1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÙY
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐIỂM CHẨN ĐOÁN
VÀ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG
BỆNH VIÊM MÀNG NÃO NHIỄM KHUẨN TRẺ EM
TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Hà Nội - 2015
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm màng não nhiễm khuẩn (VMNNK: Bacterial Meningitis) là bệnh
nhiễm trùng hệ thần kinh trung ƣơng gây nên bởi các vi khuẩn có khả năng
sinh mủ xâm nhập vào màng não, thƣờng gặpở trẻ em, nhiều nhất ở lứa tuổi
dƣới 5 tuổi [1],[2],[3]. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong phòng chống và điều
trị bệnh nhƣng VMNNK vẫn là một gánh nặng toàn cầu. Tỷ lệ VMNNK trung
bình trên thế giới là 34/100000 trẻ mỗi năm, cao nhất ở Châu Phi 143,6 và
thấp nhất ở Mỹ 16,6 trên 100000 trẻ trong một năm[4]. Tại Pháp từ 20012012 có 4808 bệnh nhân VMNNK[5]. Ở Nhật Bản tỷ lệ này là 43/100000 trẻ
trong năm 2012[6]. Tại Việt Nam, theo thống kê tại Bệnh viện nhi Trung
quả tƣơng đƣơng[17].Tại Việt Nam, việc áp dụng thang điểm chẩn đoán
VMN do vi khuẩn còn mới mẻ và chƣa có lƣợng giá giá trị của thang điểm
trong chẩn đoán VMNNK.
Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu giá trị của thang điểm
chẩn đoán và đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh VMNNK trẻ em
tạiBệnh viện Nhi Trung Ƣơng”với hai mục tiêu:
1. Đánh giá giá trị của thang điểm chẩn đoán VMNNK ở trẻ em.
2. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh VMNNK ở trẻ em tại
Bệnh viện Nhi Trung Ương.
4
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐẠI CƢƠNG
1.1.1. Định nghĩa
Viêm màng não nhiễm khuẩn (Bacterial Meningitis) là tình trạng nhiễm
khuẩn màng não do các vi khuẩn gây bệnh có khả năng sinh mủ xâm nhập
vào màng não gây nên. Biểu hiện lâm sàng sớm chủ yếu là hội chứng nhiễm
khuẩn cấp và hội chứng màng não. Chẩn đoán xác định bệnh bắt buộc phải
dựa vào kết quả chọc dò dịch não tủy: tìm đƣợc vi khuẩn qua soi và nuôi cấy
hoặc tìm đƣợc kháng nguyên vi khuẩn đặc hiệu. Trong trƣờng hợp không xác
định đƣợc vi khuẩn thì có thể dựa vào biến đổi của dịch não tủy về sinh hóa,
tế bào có xu hƣớng sinh mủ[1].
1.1.2. Cấu trúc màng não và sự lƣu thông dịch não tủy [18],[19],[13]
Não
Xƣơng sọ
Xƣơng sọ
1.1.2.1. Cấu trúc màng não tủy
- Màng não tủy (Meninges) đƣợc cấu tạo bằng 3 lớp bao quanh não và
tuỷ sống: màng cứng, màng nhện và màng nuôi. Màng cứng nằm ở ngoài
nhất, tách khỏi màng nhện mỏng bởi một khoang ảo gọi là khoang dƣới màng
cứng. Khoang dƣới nhện chứa DNT và các mạch máu lớn, nó nằm giữa màng
nhện và màng nuôi. Màng nuôi phủ lên bề mặt của não và tuỷ sống.
Màng não tủy gồm 3 màng, từ ngoài vào trong là: màng cứng, màng
nhện và màng nuôi.
+ Màng cứng (dura mater) là màng xơ dày cứng, dính vào mặt trong
xƣơng sọ và ống sống. Màng cứng gồm hai lá, ở khoang trong sọ hai lá này
dính chặt với nhau (chỗ chúng tách ra tạo thành các xoang). Ở trong ống sống
giữa hai lá có mô mỡ xốp, có hệ thống tĩnh mạch phong phú.
+ Màng nhện (arachnoidea) là màng mỏng gồm các sợi lỏng lẻo, ở sát
vào mặt trong của màng cứng và nối liền với các màng nuôi bằng các sợi.
+ Màng nuôi hay màng mềm (piamater) dính sát tổ chức não, có nhiều
mạch máu. Giữa màng nuôi và màng nhện có khoang dƣới nhện, chứa dịch
não tủy. Ở tủy sống, khoang dƣới nhện khá rộng.
- Tính nhận biết cảm giác đau của màng não: do các sợi cảm giác của
dây V, IX, X, các rễ thần kinh C1, C2, C3 và các sợi thần kinh giao cảm cổ
chi phối; những chỗ có màng cứng, hệ thống xoang tĩnh mạch, động mạch rất
nhạy cảm với kích thích đau; chất não, màng nhện, màng nuôi không nhận
biết cảm giác đau.
1.1.2.2. Sự sản xuất và lưu thông dịch não tủy
- Dịch não tủy (DNT) đƣợc tiết ra trong các não thất bên bởi đám rối
màng mạch; từ não thất bên chảy vào não thất 3 qua lỗ Monro, qua cống
Sylvius vào não thất 4, chảy vào khoang dƣới nhện qua lỗ Magendie và
Luschka.
Trong
Đục
Hơi vàng, sánh
Trong
< 5 BC
Vài trăm đến
Sơ sinh
>1000 BC
Tếbào
3
/mm
80%BCĐNTT
10-500 BC
10-500 BC
Gram/Zie
hl
Nuôi cấy
Ziehl dƣơng
tính
Dƣơng tính
Âm tính
Âm tính
7
Hình 1.2: Sinh lý dịch não tủy
8
1.1.3. Sinh lý bệnh
Vi khuẩn xâm nhập vào màng não theo ba con đƣờng: máu, bạch huyết
và đƣờng kế cận.
Ở trẻ em, khởi đầu vi khuẩn xâm nhập qua niêm mạc mũi họng thanh
quản hoặc phế quản, tại đó tùy theo phản ứng miễn dịch của cơ thể vi khuẩn
có thể khu trú và chỉ gây bệnh tại chỗ (gây viêm mũi họng, thanh quản hoặc
phế quản) hoặc vào hệ thống máu hay bạch huyết. Qua đƣờng máu do chức
năng bảo vệ của hàng rào mạch máu – màng não ở trẻ nhỏ chƣa hoàn chỉnh,
vi khuẩn cũng có thể xâm nhập vào màng não và gây viêm màng não nhiễm
khuẩn tiên phát.
lều, hậu quả của tăng áp nội sọ. Dây III và VI còn có thể bị liệt do huyết khối
xoang hang nhiễm trùng.
Phù não, tăng áp nội sọ trong viêm màng não mủ là do:
- Do hậu quả của hiện tƣợng chết tế bào (phù não dođộc tế bào).
- Do tăng tính thấm mao mạch vì tăng tiết Cytokine (phù não do nguồn
gốc mạch máu).
- Do tăng áp lực thủy tĩnh (phù não kẽ), do giảm thiểu tái hấp thu DNT.
- Do tăng tiết ADH bất thƣờng (SIADH)gây ứ nƣớc quá mức.
Não úng thủy có thể sinh ra do nghẽnlƣu thông của DNT trong não thất
hoặc ngoài não thất nặng hoặc kéo dài (do màng não dày dính, xơ hóa).
10
1.2. THANG ĐIỂM VIÊM MÀNG NÃO NHIỄM KHUẨN (BMS:
Bacterial Meningitis Score )
1.2.1.Thang điểm VMNNK[15],[17],[20]
Trên thực tế việc phân biệt VMN do vi khuẩn và VMN vô khuẩn lúc
bệnh nhân mới nhập viện thƣờng rất khó khăn và việc quyết định có sử dụng
kháng sinh theo phác đồ điều trị VMNNK là không thể trì hoãn (nếu hiện hữu
nguy cơ mắc bệnh). Vì vậyNigrovic và cộng sự mong muốn xây dựng một mô
hình đơn giản để dự đoán VMNNK trẻ em trong thời kỳ vác xin Hib đƣợc sử
dụng phổ biến. Từ mô hình dự đoán đó các tác giả có thể xác định đƣợc nhóm
nguy cơ thấp với VMNNK để có thể quản lý ngoại trú, giảm bớt các trƣờng
hợp nhập viện và dùng kháng sinh không cần thiết.
Tác giả Nigrovic và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu 696 bệnh nhân từ
29 ngày tuổi đến 19 tuổi nhập Bệnh viện Nhi Boston từ 1/7/1992 đến
30/6/2000 với chẩn đoán cuối cùng là VMN (bao gồm các chẩn đoán:
VMNNK, VMN do vi rus, lao màng não, VMN không xác định). Các tác giả
đã xác định đƣợc 5 chỉ số có giá trị dự báo VMNNK là: Nhuộm Gram DNT,
Số lƣợng BCĐNTT trong máu ≥ 10000 tế bào/mm3
1
Xuất hiện co giật trong đợt bệnh
1
Theo tác giả Nigrovic và cộng sự cách áp dụng thang điểm BMS để
chẩn đoán VMNNK nhƣ sau :
Tính tổng điểm:
- 0 điểm: Không phải VMNNK
- 1 điểm : Có thể VMNNK
- 2-6 điểm : Nguy cơ cao VMNNK
1.2.2. Các nghiên cứu trên thế giới về thang điểm VMNNK
VMNNK là bệnh có nguy cơ tử vong cao và để lại di chứng thần kinh
nặng nề, đặc biệt khi chẩn đoán muộn và sử dụng kháng sinh chậm trễ. Chẩn
đoán xác định VMNNK bằng tiêu chuẩn vàng là cấy dịch não tủy có vi khuẩn
chỉ đạt tỷ lệ thấp. Trên thực tế đôi khi việc phân biệt giữa VMNNK và VMN
vô khuẩn là rất khó khăn. Vì vậy việc phân biệt sớm VMNNK và VMN vô
khuẩn trên lâm sàng là rất quan trọng.
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy thang điểm VMNNK
có độ chính xác cao trên lâm sàng[17],[21],[22],[23]. Nghiên cứu đầu tiên áp
dụng thang điểm VMNNK đƣợc thực hiện bởi Nigrovic và cộng sự từ năm
1992 đến năm 2000. Nghiên cứu trên 696 bệnh nhân từ 29 ngày đến 19 tuổi
có tế bào DNT ≥7 tế bào/mm3,kết quả cho thấy với mức điểm BMS=0 không
12
đƣợc tiến hành trên 174 bệnh nhân có tế bào DNT≥ 9 tế bào/mm3. Kết quả
cho thấy trong số 93 bệnh nhân xác định là nguy cơ thấp với VMNNK
(BMS=0) thì có 2 trƣờng hợp VMNNK, độ nhạy của thang điểm BMS là
92,3%, độ đặc hiệu là 61% và giá trị tiên đoán âm tính là 97,8%. Khi mức
điểm càng cao thì nguy cơ VMNNK càng tăng cụ thể tỷ lệ VMNNK trong
nhóm BMS
15
1.3. DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG BỆNH VMNNK
1.3.1. Dịch tễ học
1.3.1.1. Một vài điểm chung
VMNNK hiện vẫn là một bệnh phổ biến khắp thế giới, là một trong
những bệnh nhiễm khuẩn thần kinh hay gặp nhất ở trẻ em và thƣờng có tỷ lệ
tử vong cao hoặc để lại những di chứng nặng nề về tinh thần vận động. Bệnh
vẫn còn phổ biến ở các nƣớc phát triển cho dù đã áp dụng tiêm phòng một số
loại vác xin và càng gặp nhiều hơn ở các nƣớc đang phát triển, trong đó Việt
nam không phải là ngoại lệ.
Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đều cho thấy VMNNK thƣờng rộ
lên vào mùa đông - xuân. Theo nghiên cứu của Dagal R ở Israel cho thấy 59%
các trƣờng hợp VMNNK xảy ra vào mùa thu và đông chỉ có 18% trong mùa
hè[27]. Theo một nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung Ƣơng năm 1999 cho
thấy tỷ lệ mắc VMNNK nhiều hơn rõ rệt vào mùa đông (51,7%) và mùa xuân
(30,88%), đặc biệt đối với các loại VMN do vi khuẩn Hemophilus influenzae
và phế cầu[28]. Những năm gần đây mùa VMNNK vẫn là mùa đông xuân:
Theo Hoàng Sơn (2008) tỷ lệ VMNNK vào mùa này là 75%, còn trong
nghiên cứu của Lê Thị Yên (2011-2012) thì tỷ lệ VMNNK tháng 9, tháng 10
và tháng 4 là cao nhất [2],[3].
Về tuổi mắc bệnh VMNK, các tác giả trong và ngoài nƣớc đều nhận
thấy 70-80% trẻ dƣới 5 tuổi. Theo Phạm Nhật An và cộng sự, tỷ lệ VMNNK
xảy ra hầu hết ở trẻ ≤ 5 tuổi (89,71%) trong đó tập trung chủ yếu ở trẻ >1- 12
tháng (57,35%)[28].
16
1.3.1.2. Tình hình bệnh VMNNK trên Thế giới và tại Việt nam
VMNNK làm 1131 ngƣời tử vong[10] .
Mặc dù khoa học kỹ thuật phát triển nhƣng ở các nƣớc phát triển thì
VMNNK vẫn là vấn đề đáng quan tâm. Tại Pháp trong 12 năm từ 2001-2012
có 4808 trẻ VMN do vi khuẩn phải nhập viện[5]. Ở Trung Quốc theo một
nghiên cứu từ 9/2006 – 12/2009 cũng ghi nhận 833 trẻ mắc VMNNK, tỷ lệ ƣớc
tính hàng năm trên 100000 ngƣời là 1,84-2,93 cho toàn bộ dân số và 6,95-22,3
cho trẻ < 5 tuổi [31].Nhật Bản là nƣớc mà vacxin Hib và vác xin phế cầu mới
đƣợc đƣa vào sử dụng năm 2008 và năm 2010, tỷ lệ VMNNK vẫn còn khá cao,
chỉ trong một năm 2011-2012 có 357 trẻ VMNNK nhập viện[6].
b. Tại Việt Nam
Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc đang phát triển khác tình hình mắc bệnh
VMNNK vẫn còn cao. Mặc dù đã cố gắng áp dụng nhiều kỹ thuật thành tựu
của khoa học trong chẩn đoán và điều trị bệnh VMNNK, nhƣng tỷ lệ tử vong
và di chứng vẫn còn cao.
Theo một nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ƣơng Huế trong 5 năm từ
1989-1993 có 239 trƣờng hợp VMNM chiếm tỷ lệ 0,8% so với số bệnh nhân
nhập viện, tỷ lệ tử vong là 15,9% và di chứng là 9,6% [32]. Tại khoa nhi Bệnh
viện đa khoa tỉnh Bình Ðịnh, từ năm 1992-1996 có 185 trẻ mắc bệnh
VMNNK chiếm 0,9% số bệnh nhân vào viện, tỷ lệ tử vong là 8,6% và di
chứng là 11,9%[33].
Tại Bệnh Viện Nhi Ðồng 1 từ tháng 6/1995 – tháng 5/1997 cũng đã
tiếp nhận và điều trị 110 ca VMNNK với tỷ lệ tử vong là 6%, tỷ lệ di chứng
16%. Tại Bệnh viện Nhi Ðồng 2 (Thành phố Hồ Chí Minh) từ tháng 1/2000
đến tháng 5/2002, có 256 ca đƣợc chẩn đoán VMNNK; tỷ lệ tử vong là 4,8%,
tỷ lệ di chứng 19%[22].
18
Theo thống kê tại Bệnh viện Nhi Trung Ƣơng trong 4 năm (2008-2012)
của vác xin phế cầu nhƣng phế cầu vẫn là nguyên nhân phổ biến của
VMNNK ở trẻ em với khoảng một nửa số trƣờng hợp do typ huyết thanh
không có vác xin [36]. Trong một nghiên cứu tại Mỹ từ năm 1997-2010 cho
thấy mặc dù phế cầu vẫn là nguyên nhân chính gây bệnh nhƣng tỷ lệ nhiễm
19
bệnh và tỷ lệ tử vong của VMN do phế cầu đã giảm [9]. Theo Levy và cộng
sự từ 2001-2012 tỷ lệ VMN do phế cầu ở Pháp đã giảm 23,4% và giảm
32,2% cho trẻ < 2 tuổi[5]. Nhật Bản là một nƣớc mới đƣợc giới thiệu vacxin
Hib và phế cầu vào năm 2008 và 2010, trong một cuộc điều tra năm 20112012 cho thấy tỷ lệ VMN do Hemophilus influenzae typ b (Hib) và phế cầu
đã giảm đáng kể[6]. Tuy nhiên ở các nƣớc đang phát triển VMN do Hib vẫn
đáng kể bởi năm 2007 chỉ có 42% trẻ trên toàn thế giới đƣợc tiếp cận với
vacxin Hib và vacxin phế cầu chƣa phổ biến ở các nƣớc này[35],[37].Đặc
biệt ở các nƣớc thuộc vành đai VMN Châu Phi thì não mô cầu vẫn là tác
nhân chính gây VMNNK, đại dịch VMN do não mô cầu năm 2009 làm 4300
ngƣời tử vong[10].
Cũng nhƣ trên thế giới, H.I, S.pneumoniae và N.meningitis là những
nguyên nhân hàng đầu gây VMNNK ở Việt Nam. Nhờ việc đƣa vaccine Hib
vào tiêm chủng mở rộng mà dịch tễ học của VMNNK ở nƣớc ta đã thay đổi.
Theo Phạm Nhật An năm 2001 tỷ lệ VMN do Hib là cao nhất[28]. Nghiên
cứu của Nguyễn Văn Lâm năm từ năm 2003-2007 cho thấy tỷ lệ VMN do Hib
là 64%, S.pneumoniae là 19%, tỷ lệ này cũng tƣơng đƣơng trong một nghiên
cứu năm 2008 (Hib 46,2%, S.pneumoniae28,8%) [2],[11]. Ngày nay tỷ lệ
VMN do Hib đã giảm và phế cầu lại là nguyên nhân chính gây bệnh VMNNK
ở trẻ em Việt Nam. Trong nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nhàn tại Bệnh viện
Nhi Trung ƣơng trong năm 2010-2011 tỷ lệ VMNNK do phế cầu chiếm 34,3%,
do Hib chiếm 15,7% trong số các căn nguyên gây VMNNK[12]. Còn trong
nghiên cứu của Lê Thị Yên từ năm 2011-2012 tỷ lệ VMN do phế cầu cao nhất
Não mô cầu
- Não mô cầu (Neisseria meningitidis) là loại cầu khuẩn Gram âm có
hình hạt đậu và là vi khuẩn nội bào. Não mô cầu đƣợc định tuýp huyết thanh
21
dựa vào polysaccharide của vách tế bào vi khuẩn. Các tuýp huyết thanh
thƣờng gặp có vai trò gây bệnh là A,B,C,D,X,Y,Z,29E và W135. Các chủng
thuộc nhóm A đã từng là nguyên nhân gây nên các vụ dịch khắp nơi trên thế
giới đặc biệt một số nƣớc đang phát triển (Brazil, Nepan, Trung quốc và một
số quốc gia cận Sahara) nhƣ đại dịch VMN do não mô cầu ở Burkina Faso
năm 2002, hay dịch năm 2009 ở vành đai VMN châu Phi [29],[10].
- Vi khuẩn thƣờng định cƣ vùng hầu họng và thƣờng không gây lên
triệu chứng gì.
- Biểu hiện đặc trƣng của bệnh là sự xuất hiện các ban xuất huyết hoại
tử hình sao gọi là tử ban. Tỷ lệ tử vong rất cao trong thể tiến triển tối cấp (thể
sét đánh). Trong thể này, tử vong thƣờng xảy ra trong vòng 24 giờ sau khi
nhập viện. Tuy nhiên nếu đƣợc điều trị thoát sốc thì sau khi khỏi bệnh, trẻ rất
ít bị biến chứng lâu dài.
- Lây truyền chủ yếu do tiếp xúc ngƣời với ngƣời thông qua các hạt
chất tiết nhỏ của đƣờng hô hấp. Thời gian ủ bệnh thƣờng ngắn hơn 4 ngày,
thay đổi từ 1 ngày đến 7 ngày. Không phải tất cả các trƣờng hợp có vi khuẩn
đƣờng hầu họng đều bị bệnh. Hầu hết các trƣờng hợp bệnh xảy ra ở lứa tuổi
từ 6 đến 12 tháng. Thiếu niên cũng bị bệnh nhƣng thấp hơn.
Tụ cầu
- Tụ cầu (Staphylococus) là cầu khuẩn Gram (+), có hệ thống men phong
phú, phân huỷ đƣợc nhiều loại cacbonhydrat, protein, lipid. Tụ cầu vàng sản
xuất men betalactamase làm mất tác dụng của kháng sinh.
- Tụ cầu thƣờng gây mƣng mủ cấp, bán cấp hoặc mạn tính. Những bệnh
- Viêm màng não mủ sơ sinh do tác nhân này thƣờng nằm trong bối
cảnh nhiễm trùng huyết nặng. Các dấu hiệu nghi ngờ trên lâm sàng là: mẹ
thƣờng có sốt, sinh non không rõ nguyên nhân, nhau thai có tổn thƣơng hạt...
- Tác nhân này đề kháng tự nhiên với các kháng sinh cephalosporine do
đó kháng sinh này không bao giờ đƣợc dùng đơn độc trong điều trị nhiễm trùng
sơ sinh (bao gồm cả viêm màng não mủ) khi chƣa phát hiện đƣợc vi khuẩn.
1.3.1.4. Các yếu tố thuận lợi
- Bệnh tai mũi họng mãn tính
+ Viêm tai giữa mãn: phế cầu, Haemophilus, vi khuẩn kỵ khí.
+ Viêm xoang: phế cầu, Haemophilus, vi khuẩn kỵ khí, có khi tụ cầu.
- Bệnh nhiễm trùng
+ Viêm phổi: phế cầu. Viêm hô hấp trên: phế cầu, não mô cầu, Haemophilus.
+ Viêm mô tế bào: liên cầu, tụ cầu.
+ Áp-xe não: tụ cầu, vi khuẩn kỵ khí.
- Chấn thƣơng sọ não
+ Vỡ sọ kín: phế cầu, liên cầu nhóm A, trực trùng Gram (-).
+ Vỡ sọ hở hoặc mổ sọ: tụ cầu vàng, trực trùng Gram (-).
- Bệnh tiềm ẩn
+ Đái tháo đƣờng : phế cầu, trực trùng Gram (-), Staphylococcus.
+ Bạch cầu cấp: phế cầu, Gram (-).
+ Trẻ suy dinh dƣỡng, điều trị corticoides: M. tuberculosis, Cryptococcus.
+ Cắt lách: phế cầu, Haemophilus.
+ Van tim nhân tạo: Staphylococcus aureus hoặc S. epidermidis
24
1.3.2. Triệu chứng lâm sàng bệnh VMNNK [1],[38],[39],[40]
Triệu chứng lâm sàng của VMNNK rất đa dạng và tùy thuộc vào lứa
+ Triệu chứng thần kinh:
Co giật: toàn thân, có thể cục bộ (nửa ngƣời, tay, chân hoặc các vùng
cơ vùng đầu mặt, đặc biệt là các cơ vận nhãn cầu).
Co giật, đặc biệt là co giật toàn bộ xảy ra trƣớc khi nhập viện hoặc
trong vòng 48 giờ đầu nhập viện chiếm 20-30% bệnh nhân viêm màng não.
Trong một nghiên cứu, trong 410 trƣờng hợp bị viêm màng não do vi khuẩn ở
trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi có tới 27% trẻ có cơn giật trƣớc hoặc tại thời điểm
thăm khám[41].
Rối loạn tri giác:Lơ mơ, li bì, có lúc hốt hoảng. Có thể hôn mê.
Trong một nghiên cứu khác, trên 235 trẻ bị viêm màng não do vi
khuẩn, 78% trẻ kích thích hoặc lơ mơ, 7% ngủ gà và 15% bất tỉnh hoặc hôn
mê tại thời điểm nhập viện[40].
Liệt thần kinh khu trú
+ Các triệu chứng riêng của vi khuẩn gây bệnh: ban xuấthuyết hoại tử
hình sao trong VMN do não mô cầu. Mụn mủ vùng đầu trong viêm màng não
tụ cầu vàng. VMN do phế cầu thƣờng thấy các triệu chứng viêm nhiễm đƣờng
hô hấp trên hoặc viêm phổi, viêm xoang, viêm tai hay sau chấn thƣơng. VMN
do H.I thƣờng diễn biến rất đột ngột ở trẻ nhỏ.
+ Triệu chứng khác: suy hô hấp, tuần hoàn, rối loạn nƣớc - điện giải …