do cơ thể trẻ đang trong giai
đoạn phát triển, cấu trúc và chức năng của các cơ quan chưa hoàn chỉnh nên
chịu sự tác động mạnh mẽ của các độc chất, điển hình như ngộ độc chì.Bên
cạnh đó do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các loại hóa chất trong
nông nghiệp, công nghiệp, các hóa chất bảo quản và chế biến thực phẩm
đang được sử dụng tràn lan. Sự nhập khẩu và lưu thông ngày càng nhiều các
loại thuốc, dược phẩm, hóa mỹ phẩm, trong đó có một lượng đáng kể các
thuốc kém phẩm chất, thuốc giả và những thuốc, hóa chất nhập lậu không rõ
nguồn gốc càng làm tăng các vụ ngộ độc.
Tại Bệnh viện Nhi Trung Ương đã có một số đề tài về ngộ độc ở trẻ em
tuy nhiên các đề tài mới chỉ dừng lại ở mức riêng lẻ về một loại độc chất cụ thể
mà chưa có tính khái quát chung. Vì thế nhằm làm giảm bớt tỉ lệ NĐC ở trẻ em
cũng như làm giảm tỉ lệ tử vong do NĐC gây nên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và các yếu tố nguy cơ tử vong
trong ngộ độc cấp trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương” với 02 mục tiêu:
1.

Nhận xét các đặc điểm dịch tễ học lâm sàng trong ngộ độc cấp ở trẻ
em tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

2.

Đánh giá một số yếu tố nguy cơ tử vong trong ngộ độc cấp ở trẻ em
tại Bệnh viện Nhi Trung ương.


3

suy giảm chức năng không hồi phục…[10].
1.1.2. Vài nét về lịch sử ngộ độc cấp.
Từ “chất độc” (poison) lần đầu xuất hiện trong văn học Anh những năm
1930 được mô tả như một loại nước uống có thành phần độc chết người. Tuy
nhiên, lịch sử về chất độc (poison) và ngộ độc (poisoning) đã có có hàng
ngàn năm trước đó.
Cùng với những hiểu biết mới về thế giới tự nhiên, con người dần dần
phát hiện ra chất độc và tách chiết chất độc từ cây cỏ, nọc độc và khoáng chất.
- Cây độc: aconite (củ ấu tàu), cyanide (vỏ sắn, măng tươi, prunus
specise), opium (cây thuốc phiện), strychnine (mã tiền).
- Độc vật và cá độc: canthrides (sâu ban miêu), cá nóc, bọ cạp, rắn độc,
cá độc đuôi gai, ong đốt…
- Chất khoáng độc: antimony, arsenic, đồng, chì, thuỷ ngân…
Với những độc chất trên, người cổ xưa thường dùng để săn bắn, tiến
hành chiến tranh, ám sát.... Những tài liệu được viết trong các sách Ai Cập
cổ đại khoảng 1500 trước công nguyên đã cho thấy điều này. Tranh vẽ trong
các hang ở của người đi săn Masai Kenya, họ sống từ 1800 năm trước đây,
cho thấy họ sử dụng cung tên độc (với chất độc gắn vào mũi tên) để làm tăng
hiệu quả cho những vũ khí săn giết động vật hay đối phưong, một trong
những độc chất ấy là chất Strophantin chiết xuất từ một loại cây Strophantus
giống chất digitalis. Việc dùng tên có tẩm độc đã xuất hiện ở nhiều dân tộc
cổ xưa như Ấn Độ, Hy Lạp và lưu truyền trong các sách cổ đại. Bên cạnh
nhu cầu đó thì các thầy thuốc Hy Lạp và La Mã cổ đại đầu tiên đãphân loại
và định hướng độc chất. Phân loại đơn giản của họ dựa vào nguồngốc của
độc chất: chất độc trong dộng vật, chất độc trong thực vật và chất độc trong
khoáng chất...


5



- Tại Mỹ, mỗi ngày, hơn 300 trẻ tại Mỹ tuổi từ 0-19 được điều trị tại
khoa cấp cứu, có 2 trẻ tử vong do hậu quả của ngộ độc [14]. Mỗi năm
AAPCC báo cáo 1,6 triệu trẻ em và vị thành niên từ 0 - 19 tuổi tiếp xúc với
chất độc, chiếm khoảng 65% trong số các ca nhiễm chất độc được báo cáo.
Trong đó, trẻ em nhỏ hơn 6 tuổi chiếm khoảng 79%, trẻ em tuổi từ 6 - 12
chiếm khoảng 10% và vị thành niên chiếm khoảng 11%. Các ca nhiễm độc
chất được báo cáo ở các bé gái có 47% ở tuổi thiếu niên và 55% trong độ
tuổi vị thành niên [15]. Dữ liệu của AAPCC công bố năm 2012 cho thấy 57
Trung tâm chống độc của Mỹ xử lí 3,3 triệu ca, trung bình hơn 9000 ca mỗi
ngày và các trung tâm này phải tiêu tốn 81 triệu USD mỗi năm. Trẻ dưới 6
tuổi chiếm khoảng 1/2 số ca phơi nhiễm. Tổng cộng 2937 ca tử vong được
báo cáo, trong đó hơn 20,46% ca dưới 6 tuổi. Thuốc an thần, thuốc tim
mạch, opioids, acetaminophen là các tác nhân chính gây tử vong. Phơi nhiễm
chất độc nặng tăng 4,6% mỗi năm từ sau năm 2000,80% ca do vô ý, 16% do
cố ý. 10% số ca nghi ngờ có ý định tự tử [16]. Báo cáo năm 2017 tại Mỹ cho
thấy cứ 14,9 giây lại có một ca ghi nhận ngộ độc và có 6,4 trường hợp ngộ
độc trên tỉ lệ 1000 dân số trong đó cứ 1000 trẻ em bị ngộ độc lại có 39,1
trường hợp dưới 6 tuổi [17]. Số ca nghi ngờ ngộ độc ở trẻ em khoảng 40000
ca vào khoa cấp cứu ở England và Wales, với khoảng 1/2 được nhập viện
cho theo dõi, điều trị. Phần lớn các ca ngộ độc do không cố ý, đặc biệt ở trẻ
dưới 5 tuổi, dùng quá liều và lạm dụng chất gặp ở những trẻ lớn hơn. Hiếm
khi trẻ em bị người lớn cố ý đầu độc. Tử vong do ngộ độc đang giảm, chỉ có
2 ca tử vong năm 2006 so với tỉ lệ chết 85% năm 1976 nhờ có sự áp dụng
các vỏ bao bảo vệ, giảm hàm lượng viên aspirin, acetaminophen và các
phương tiện điều trị hiệu quả, sự hỗ trợ từ NPIS (the national poisons
information service) qua điện thoại cũng như dữ liệu điện tử…Những lời
khuyên thích hợp này đã làm giảm tỉ lệ nhập viện không cần thiết và giảm tỉ
lệ bệnh tật và tử vong [18].


8

nhi chiếm 8,6% [4]. Tỉ lệ NĐC đã có sự giảm rõ rệt trong những năm gần
đây đến năm 2013 là 0,06% tổng số bệnh nhân nhập viện còn năm 2014 tỉ lệ
này là 0,08% [24].
1.3. Đặc điểm ngộ độc cấp ở Việt Nam.
Theo nghiên cứu của Đăng Phương Kiệt tại BV Nhi TW trong 9 năm
(1970-1978) cho thấy tuổi ngộ độc cấp ở trẻ em từ sơ sinh đến 15 tuổi nhưng
nhiều nhất là 1- 4 tuổi (48,5%), 5- 15 tuổi chiếm 33,8%, trẻ bú mẹ chiếm
17,7%; lứa tuổi còn bú (dưới 12 tháng tuổi) chủ yếu là ngộ độc thuốc
(89,2%), từ 4 tuổi trở lên đa số là ngộ độc thức ăn (68,6%) [25].
Nghiên cứu của Nguyễn Thúy Anh về ngộ độc cấp trẻ em làm tại Bệnh
viện Saint-Paul Hà Nội trong 2 năm 1993, 1994 cho thấy NĐC hay gặp ở nội
thành (71,6%), nam nhiều hơn nữ (60% và 40%); lứa tuổi hay gặp là 1- 5
tuổi (43,3%) mà nguyên nhân do thiếu hiểu biết, thiếu thận trọng của bố mẹ
và do trẻ ở tuổi này hay tò mò, tự tử chiếm tỉ lệ khá cao là 20%, chủ yếu do
cha mẹ mắng hoặc cãi nhau với anh chị em; thuốc là tác nhân hàng đầu gây
ngộ độc (43,3%), tiếp theo là ngộ độc thức ăn (30%), hóa chất (26,7%); tử
vong 01 ca chiếm 1,7% [26].
Long Nary nghiên cứu trên 285 trẻ bị NĐC tạiBV Nhi TW trong 4 năm
1997- 2001 cho thấy trẻ 1- 5 tuổi bị NĐC chiếm đa số là 66,7%, trẻ 6- 10
tuổi 13,5%; trẻ 11- 15 tuổi chiếm 13,2%; ngộ độc do thuốc và hóa chất
không khác nhau về giới, nhưng ngộ độc do ăn thực phẩm độc và do rắn cắnong đốt thì nam nhiều hơn nữ; ngộ độc chủ yếu do vô ý (78,3%), trẻ tự tử
chiếm 6,6%; hóa chất là tác nhân hàng đầu gây NĐC (62,4%), kế đến là
thuốc (20,9%), thực phẩm độc (11,2%), nọc độc (5,5%); đường nhiễm độc
chủ yếu là đường tiêu hóa (94,2%); tỉ lệ tử vong chiếm 8,6% [4].
Nguyễn Thị Kim Thoa nghiên cứu trên 1025 trẻ bị NĐC phải nhập viện
Nhi đồng I trong thời gian 4 năm thấy: NĐC thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi
(52,5%), nam nhiều hơn nữ, đường vào phổ biến là đường tiêu hóa (73%);



1.4.1. Hoàn cảnh ngộ độc cấp.
1.4.1.1. Không cố ý.
Theo AAPCC trẻ ngộ độc do không cố ý là 92,7% [2], theo Trương Thị
Mai Hồng là 98,3% [24], theo Nguyễn Thúy Anh là 79,9% [28], của BV NĐ
II là 95% [22].
Gồm các trường hợp sau:
Trẻ vô tình ăn uống phải chất độc.
+ Trẻ nhỏ lấy được thuốc, hóa chất, thực phẩm độc trong tầm tay cho
vào miệng và bị ngộ độc.
+ Trẻ ăn uống nhầm chất gây độc tưởng nhầm chất tẩy rửa là nước…
Theo Đặng Phương Kiệt tỉ lệ là 20,4% [25], theo Nguyễn Thúy Anh là
18,3% [26].
Người lớn dùng cho trẻ gây ngộ độc:
+ Tự mua thuốc cho trẻ uống để điều trị.
+ Cho trẻ ăn thực phẩm độc: cá nóc, cóc, sắn…
+ Dùng chất gây ngộ độc cho trẻ do nhầm lẫn: tưởng dầu là nước.
Theo Đặng Phương Kiệt tỉ lệ là 20,46% [25], theo Long Nary là 12,4% [4].
Ngộ độc thực phẩm (NĐTP):
+ Do ăn phải thực phẩm độc: dựa theo lời khai của gia đình.
+ Do ăn thức ăn nhiễm độc, nhiễm khuẩn: dựa vào bệnh sử và lâm
sàng phù hợp, đặc biệt tính chất nhiều người ăn cùng cũng bị tương tự.
+ Ăn thức ăn dính chất bảo vệ thực vật: dựa vào bệnh sử, lâm sàng đặc
trưng, và các xét nghiệm đặc hiệu.
Theo Nguyễn Thị Kim Thoa, NĐTP chiếm tỉ lệ 10,7% [21] còn theo Vũ
Thị Mai là 16,5% [27].
Rắn cắn- côn trùng đốt.


11

1.4.2.1. Nhóm thuốc: thuốc an thần, thuốc giảm đau…
Theo Nguyễn Thúy Anh, thuốc là tác nhân hàng đầu gây ngộ độc cấp ở
trẻ em, chiếm 43,3% [28]. Theo Gupta, thuốc đứng hàng thứ hai với tỉ lệ
21,8% [29] còn theo Vũ Thị Mai tỉ lệ này chỉ có 6,5% [27].
1.4.2.2. Nhóm hóa chất: thuốc trừ sâu, thuốc chuột, xăng dầu, acid, base,
chất tẩy rửa…
Theo một nghiên cứu của Anh, hóa chất gây ra biểu hiện lâm sàng cấp
tính và trầm trọng nhất [30]. Đây cũng là tác nhân hay gặp nhất trong nghiên
cứu tại BV Bạch Mai đặc biệt là hóa chất bảo vệ thực vật (HC BVTV) [27].
1.4.2.3. Nhóm chất gây nghiện: heroin, rượu, . . .
Nghiên cứu của Vũ Đình Thắng có 02 ca [22] còn Vũ Thị Mai là 08 ca [27].
1.4.2.4. Nhóm ngộ độc thực phẩm.
Ở các nước phát triển, NĐTP tương đối ít xảy ra, theo báo cáo của
AAPCC 2002, NĐTP chiếm 1,8% [2]. Ở nước ta, NĐTP rất hay gặp, theo
Trương Thị Mai Hồng tỉ lệ là 38,7% [24], theo Nguyễn Thúy Anh là 30%
[26] còn theo Vũ Thị Mai là 16,5% [27].
1.4.2.5. Nọc độc: rắn cắn, côn trùng đốt.
Nghiên cứu của Vũ Thị Mai có 54 ca [27] còn nghiên cứu tại BV Nhi
TW là 19 ca [24].
1.5. Sự hấp thu và thải trừ của chất độc trong cơ thể [10]
1.5.1. Sự hấp thu
Chất độc vào cơ thể qua 3 đường chính: tiêu hóa, hô hấp, da và niêm mạc.
Đây là những đường hấp thu tự nhiên khi cơ thể tiếp xúc với môi trường
* Đường tiêu hoá:
Ngộ độc qua đường tiêu hóa ở trẻ em hay gặp nhất chiếm 70% [31]. Do
ăn phải, uống phải.
Trẻ nhỏ thường tình cờ ăn hoặc uống phải chất độc, còn người lớn uống


13


14

- Da là một mô phức tạp nhiều lớp chiếm khoảng 10% trọng lượng cơ thể.
Da hầu như không thấm với phần lớn ion và dung dịch nước, tuy nhiên một vài
chất độc có thể qua da và niêm mạc gây độc cho cơ thể như phospho hữu cơ,
một số dung môi, clo hữu cơ, mỡ salicylat, cồn, long não…Tùy theo từng vùng
lớp biểu bì sẽ có độ dày khác nhau. Chỗ dày thì nhiều keratin hơn. Lớp này tạo
lên hàng rào của biểu bì tuy nhiên cũng là nơi dự trữ chất độc. Một số dung
môigây tổn hại lớp lipid (aceton, ether…) sẽ làm tăng tính thấm của da. Các
chất không gây tổn hại lớp lipid (dầu oliver, ether có chuỗi dài…) sẽ làm giảm
tính thấm của da. Ngộ độc qua đường này chiếm tỉ lệ 8,7% [31].
- Bị cắn, đốt: rắn độc cắn, côn trùng, ong đốt. Một chất độc gây tổn
thương da sẽ qua da nhanh hơn một chất độc không gây tổn thương da.
- Ngộ độc do đưa trực tiếp vào máu: tiêm tĩnh mạch một số dược phẩm,
tiêm chích ma tuý quá liều.
1.5.2. Sự thải trừ chất độc
Chất độc đưa vào cơ thể được thải trừ qua nhiều đường:
* Thải trừ qua đường hô hấp: các chất bay hơi như aceton, acid cyanhydric,
benzen, xăng, ethanol, ether, cacbon monoxid (CO)…
* Thải trừ qua thận:
Sự thải trừ chất độc qua thận phụ thuộc vào:
- Nồng độ chất độc trong máu và sự phân bố chất độc trong cơ thể.
- Thể tích dịch đi qua ống thận.
- Tình trạng thận và pH nước tiểu.
- Độ tan trong nước của các chất độc.
 Thải trừ qua thận thường dùng các biện pháp như: thận nhân tạo, lọc
màng bụng.
- Dùng các chất kháng độc:
Các chất kháng độc khử độc theo 4 cơ chế:


Cơ quan khác

Tiêu hoá

Hô hấp

Máu

Gan

Ruột

Thận

Đào thải Mồ hôi, tóc

Nước tiểu

Biểu đồ 2.1. Động học của chất độc

Phân


16

1.6. Biểu hiện lâm sàng của NĐC
Thức ăn nhiễm khuẩn, thuốc, hóa chất khi vào cơ thể gây nhiễm độc
cho nhiều cơ quan trong cơ thể cho nên triệu chứng lâm sàng cuả NĐC rất
phong phú và đa dạng.

Thường gây suy thận cấp với triệu chứng thiểu niệu, vô niệu gặp trong
ngộ độc các kim loại nặng, colistin, neomycin, gentamycin…
e) Tổn thương cơ quan hệ thần kinh:
Co giật, hôn mê, gặp trong ngộ độc các thuốc an thần, thuốc ngủ, sắn,
Wofatox…
f) Rối loạn nước điện giải, thăng bằng kiềm toan thường gặp trong ngộ
độc các loại. Các triệu chứng này không đặc hiệu nhưng nói lên mức độ
nặng của bệnh.
g) Thay đổi huyết học bao gồm tăng, giảm hồng cầu, bạch cầu, tiểu
cầu… Các thay đổi này ít đặc hiệu, thường là biến chứng hoặc sau điều trị
lọc máu…
1.4.5. Các hội chứng ngộ độc [7],[33],[37]
Triệu chứng của NĐC nói chung và ở trẻ em nói riêng rất đa dạng tuy
nhiên có thể quy về một số hội chứng sau:
1.4.5.1. Hội chứng kháng cholinergic
Triệu chứng: nói sảng, tim nhanh, da khô, đỏ, đồng tử giãn cố định,
tăng huyết áp, bụng chướng, giảm co bóp cơ trơn, ứ nước tiểu, kích thích co
giật, ảo giác, suy hô hấp…
Thuốc và chất độc: atropin, belladone, scopolamin, antihistamin, chống
trầm cảm, homatropin, lá cà độc dược.
1.4.5.2. Hội chứng kháng men cholinesteraza
Triệu chứng:


18

- Muscarin: tăng tiết nước bọt, nước mắt, mồ hôi, co đồng tử, nôn, cò
cử, tiêu chảy, tim chậm hay nhanh, hạ hay tăng huyết áp, rối loạn nhịp, đái
không tự chủ.
- Nicotin: co giật cơ, yếu liệt cơ, chuột rút, suy hô hấp, phù phổi cấp,

1.4.5.7. Hội chứng sốt khói kim loại
Triệu chứng: xanh, sốt, nôn, buồn nôn, đau cơ, đau dầu, khô họng, mệt
lả, bạch cầu tăng, suy hô hấp.
Khói oxide của: đồng thau (brass), cadminum đồng (cupper), sắt,
magie, thủy ngân, kẽm…
1.5. Điều trị NĐC ở trẻ em [32],[33],[34],[35],[36],[37],[38]
Nguyên tắc điều trị NĐC ở trẻ em cũng như người lớn, gồm 3 nguyên
tắc cơ bản:
- Loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể.
- Giải độc.
- Điều trị triệu chứng để hồi phục các chức năng sống.
Cần nhấn mạnh rằng bất kì một trẻ ngộ độc nào, tuy rằng trước mắt
chưa có biểu hiện nặng, nhưng vẫn cần được theo dõi và điều trị một cách
khẩn trương và toàn diện, vì thường rất khó xác định số lượng chất độc đã
xâm nhập vào cơ thể và có một số chất độc có biểu hiện muộn.
1.5.1. Loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể
Chất độc qua da, niêm mạc, tóc, mắt:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status