B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH HNG THM
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM DịCH Tễ HọC LÂM SàNG
Và ĐáNH GIá THANG ĐIểM KEITH EDWARDS
TRONG CHẩN ĐOáN BệNH
LAO TRẻ EM TạI BệNH VIệN NHI TRUNG ƯƠNG
Chuyờn ngnh
: Nhi Khoa
Mó s
: CK.62721601
CNG LUN VN BC S CHUYấN KHOA II
NGI HNG DN KHOA HC:
PGS.TS. PHM NHT ANNHT AN
H NI 2016
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFB
: Trực khuẩn kháng acid (Acid Fast Baccilli)
: Điều trị có giám sát trực tiếp
DOTS
: Hóa trị liệu ngắn ngày có giám sát trực tiếp
HIV
: Virus gây suy giảm miễn dịch ở người
MDR- TB
: Bệnh lao đa kháng thuốc
MRI
: Chụp cộng hưởng từ
SDD
: Suy dinh dưỡng
XN
: Xét nghiệm
Xpert MTB/RIF
: XN ứng dụng công nghệ SHPT để
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là đối tượng rất dễ bị lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm, trong đó
có bệnh lao, đặc biệt là trẻ em sống trong gia đình người mắc bệnh lao phổi,
nhất là trẻ em nhỏ dưới 5 tuổi và trẻ nhiễm HIV. Mức độ lưu hành bệnh lao ở
trẻ em trong một cộng đồng sẽ cao nếu tỷ lệ mắc lao ở người lớn cao, tỷ lệ trẻ
em trong dân số cao và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao, nhất là ở những nơi
điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, thiếu thốn [1],[2],[3],[4]
Bệnh lao vẫn là một trong những căn bệnh thường gặp trên toàn thế giới,
đặc biệt là ở các khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV cao. Với khoảng chín triệu ca
bệnh lao mới mỗi năm trong đó 10- 11% xảy ra ở trẻ em, tương đương một
triệu trường hợp lao trẻ em mắc mới mỗi năm. Trong khi đó 75% của 22
quốc gia có gánh nặng bệnh lao, có năng lực và trang thiết bị chẩn đoán kém.
Chẩn đoán chính xác và kịp thời bệnh lao nhi rất quan trọng, vì ở trẻ em, khả
năng tiến triển từ nhiễm trùng tiềm ẩn phát triển thành bệnh lao hoạt động rất
dễ dàng và nhanh hơn so với người lớn [1],[4],[5],[6].
Trong khi đó các thể lao ở trẻ em thường có mật độ vi khuẩn thấp tại các
nơi tổn thương, do đó việc chẩn đoán bệnh dựa vào kết quả xét nghiệm vi
khuẩn rất hạn chế nên các ca bệnh thường bị bỏ sót [1],[3],[5],[7],[8].
Một trong những thách thức lớn nhất trong việc ngăn ngừa bệnh và tử
vong do bệnh lao ở trẻ em là việc đưa ra một chẩn đoán kịp thời, chính xác
thực sự khó khăn, thách thức đối với từng trẻ em cụ thể do: Triệu chứng bệnh
lao khác nhau với các bệnh nhi khác nhau, đặc biệt là ở những trẻ có đồng
nhiễm lao và HIV. Ho, chán ăn và sụt cân rất phổ biến trong lao nhưng không
đặc hiệu và có thể dẫn đến chẩn đoán quá mức nếu được sử dụng đơn độc.Vì
6
năm trước Công Nguyên. Thời kỳ này, bệnh lao được hiểu lầm với một số
bệnh khác, người ta xem bệnh lao là một bệnh không thể chữa được, bệnh do
di truyền. Vào khoảng năm 380 trước Công Nguyên, Hipocrates mô tả rất tỉ
mỉ về bệnh mà ông gọi là “phtisis” có nghĩa là tan ra hay huỷ hoại, Aristotle
ghi nhận rằng những người gần gũi với bệnh nhân bị “phtisis”có chiều hướng
phát bệnh này do hít phải một vài “chất gây bệnh” mà người bệnh thở ra. Đến
thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên, Galen người Hi lạp, bác sĩ thực hành và viết
sách ở La Mã đã phác họa ra nguyên tắc điều trị mà nó vẫn giữ nguyên cả
nghìn năm sau đó là: Nghỉ ngơi, giảm ho, băng ngực, thuốc cầm máu (xúc
miệng bằng axitbannic pha với mật ong), thuốc phiện cho cơn ho nặng và đặc
biệt là chú trọng đến dinh dưỡng.
Đến thế kỷ thứ IX, Laennec (1819) và Sokolski (1838) đã mô tả khá
chính xác các tổn thương chủ yếu của bệnh lao, năm 1865 Villemin làm thực
nghiệm bằng cách tiêm truyền bệnh lao lấy từ bệnh nhân lao cho súc vật và có
nhận xét bệnh lao do một căn nguyên gây bệnh nằm trong các bệnh phẩm đó;
năm 1982 Robert Koch tìm ra nguyên nhân gây bệnh là vi trùng lao hay gọi là
8
Bacillus de Koch (viết tắt là BK), việc tìm thấy vi trùng lao đã mở ra giai
đoạn vi trùng học của bệnh lao.
Vào đầu thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu về miễn dịch, dị ứng,
phòng bệnh, phát hiện và điều trị bệnh lao đã được tiến hành, năm 1907
VonPir Quet áp dụng phản ứng da để xác định tình trạng nhiễm lao; năm 1908
Mantoux dùng phương pháp tiêm trong da để phát hiện dị ứng lao (nay gọi là
phản ứng Mantoux), trong thời gian này Robert Koch (Đức) đã điều chế sử
dụng Tuberculine như là một thuốc điều trị lao dù cách này là không đúng.
Cũng trong năm 1908, Calmette và Guerin bắt đầu nghiên cứu tìm vaccine
phòng lao và 13 năm sau (1921) các tác giả đã thành công, từ đó vaccine
Hiện nay trên thế giới có khoảng 1/3 dân số (2,2 tỉ người) đã nhiễm lao
và con số đó sẽ tăng 1% hàng năm (tương đương khoảng 65 triệu người), theo
số liệu công bố của WHO (2004) ước tính trong năm 2003 có trên khoảng 9
triệu người mắc lao mới và 2 triệu người chết do lao, tỷ lệ tử vong do bệnh
lao chiếm 25% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân; trong đó có khoảng 80%
số bệnh nhân lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao; hơn 33%
số bệnh nhân lao toàn cầu tập trung tại khu vực Đông-Nam Á.
Năm 1991, khi nghị quyết của Đại hội đồng Y tế thế giới (WHA) đã ghi
nhận bệnh lao như một vấn đề y tế - sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng mang
tính toàn cầu thì hai mục tiêu chính trong việc kiểm soát bệnh lao đã được xây
dựng: Phát hiện được hơn 70% số trường hợp lao phổi mới có vi khuẩn lao
trong đờm bằng soi kính hiển vi trực tiếp; điều trị khỏi được hơn 85% số
trường hợp được đăng ký điều trị. Để đạt được mục tiêu này năm 1994 WHO
đưa ra “chiến lược điều trị có kiểm soát trực tiếp” được khuyến cáo trên toàn
thế giới (DOTS-Directly Observed Treatment Short Couse).
Mức độ nghiêm trọng của bệnh lao đã ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân
và chỉ số phát triển con người của các quốc gia. Các nghiên cứu về kinh tế y
tế cho thấy, mỗi bệnh nhân lao trung bình sẽ mất 3-4 tháng lao động, làm
10
giảm 20-30% thu nhập bình quân của gia đình, bệnh lao là nguyên nhân chủ
yếu làm nghèo đói dai dẳng và là trở ngại đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
1.1.3. Tình hình bệnh lao phổi tại Việt Nam [1],[2],[14],[19],[20],[21].
Theo báo cáo WHO năm 2008, Việt Nam đứng thứ 12 trong 22 quốc gia
có tỷ lệ lao cao trên thế giới, trong khu vực Tây Thái Bình Dương, đứng thứ 14
trong số 27 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới, đồng
thời đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philipines về số lượng bệnh nhân lao lưu
hành cũng như bệnh nhân lao mới xuất hiện hàng năm; Theo số liệu điều tra
khiến bệnh càng nặng và nguy cơ lây lan ra cộng đồng rất cao
Việt Nam đã 09 năm liên tục đạt mục tiêu của WHO về phát hiện và
điều trị, tuy nhiên tình hình dịch tễ bệnh lao ở nước ta vẫn ở mức cao và đặc
biệt là sự gia tăng bệnh lao ở lứa tuổi trẻ, nam thanh thiếu niên 15 – 24 tuổi.
Cùng với đại dịch HIV lan truyền rất nhanh tại Việt Nam, đây là một nguy cơ
rất lớn đe dọa chương trình chống lao trong giai đoạn tới. Đồng nhiễm HIV và
lao không chỉ làm tăng số bệnh nhân lao (ước tính toàn cầu tăng gần 30% lao
do có HIV) mà còn làm giảm hiệu quả điều trị và làm tăng rất nhanh tỷ lệ tử
vong do lao. Có thể số lượng lao phổi AFB(+) mới được phát hiện còn rất cao
và đây chính là nguồn lây lan trong cộng đồng, bệnh lao tại Việt Nam vẫn còn
là một vấn đề sức khỏe trầm trọng. Vì vậy, chúng ta cần phát hiện nhiều và
phát hiện sớm các trường hợp mắc lao, đặc biệt là lao phổi AFB(+). Để hoạt
động phòng chống lao hiệu quả hơn, thời gian tới, chương trình Chống lao
quốc gia tiếp tục tăng cường phát hiện sớm và nhiều nhất tất cả các thể lao;
duy trì tỷ lệ điều trị khỏi cao; phấn đấu đến năm 2015, Việt Nam giảm 50% số
bệnh nhân hiện mắc so với ước tính năm 2000, khống chế tỷ lệ bệnh nhân lao
kháng đa thuốc bằng mức năm 2010 và thanh toán bệnh lao ở Việt Nam vào
năm 2030 .
12
1.1.4. Sơ bộ tình hình bệnh lao trẻ em [1],[2],[5],[14],[15].
* Một số khái niệm
- Bệnh Lao: Do trực khuẩn Lao (bacille de Koch, viết tắt là BK), tên
khoa học là Mycobacterium tuberculosis gây ra, là trực khuẩn hình que
kháng cồn kháng toan (BAAR: Bacilles-Acido-Alcoolo-Résistants), bắt màu
đỏ hồng trên tiêu bản nhuộm Ziehl Neelsen.
Trực khuẩn Lao có khả năng tồn tại nhiều năm ở các mô sâu trong cơ
thể, trước khi gây bệnh Lao.
nặng như: lao kê, lao màng não.
- Bệnh lao: Là khi có một hoặc nhiều bộ phận trong cơ thể bị tổn thương
do vi khuẩn lao gây ra. Bệnh lao có thể xuất hiện ở người đã bị nhiễm lao
trước đó, hoặc xuất hiện ngay tại thời điểm bị nhiễm lao do có một số lượng
lớn vi khuẩn lao bị hít vào phổi thường xuyên, liên tục.
- Trẻ em : Là nhóm người trong độ tuổi từ 0- dưới 16 tuổi
1.1.5. Dịch tễ lao trẻ em [1],[17],[22],[23],[24].
* Tình hình bệnh lao ở trẻ em
Theo kết quả điều tra lao toàn quốc của CTCLQG (2006 – 2007), nguy
cơ nhiễm lao hàng năm là 1,67%, như vậy, mỗi năm Việt Nam có thêm
351.000 trẻ em bị nhiễm lao. Tuy nhiên cho đến nay chúng ta chưa có điều tra
toàn quốc về tình hình lưu hành bệnh lao ở trẻ em.
Năm 2012, TCYTTG ước tính số ca lao trẻ em mới mắc hàng năm chiếm
khoảng 6% tổng số lao mới mắc trên toàn cầu (khoảng 530 nghìn ca /năm) và
khoảng 74 nghìn ca tử vong/năm. Tuy nhiên ở 22 nước có gánh nặng bệnh
lao cao (trong đó có Việt Nam), tỷ lệ lao trẻ em có thể chiến từ 10 – 11% số
bệnh nhân lao mới xuất hiện hàng năm. Theo cách ước tính như vậy, mỗi năm
nước ta có trên 10 nghìn trẻ em mắc bệnh lao cần phải điều trị. Trong các thể
lao ở trẻ em 80% là lao phổi, chủ yếu là lao phổi AFB âm tính.
14
Ở Việt Nam tỷ lệ trẻ em chiếm 36% dân số (87,6 triệu người), tương
đương 21 triệu trẻ (Tổng cục Thống kê 2011).
* Tình hình phát hiện và quản lý lao trẻ em trong CTCLQG.
Tỷ lệ bệnh nhân lao trẻ em trong tổng số bệnh nhân lao phát hiện được
thông báo khác nhau ở mỗi quốc gia, giao động từ 3 – 25% tuỳ thuộc vào
chiến lược quản lý lao trẻ em và nguồn lực ở mỗi nước. Theo L. J Nelson và
C.D Wells, tỷ lệ lao trẻ em thường chiếm khoảng 10% trong tổng số bệnh
- Trẻ em dưới 5 tuổi
- Trẻ em nhiễm HIV
- Trẻ em suy dinh dưỡng nặng
- Trẻ ốm yếu kéo dài sau khi mắc sởi
1.2.2. Phương pháp chẩn đoán.
a. Khai thác tiền sử gồm:
- Tiền sử tiếp xúc với nguồn lây: Trẻ có tiền sử sống cùng nhà với người
mắc bệnh lao phổi trong vòng 1 năm trở lại đây (1 trong 3 yếu tố quan trọng)
nếu có thì từ khi nào, nguồn lây có AFB(+) hay AFB (-) ?
- Tiền sử các triệu chứng lâm sàng nghi lao: Sút cân hoặc không tăng
cân, hoặc hay tái diễn các triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp (Ho/ khò khè
kéo dài, có thể sốt nhẹ…) và các triệu chứng khác tùy theo cơ quan bị lao,
tiến triển thế nào, đã điều trị gì và kết quả ?
b. Khám lâm sàng
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng: cân trẻ và hỏi tuổi để đối chiếu trên
biểu đồ cân nặng xem trẻ có nhẹ cân hoặc suy dinh dưỡng không. Trẻ mắc lao
có sút cân hoặc không tăng cân, suy dinh dưỡng
- Triệu chứng cơ năng và toàn thân nghi lao:
16
+ Ho dai dẳng, khò khè, có thể sốt nhẹ không cải thiện/hoặc hay tái
diễn khi đã điều trị kháng sinh phổ rộng 7 – 10 ngày (trẻ 5 -14 tuổi có thể có
các triệu chứng: ho khạc đờm/máu, đau ngực.....)
+ Sút cân hoặc không tăng cân, suy dinh dưỡng (đã loại trừ các nguyên
nhân khác).
- Khám thực thể cơ quan nghi bị lao: phổi, màng não, hạch, xương khớp...
Nghe phổi: Thường không phát hiện được gì bất thường. Một số trường
hợp nghe thấy tiếng khò khè hoặc tiếng ran ngáy ở 1 bên phổi, ran rít phế
Hạch bạch huyết cạnh khí phế quản hoặc hạch rốn phổi to hoặc điển hình của
“phức hợp nguyên thủy” trên Xquang ngực.
Nốt, đám thâm nhiễm ở nhu mô phổi
Các hạt kê ở nhu mô phổi
Hang lao (có thể thấy ở trẻ em lớn)
Tràn dịch màng phổi hoặc màng tim – có xu hướng gặp ở trẻ lớn.
Viêm rãnh liên thùy phổi
e. XN Tuberculin (Mantoux): ( Phản ứng Tuberculin tiêm trong da)
Tuberculin do Robert Koch tìm ra năm 1891. Đó là một hỗn hợp Protein
do sự phân hủy tự phát của trực khuẩn lao (Mycobacterium Tuberculosis) trong
môi trường nuôi cấy.
Nhiễm trực khuẩn lao sẽ gây nên dị ứng đối với Tuberculin. Bản chất
của hiện tượng này là “Tăng mẫn cảm muộn” Theo ý nghĩa miễn dịch học.
+ Đối với trẻ nhỏ test Tuberculin dương tính càng có khả năng mắc lao
+ Tuy nhiên nhiều người có test Tuberculin dương tính nhưng cả đời
vẫn không mắc lao. Điều đó chỉ chứng tỏ trực khuẩn lao đã đột nhập vào cơ
thể họ nhưng do sức đề kháng tốt, mức sống cao, dinh dưỡng đấy đủ nên bệnh
lao không phát triển được
19
+ Ngược lại test Tuberculin âm tính không loại trừ được lao. Một
người bị lao phổi đang tiến triển có thể có test Tuberculin âm tính nếu là
người già suy kiệt, người nghèo đói, trẻ SDD, dùng nhiều corticosteroid,
nhiễm HIV, bị ung thư…
Tóm lại: Test Tuberculin xác định mức độ dị ứng đối với Tuberculin
của cơ thể đã bị nhiễm lao hay mắc lao…Muốn khẳng định đã bị mắc lao cần
phải có bằng chứng vi sinh học (Tìm thấy trực khuẩn lao trong đờm, nước,
dịch) kết hợp với triệu chứng lâm sàng và các hình ảnh bất thường trên phim
chụp Xquang hoặc Ctscanner.
g. Một số kỹ thuật can thiệp hỗ trợ:
Hút dịch dạ dày ở trẻ nhỏ.
Lấy đờm kích thích (Khí dung nước muối ưu trương 5%)
Chẩn đoán hình ảnh: Chụp CT, MRI, siêu âm
(Sơ đồ hướng dẫn quy trình chẩn đoán bệnh lao phổi TE ở phụ lục số1)
1.2.3. Chẩn đoán Lao ngoài phổi ở trẻ em
Tần suất mắc mỗi thể lao ngoài phổi khác nhau tuỳ theo từng nhóm tuổi
của trẻ. Các triệu chứng lao ngoài phổi khác nhau tùy theo vị trí bị bệnh,
nhưng có đặc điểm chung là tồn tại dai dẳng, nặng dần và có thể kết hợp sút
cân hoặc chậm tăng cân.
Tất cả các trường hợp chẩn đoán lao ngoài phổi cần khai thác tiền sử tiếp
xúc với nguồn lây.
Xét nghiệm soi trực tiếp tìm AFB, nuôi cấy và các phương pháp xét
nghiệm khác tìm vi khuẩn lao trong bệnh phẩm nếu có thể (dịch màng phổi,
dịch màng bụng, dịch màng não, dịch ổ khớp,…)
Ba yếu tố cần tìm để chẩn đoán lao ngoài phổi ở trẻ em:
- Có tiền sử tiếp xúc với nguồn lây trong vòng 1 năm.
- Triệu chứng lâm sàng nghi lao (Tùy theo từng bộ phận bi lao).
21
- Dấu hiệu nghi lao trên phim chụp X- quang tùy theo bộ phận bị lao
(Cần chụp cả X-quang phổi, nếu thấy có tổn thương nghi lao trên phim chụp
phổi rất có giá trị cho chẩn đoán lao ngoài phổi).
=> Quyết định chẩn đoán lao ngoài phổi khi trẻ có ít nhất 2 trong 3 yếu
tố trên
Các triệu chứng lâm sàng thường gặp, xét nghiệm và các khuyến cáo đối
với các lao ngoài phổi trẻ em theo nhóm tuổi được tóm tắt ở bảng dưới đây:
Bảng 1.1. Một số thể lao ngoài phổi ở trẻ em
Vị trí lao
ngoài phổi
phổi
-Rì rào phế nang giảm và gõ đục
- Có thể có đau ngực
- Chụp X-Quang
- Chọc dịch màng
phổi*
- Nếu dịch màng phổi
có mủ xem khả năng
viêm mủ màng phổi
và chuyển lên tuyến
trên
Trẻ em dưới 5 tuổi mắc thể lao lan tràn và nặng
Lao màng
não
- Chọc dò tủy sống Nhập viện điều trị lao
Đau đầu, khó chịu, quấy khóc, nôn, lấy dịch não tuỷ* **
hôn mê/giảm hoặc mất ý thức, co
giật, cổ cứng, thóp phồng, liệt…
- Xquang phổi
Lao kê
Dấu hiêu lâm sàng có thể rầm rộ: Xquang phổi
Khó thở, sốt cao, tím tái (Không
tương xứng với dấu hiệu thực thể ở
-Tim nhịp nhanh
-Tiếng tim mờ
Lao màng
ngoài tim
-Mạch khó bắt
X-Quang lồng
ngực
Siêu âm tim, chọc
dịch màng tim *
Chuyển lên tuyến trên
**
-Khó thở
Lao xương
khớp
-Gặp ở cuối các xương dài, Khớp Chụp X-quang/ hút
sưng, biến dạng, hạn chế vận động. dịch ổ khớp *
Chuyển lên tuyến trên
**
-Tràn dịch một bên, thường ở khớp
gối hoặc khớp háng.
* Đặc điểm: Dịch lỏng màu vàng chanh, dịch tiết, protein cao, nhuộm soi
trực tiếp có các tế bào bạch cầu, chủ yếu là tế bào lymphô.
** Nếu không chuyển được bắt đầu điều trị lao.
> 4 tuần
-
>80%
60–80%
-
-
Suy dinh dưỡng không cải
thiện sau 4 tuần
-
-
-
+
-
Biến dạng cột sống
-
-
-
-
+
Sưng đau xương khớp hoặc
có ổ dò
-
+
-
Tiêu chí
Thời gian mắc bệnh
Dinh dưỡng (cân nặng theo
tuổi)
Tiền sử lao gia đình
Tổng điểm ≥ 7 điểm- chấn đoán lao.
(-) : Âm tính, không ; (+): Dương tính, có
- Thời gian mắc bệnh: Được tính từ khi khởi bệnh đến thời điểm bệnh nhân
vào Bệnh viện Nhi TW
- Dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi): Theo biểu đồ tăng trưởng của viện dinh
dưỡng (WHO)
- Tiền sử lao gia đình: Những người sống cùng nhà với trẻ như: Ông, bà, bố,
mẹ, những người thân trong gia đình đã điều trị lao trong vòng 1 năm trở lại
- Test Tuberculin: xác định mức độ dị ứng đối với Tuberculin của cơ thể đã
bị nhiễm lao hay mắc lao có ý nghĩa hỗ trợ trong chẩn đoán, nhất là chẩn đoán
24
lao ở trẻ em khi phản ứng dương tính mạnh (≥ 15 mm đường kính cục phản
ứng với Tuberculin).
- Hạch to, sưng đau có hoặc không dò hạch: Thường gặp hạch ngoại biên
các màng, các tạng trong ổ bụng…
Lâm sàng: Có các dấu hiệu tràn dịch màng bụng (gõ đục vùng thấp
thay đổi theo tư thế, “sóng vỗ”, dấu hiệu gõ đục “ô bàn cờ” giai đoạn muộn,
…). Có thể sờ thấy các u cục, đám cứng trong ổ bụng. Có thể có dấu hiệu tắc
hoặc bán tắc ruột do các hạch dính vào ruột. Đôi khi còn thấy có hiện tượng
dò thành bụng, bàng quang.
Chẩn đoán: Dịch màng bụng do lao thường vàng chanh, đôi khi đục, tế
bào trong dịch màng bụng do lao thường ưu thế là bạch cầu lymphô. Siêu âm
giúp cho xác định các hình ảnh gợi ý lao màng bụng: hạch mạc treo to, hạch
sau màng bụng, dịch khư trú giữa các đám dính, …Soi màng bụng và sinh
thiết là kỹ thuật rất có giá trị cho chẩn đoán trong hầu hết các trường hợp.
- Thay đổi tri giác hoặc DNT bất thường: Lao thần kinh trung ương Thường
biểu hiện bệnh cảnh viêm màng não mạn tính khởi phát bằng đau đầu tăng
dần và rối loạn tri giác. Khám thường thấy có dấu hiệu cổ cứng và dấu hiệu
Kernig(+). Có thể có dấu hiệu tổn thương dây thần kinh sọ não và dấu hiệu
thần kinh khư trú. Các tổn thương tuỷ sống có thể gây ra liệt 2 chi dưới (liệt
cứng hoặc liệt mềm).
Chẩn đoán: Dựa vào bệnh cảnh lâm sàng và xét nghiệm dịch não tuỷ.
Dịch não tuỷ áp lực tăng, dịch có thể trong, vàng chanh, có khi hơi vẩn đục.
Bạch cầu tăng thường ít hơn 500 TB / mm 3 và bạch cầu lympho chiếm ưu thế.
Xét nghiệm sinh hoá thường cho thấy protein tăng và đường giảm. Xét
nghiệm soi trực tiếp tìm AFB có thể dương tính trong một số ít trường hợp,
nên làm phương pháp lắng cặn hoặc ly tâm với số lượng lớn dịch não tuỷ (ví